CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐẤU THẦU, BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN 1. Tổng quan về đấu thầu Từ khi nước ta tiến hành công cuộc đổi mới, nền kinh tế mở cửa, đấu thầu cũng bắt đầu xuất hiện và ngày càng đóng vai trò quan trọng bởi nó gắn liền với hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa dịch vụ có sự cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường. Sự ra đời và phát triển của hoạt động đấu thầu Đấu thầu là một trong những phương thức mua sắm hàng hóa, dịch vụ trong đời sống xã hội loài người. Nó ra đời và phát triển cùng với phương thức sản xuất phát triển dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất.
Cùng với sự phát triển của khoa học- công nghệ, sự cạnh tranh gay gắt và các cuộc khủng hoảng đã dẫn đến sự ra đời của chủ nghĩa tư bản độc quyền và chủ nghĩa tư bản nhà nước vào cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20. Độc quyền ra đời từ tự do cạnh tranh, sau đó đối lập với tự do cạnh tranh, nhưng không thủ tiêu tự do cạnh tranh mà làm cho tự do cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn. Hoạt động đấu thầu đã xuất hiện từ rất sớm nhưng luật lệ liên quan đến đấu thầu lại ra đời khá muộn và xuất hiện đầu tiên ở Anh. Ngày nay, chúng ta có thể tìm được các quy định về đấu thầu ở hầu hết các tổ chức quốc tế và quốc gia trên thế giới.
Riêng ở Việt Nam, sự hình thành của quy chế đấu thầu thể hiện qua 4 mốc thời gian chính như sau: - 12/02/1990: Quy chế đấu thầu trong xây dựng của Bộ Xây dựng ban hành - 16/04/1994: Quy chế đấu thầu đầu tiên của Việt Nam được ban hành (tư vấn, công trình xây dựng, máy móc, dự án) - Luật Đấu thầu năm 2005: Số 61 của Quốc Hội thông qua ngày 26/11/2005 - Luật Đấu thầu số 43/2013 ngày 26/11/2013 của Quốc Hội khóa XIII về Luật Đấu thầu 5 16/04/1994: Quy chế đấu thầu đầu Luật Đấu thầu số 12/02/1990: Quy tiên của Việt Luật Đấu thầu 43/2013 ngày chế đấu thầu Nam được ban năm 2005: Số 61 26/11/2013 của trong xây dựng hành ( tư vấn, của Quốc Hội Quốc Hội khóa của Bộ Xây thông qua ngày công trình xây XIII về Luật Đấu dựng ban hành dựng, máy móc, 26/11/2005 thầu dự án) Hình 1. Quá trình hình thành Luật Đấu thầu ở Việt Nam 1. Khái niệm về đấu thầu Có rất nhiều quan niệm khác nhau về đấu thầu nói chung (Public Procurement, Bidding, Tendering): Theo từ điển Bách khoa Việt Nam (Trung tâm biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam, xuất bản năm 1995): “Đấu thầu là phương thức giao dịch đặc biệt, theo đó người muốn xây dựng một công trình (người gọi thầu) công bố trước các yêu cầu và điều kiện xây dựng công trình để người nhận xây dựng công trình (người dự thầu) công bố giá mà mình muốn nhận. Người gọi thầu sẽ lựa chọn người chủ thầu nào phù hợp với điều kiện của mình và giá thấp hơn.
Phương thức đấu thầu được áp dụng tương đối phổ biến trong việc mua sắm tài sản và xây dựng các công trình tư nhân và Nhà nước”. Tuy nhiên, theo khái niệm này, đấu thầu dường như chỉ dành cho lĩnh vực xây lắp, chỉ là một phần trong những hoạt động đấu thầu ngày nay đang thực hiện. Luật Đấu thầu 2005 (29/11/2005) quy định: “Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của Bên mời thầu để thực hiện gói thầu của các dự án thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Đấu thầu trên cơ sở cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế. 6 Theo quy định tại Luật đấu thầu 2013 :“Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để kí kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư để kí kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế.
Như vậy, có thể thấy, đấu thầu là quá trình chủ đầu tư lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của mình. Trong đó, bên mua sẽ tổ chức đấu thầu để bên bán (các nhà thầu) cạnh tranh nhau. Mục tiêu của bên mua là có được các hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn các yêu cầu của mình về kĩ thuật, chất lượng và chi phí thấp nhất. Mục đích của nhà thầu là giành được quyền cung cấp mua hàng hóa, dịch vụ đó với giá đủ bù đắp các chi phí đầu vào và đảm bảo mức lợi nhuận cao nhất có thể.
Như vậy, bản chất của đấu thầu đã được xã hội thừa nhận như 1 sự cạnh tranh lành mạnh để được thực hiện 1 việc nào đó, một yêu cầu nào đó. Đặc điểm của hoạt động đấu thầu Hoạt động đấu thầu theo quan điểm của tác giả có 8 đặc điểm chính: - Đặc điểm thứ nhất: đấu thầu mang tính cạnh tranh gay gắt, trên thị trường chỉ có một người mua và nhiều người bán: Đấu thầu là quá trình mua bán phức tạp, tất cả những người tham gia phải tuân theo một quy trình gồm nhiều bước được quy định bởi một chính phủ hay một tổ chức nào đó. Vì vậy, số lượng người bán tham dự trong hoạt động đấu thầu lớn hơn hẳn các hoạt động mua bán khác. - Đặc điểm thứ hai: đấu thầu được tiến hành theo những điều kiện được qui định trước: Trên thị trường chỉ có người mua và người bán, người bán luôn phải tuân theo luật chơi của người mua, phải thực hiện và đáp ứng những yêu cầu mà người mua mong muốn hay cụ thể hơn là giải đề bài mà người mua đưa ra trong HSMT.
7 - Đặc điểm thứ ba: trong đấu thầu có rất nhiều loại giá khác nhau mà các bên bán phải phân biệt được: Ban đầu, bên mời thầu đưa ra một mức ngân sách có thể để người bán dựa vào đó giới thiệu những sản phẩm đạt đủ yêu cầu với mức giá thấp hơn hoặc bằng mức ngân sách. Mức ngân sách không phải là giá mua, nó là giá trần của sản phẩm thường gọi là giá gói thầu. Mỗi người bán sẽ đưa ra các mức giá khác nhau theo khả năng của mình. Mức giá cuối cùng của sản phẩm sẽ là mức giá của nhà thầu trúng thầu và được đưa vào ký kết hợp đồng chính thức.
- Đặc điểm thứ tư: đối tượng mua sắm trong đấu thầu thường chưa xác định chính thức. Bên mua đưa ra yêu cầu về sản phẩm dựa theo nhu cầu của mình nhưng họ không chỉ định rõ ràng sản phẩm đó phải là của nơi nào sản xuất, thương hiệu gì,… Bên dự thầu sẽ dựa vào những yêu cầu đó để xây dựng phương án cung cấp sản phẩm cụ thể. Đối tượng mua sắm chỉ được xác định khi hoạt động đấu thầu kết thúc. - Đặc điểm thứ năm: trong đấu thầu và thực hiện hợp đồng có rất nhiều các khoản đảm bảo cụ thể là bảo đảm dự thầu và bảo lãnh dự thầu Trên thực tế, việc tổ chức đấu thầu diễn ra phức tạp và đòi hỏi khá nhiều chi phí như lập hồ sơ mời thầu, thành lập tổ chuyên gia đấu thầu, tổ thẩm định, tổ chức lễ mở thầu và để đảm bảo việc tham dự thầu và thực hiện hợp đồng của nhà thầu là nghiêm túc, có trách nhiệm, … nên những khoản đặt cọc này nhằm đảm bảo cho cuộc thầu thành công và bên mời thầu không bị thiệt khi nhà thầu bỏ cuộc giữa chừng.
- Đặc điểm thứ sáu: Tiêu chí lựa chọn Trong hoạt động đấu thầu, tiêu chí lựa chọn tiên quyết là kỹ thuật, chất lượng và tiến độ. Tất cả các hồ sơ dự thầu đều được đánh giá kỹ càng về kỹ thuật, chất lượng, tiến độ, những nhà thầu nào vượt qua được yêu cầu kỹ thuật, 8 chất lượng, tiến độ mới xem xét tới giá cả, tài chính. Như vậy, bản thân hoạt động đấu thầu đã thể hiện chất lượng của hoạt động mua bán trao đổi. - Đặc điểm thứ bảy: Hoạt động đấu chịu sự điều chỉnh của nhiều pháp luật: Luật đấu thầu, Ngân sách, Đầu tư, Xây dựng, Thương mại, Thuế, Dân sự, Hình sự,… - Đặc điểm thứ tám: Trong đấu thầu, ngoài người mua (BMT), người bán (NT) còn có sự hiện diện của bên thứ 3 đó là Bên tư vấn 1.
Vai trò của đấu thầu - Vai trò thứ nhất: hoạt động đấu thầu mang lại lợi ích cho bên mời thầu – người mua Đấu thầu giúp cho người mua tối ưu hóa hoạt động mua sắm. Người mua có thể mua được hàng hóa, dịch vụ mình cần một cách tốt nhất, đúng yêu cầu về chất lượng, giá cả, bảo hành và phù hợp với khả năng tài chính hay nói cách khác là sử dụng đồng tiền của mình một cách hiệu quả nhất. Người mua còn có điều kiện phát hiện và tiếp cận được với những nguồn cung cấp mới. Bằng cách tổ chức đấu thầu cạnh tranh rộng rãi, bên mời thầu có thể tìm được những nhà thầu cung cấp tiềm năng tốt hơn những đối tác truyền thống, giúp chủ đầu tư tiết kiệm chi phí mua sắm hàng hóa, dịch vụ.
Bên mua còn có thêm cơ hội để tìm hiểu, cập nhật các kiến thức pháp luật mới phục vụ cho việc tham gia vào quy trình đấu thầu. Thông qua hoạt động đấu thầu nghiêm túc và minh bạch, bên mua cũng làm tăng được uy tín của mình đối với các nhà thầu. Từ đó, bên mua sẽ có thể tổ chức đấu thầu với sự quan tâm và tham dự của các nhà thầu tốt và có năng lực. - Vai trò thứ hai: đấu thầu mang lại lợi ích cho bên dự thầu.
Nếu mục đích của bên mời thầu khi tổ chức đấu thầu là mua được sản phẩm đáp ứng yêu cầu với giá hợp lý nhất thì mục địch của các nhà thầu là bán được sản phẩm với giá mình muốn với số lượng lớn. Đấu thầu cũng là động lực để nhà thầu phải phát huy tối đa khả năng cạnh tranh của mình bằng cách nâng 9 cao chất lượng sản phẩm, tạo ra sản phẩm mới hay hạ giá sản phẩm.