Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NỢ CÔNG VÀ KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG 1. Những khái niệm : 1.1 Nợ công: Nợ công hay nợ chính phủ là vấn đề được rất nhiều các nhà kinh tế học nghiên cứu và đưa ra nhiều quan điểm khác nhau. Theo quan điểm truyền thống về nợ công, đại diện là Keynes cho rằng việc vay nợ của chính phủ làm giảm tiết kiệm của quốc gia và mức tích lũy vốn vì số thuế cắt giảm được bù đắp bằng cách vay nợ nên khuyến khích thế hệ hiện tại tiêu dùng nhiều hơn. Số người thất nghiệp giảm đi mặc dù lạm phát có thể cao hơn.
Tuy nhiên, vay nợ để lại gánh nặng nợ cho thế hệ tương lai. Các thế hệ tương lai phải sống trong một quốc gia vay nợ nước ngoài lớn hơn và vốn tích lũy từ nội bộ nhỏ hơn. Quan điểm kinh tế học vĩ mô cổ điển mà tiêu biểu là Ricardo Barro cho rằng, biện pháp cắt giảm thuế được bù đắp bằng nợ chính phủ không kích thích chi tiêu trong ngắn hạn vì không làm tăng thu nhập thường xuyên của các cá nhân mà chỉ làm dịch chuyển thuế từ hiện tại sang tương lai và việc tài trợ bằng vay nợ sẽ không gây ra những tác động thực sự đối với nền kinh tế.Việc chấp nhận giảm thu trong thời kì suy thoái và tăng thu trong giai đoạn hưng thịnh và vay nợ cũng là cách để dịch chuyển thuế để giảm thiểu những tác động tiêu cực của thuế đối với chu kì kinh doanh. Như vậy, ngay từ rất sớm vấn đề vay nợ của chính phủ đã được đề cập đến.
Mặc dù vậy khái niệm về nợ công vẫn là một khái niệm chưa có sự thống nhất. Trong kinh tế học vĩ mô, nợ công được định nghĩa là “ mức tích tụ của những cái mà chính phủ vay mượn để trang trải cho thâm hụt trong quá khứ”. 8 Theo từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia, nợ công là tổng giá trị các khoản tiền vay của chính quyền thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách nhà nước. Theo hệ thống quản lí nợ và phân tích tài chính của hội nghị của Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD), nợ công bao gồm các nghĩa vụ nợ của ngân hàng trung ương, các đơn vị trực thuộc chính phủ (bao gồm các doanh nghiệp nhà nước) ở tất cả các cấp chính quyền.
Theo quan điểm của ngân hàng thế giới (WB) thì nợ công được hiểu toàn bộ những khoản nợ của chính phủ và những khoản nợ được chính phủ bảo lãnh. Trong đó: - Nợ của chính phủ là toàn bộ các khoản nợ trong nước và nước ngoài của chính phủ và các đại lí của chính phủ; các tỉnh, thành phố hoặc các tổ chức chính trị trực thuộc chính phủ và các đại lí của các tổ chức này, các doanh nghiệp nhà nước. - Nợ của chính phủ bảo lãnh là những khoản nợ trong nước và nước ngoài của khu vực tư nhân do chính phủ bảo lãnh. Theo quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), nợ công là nghĩa vụ trả nợ của khu vực công.
Khu vực công bao gồm khu vực chính phủ và khu vực các tổ chức công. Trong đó: - Khu vực chính phủ gồm các chính phủ trung ương, chính quyền liên bang, chính quyền địa phương. - Khu vực các tổ chức công gồm các tổ chức công tài chính và phi tài chính. Theo luật quản lí nợ công của Việt Nam được ban hành năm 2009 thì nợ công bao gồm nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương.
- Nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài được ký kết, phát hành nhân danh nhà nước, nhân danh chính phủ 9 hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài Chính ký kết, phát hành, ủy quyền phát hành theo quy định của pháp luật. Nợ chính phủ không bao gồm các khoản nợ do ngân hàng nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kì. - Nợ được chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức kinh tế trong và ngoài nước mà chính phủ đứng ra bảo lãnh. - Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phát hành, kí kết hoặc ủy quyền phát hành.
Như vậy, các khoản vay như vay vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), phát hành trái phiếu chính phủ (trong và ngoài nước), trái phiếu công trình đô thị, hay một tập đoàn kinh tế vay nợ nước ngoài được chính phủ bảo lãnh đều được xem là nợ công. Tuy có nhiều cách tiếp cận khác nhau về nợ công, nhưng về cơ bản nợ công là tổng giá trị các khoản tiền mà chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay nhằm tài trợ cho các hoạt động kinh tế và bù đắp sự thiếu hụt ngân sách. Khủng hoảng nợ công Thuật ngữ khủng hoảng nợ công là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong lĩnh vực tài chính tiền tệ. Có rất nhiều các nghiên cứu, các học thuyết đưa ra nhằm tìm hiểu quá trình hình thành của một cuộc khủng hoảng nợ công cũng như cách thức dự báo và ngăn chặn nó.
Tuy nhiên,cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về khủng hoảng nợ công. Theo Đại từ điển Tiếng việt- nhà xuất bản văn hóa thông tin (1998), thuật ngữ “ khủng hoảng” là tình trạng rối loạn, mất sự cân bằng bình ổn do nhiều mâu thuẫn chưa được giải quyết hoặc khủng hoảng là tình trạng thiếu hụt gây mất cân bằng nghiêm trọng. 10 Theo từ điển Anh – Việt của Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, “khủng hoảng” là thời gian rất khó khăn hoặc nguy hiểm, thời điểm quyết định trong ốm đau, bệnh tật, cuộc đời, lịch sử…. Theo IMF, khủng hoảng nợ là việc một quốc gia không có khả năng chi trả các khoản nợ của mình hay bị vỡ nợ.
Tuy nhiên định nghĩa này chỉ đúng trong những năm 1980, thời kì mà nhiều quốc gia không thể thanh toán được các khoản vay ngân hàng của họ. Đến những năm 1990, khi mà thị trường trái phiếu chính phủ nổi lên thì định nghĩa này không còn hoàn toàn chính xác. Dựa trên nhiều nghiên cứu của IMF, hai nhà kinh tế Andrea Pescatory và Amadou N.Sy đã tổng hợp ra các hình thức chủ yếu của khủng hoảng nợ. Khủng hoảng nợ xảy ra khi: một quốc gia bị vỡ nợ; có khoản nợ xấu lớn; có khoản vay quy mô lớn từ IMF hoặc có điềm báo tai họa.
Thứ nhất, khủng hoảng nợ xảy ra khi một quốc gia bị vỡ nợ. Định nghĩa này được các tổ chức tín dụng tập trung xây dựng dựa vào khả năng không chi trả được nợ với các dấu hiệu như: Có sự chậm trễ trong việc thanh toán lãi hoặc gốc, ngay cả khi việc thanh toán chậm được thanh toán trong thời gian ân hạn, không có khả năng chi trả khi việc thanh toán nợ hàng năm theo lịch trình không được thực hiện vào ngày đáo hạn, hoặc khi đề nghị hoán đổi khoản nợ mới bao hàm những điều kiện kém thuận lợi hơn so với việc phát hành ban đầu…. Thứ hai, khủng hoảng nợ xảy ra khi có khoản nợ xấu hơn. Có thể là: - Khoản nợ xấu về gốc hoặc lãi về nghĩa vụ bên ngoài đối với các chủ nợ thương mại (ngân hàng hoặc người nắm giữ trái phiếu) lớn hơn 5% tổng dư nợ thương mại - Có thỏa thuận gia hạn hoặc cơ cấu lại nợ với các chủ nợ thương mại được liệt kê trong báo cáo tài chính phát triển của ngân hàng thế giới.
11 Nếu xác định theo tiêu chí này thì đã có khoảng 54 cuộc khủng hoảng nợ xảy ra. Các cuộc khủng hoảng này có xu hướng tập trung vào những năm 1980, khi hầu hết các nước Mỹ La Tinh và một số nước Châu Phi không thể thanh toán các khoản vay ngân hàng quá mức của họ trong những năm 1970. Thứ ba, khủng hoảng nợ xảy ra khi có các khoản vay quy mô lớn từ IMF, một quốc gia đang trải qua khủng hoảng nợ nếu: Quốc gia đó được xếp vào trường hợp vỡ nợ như trong định nghĩa của Andrea Pescatory và Amadou N. Hoặc nhận được một khoản cho vay lớn (có điều kiện) vượt quá 100% hạn mức ấn định trước từ IMF.
Trong các định nghĩa này thì định nghĩa thứ 3 là định nghĩa được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới. Nhìn chung, khủng hoảng nợ là tình trạng một quốc gia không thể chi trả được các khoản nợ của mình, phải đề nghị thương thảo lại về các thỏa thuận vay nợ, hoàn trả gốc và/hoặc lãi và phải nhận một khoản tài trợ chính thức có quy mô lớn từ IMF.2 Những dấu hiện nhận diện khủng hoảng nợ công: Có nhiều cách để nhận biết dấu hiệu của khủng hoảng nợ công, tuy nhiên, cách phổ biến và lượng hóa được vẫn là cách đo xem khoản nợ này bằng bao nhiêu phần trăm so với tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Một tỉ lệ nợ công trên GDP cao thường được xem là một dấu hiệu báo động rõ nét nhất đối với khủng hoảng nợ công. Vậy tỷ lệ nợ công trên GDP như thế nào thì sẽ trở thành dấu hiệu nhận biết của khủng hoảng nợ công? 1.
Nhận diện khủng hoảng nợ công theo quan điểm của Reihart và Rogoff (2010) Dựa trên số liệu thu thập được từ 44 nền kinh tế phát triển và mới nổi trong khoảng hai thế kỉ, Reihart và Rogoff (2010) đã đưa ra thuật ngữ ngưỡng nợ nguy hiểm. Ngưỡng nợ nguy hiểm được hiểu là khi quốc gia có khối lượng nợ (tính trên phần trăm GDP) vượt quá ngưỡng này thì nền kinh tế quốc gia 12 gặp phải vấn đề trong việc thanh toán các khoản nợ, sẽ đứng trước nguy cơ khủng hoảng nợ công đồng thời gặp nhiều rủi ro bất ổn vĩ mô. Ngưỡng nợ nguy hiểm được hai nhà khoa học tính toán và chỉ ra là: Tổng số nợ công trên GDP bằng 90%. Các nhà khoa học cũng chỉ ra là đối với các nền kinh tế đang phát triển, nếu trong tổng số nợ công, nợ nước ngoài vượt 60% GDP, thì nền kinh tế đó, quốc gia đó rơi vào ngưỡng nợ nguy hiểm.