ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay ngành chăn nuôi là nhân tố quan trọng trong nền kinh tế của Việt Nam, trong đó chăn nuôi lợn đóng một vai trò rất quan trọng. Nó cung cấp nguồn thực phẩm ngày càng cao cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Ở nước ta thịt lợn chiếm từ 75-85% trong tổng lượng thịt tiêu thụ, còn trên thế giới tỉ lệ này khoảng 40% và đang có xu hướng tăng lên. Ngành chăn nuôi lợn đang được phát triển theo hướng công nghiệp hóa.
Ngành chăn nuôi lợn đã và đang phát triển cả về số lượng, chất lượng đàn lợn cũng như cơ sở vật chất phục vụ chăn nuôi, tất cả vì mục đích nâng cao chất lượng sản phẩm cho nhu cầu tiêu dùng của người dân trong nước cũng như trong xuất khẩu. Tuy nhiên, với số lượng đàn nuôi ngày càng lớn, mật độ lợn trong chuồng nuôi ngày càng đông cộng với ảnh hưởng liên tục từ các yếu tố khác như: thời tiết, khí hậu, nguồn nước, không khí. nên vấn đề dịch bệnh có những biến đổi khó lường, bệnh trên lợn cũng diễn biến ngày càng phức tạp. Đặc biệt lợn con giai đoạn sau cai sữa từ 21 đến 70 ngày tuổi dễ mắc nhiều bệnh nên quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng ở giai đoạn này ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển và sinh trưởng của lợn sau này.
Biện pháp hiệu quả nhất chính là thực hiện vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng, cùng với việc sử dụng vacxin phòng bệnh và sử dụng các loại kháng sinh để điều trị bệnh một cách kịp thời và hợp lý để đạt hiệu quả kinh tế cao. Giống GF24 có nhiều đặc điểm ưu việt như khả năng thích nghi cao với mọi điều kiện chăn nuôi ngay từ giai đoạn đầu nhập trại; cơ thể mang gen kháng E.coli chủng F18; năng suất ổn định ngay từ lứa đẻ đầu tiên; tỉ lệ chọn nuôi trung bình là 13 con /lứa/ nái. Thời gian lên giống nhanh từ 3-5 ngày. Trong điều kiện chăn nuôi tại trại GREENFEED, lợn nái có thể đạt từ 31 - 32 con cai sữa/nái/năm; lợn con phát triển đồng đều, khỏe mạnh, giữ được thể trạng tốt; lợn con nuôi thịt tăng trưởng nhanh, chất lượng quầy thịt đạt hiệu quả kinh tế cao.
1 Với lợn đực giống ♂399 và ♂337 có đặc điểm sinh sản nổi bật như: tuổi khai thác tinh ở 32 tuần tuổi, bắt đầu tập nọc lúc 28 tuần, trong năm đầu tiên lấy 1 lần/ tuần, còn trên 1 năm tuổi 2 lần/ tuần. Hiện nay, công ty Green Feed đang độc quyền giống lợn PIC của Mỹ tại Việt Nam. Chất lượng con giống đảm bảo, độ tin cậy cao, mang nhiều đặc điểm tốt của giống đem lại hiệu quả kinh tế lớn cho công ty. Với phẩm giống như vậy, lợn con sau cai sữa có sức đề kháng tốt, tỉ lệ đồng đều cao, khả năng thích nghi với môi trường nhanh, mức tăng trọng rất tốt, tỉ lệ chết sau cai sữa thấp ≤ 2%, tỉ lệ chết ở lợn thịt (từ tuần tuổi thứ 10) ≤ 2%.
Trên cơ sở nuôi thích nghi và nhân giống ♂GF399 hoặc ♂GF337 X ♀GF24 để theo dõi và đánh giá sức sản xuất, khả năng sinh trưởng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn con sau cái sữa giai đoạn 28 – 70 ngày tuổi tại trại chăn nuôi công ty GreenFeed Hưng Yên”. MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU * Mục đích Khảo sát quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn con sau cai sữa từ 28 đến 70 ngày tuổi. Theo dõi sự sinh trưởng của đàn lợn con sau cai sữa từ 28 đến 70 ngày tuổi từ đó: - Đánh giá khả năng sinh trưởng. - Xác định được tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa.
- Đánh giá được tình hình bệnh tật. - Đề xuất những giải pháp, phương thức chăn nuôi phù hợp sao cho đạt hiệu quả kinh tế cao nhất. * Yêu cầu - Theo dõi thu thập đầy đủ và chính xác các số liệu liên quan đến khả năng sinh trưởng và phát triển của lợn con nuôi tại trang trại. - Nắm vững quy trình, cách thức chăn nuôi tại trại.
- Các số liệu trung thực, khách quan. 3 Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. NGUỒN GỐC, ĐẶC DIỂM NGOẠI HÌNH GIỐNG LỢN GF24 Lợn GF24 là giống heo từ Mỹ của tập đoàn PIC - tập đoàn con giống số 1 thế giới, hiện nay chúng được nuôi rộng khắp các nước trên thế giới vì cho năng suất cao và tỷ lệ nạc cao, ít mỡ. CƠ SỞ KHOA HỌC 2.
Đặc điểm sinh trưởng lợn con Lợn con sau sinh có tốc độ sinh trưởng rất nhanh. Tốc độ sinh trưởng được thể hiện thông qua sự tăng về khối lượng cơ thể. Thông thường khối lượng lợn con lúc 7-10 ngày tuổi tăng gấp 3 lần so với lúc sơ sinh, 26 ngày tuổi tăng gấp 4 lần khối lượng sơ sinh, 35 ngày tuổi tăng gấp 5 lần khối luợng sơ sinh và đến 60 ngày tuổi gấp 10-15 lần khối luợng sơ sinh (Nguyễn Thiện và Võ Trọng Hốt, 2007). Khối luợng lợn con đạt được ở các thời điểm sơ sinh, cai sữa, xuất chuồng có mối tương quan thuận với nhau khá chặt chẽ, vì vậy khối lượng sơ sinh càng cao thì có khả năng khối lượng lúc cai sữa cao (Vũ Đình Tôn và Trần Thị Nhuận, 2005).
Để lợn con tăng trọng nhanh, khả năng tích lũy nạc cao và có các đặc điểm tốt như tỷ lệ sống cao, tiêu tốn thức ăn thấp thì người chăn nuôi cần phải nuôi dưỡng, chăm sóc đúng kỹ thuật. Khả năng điều tiết thân nhiệt của lợn con Khả năng điều tiết thân nhiệt của gia súc non rất kém. Do đó, lợn con rất nhạy cảm với sự thay đổi của khí hậu bên ngoài, đặc biệt là nhiệt độ lạnh dễ làm lợn con bị bệnh. Theo Trần Thị Dân (2006), cho biết gia súc non từ 15-20 ngày tuổi thân nhiệt mới ổn định.
Theo Nghiêm Khánh (1973), cơ quan điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh, lớp mỡ dưới da ít nên lợn con rất dễ bị ảnh hưởng bởi thời tiết khí hậu, 4 trong đó nhiệt độ và độ ẩm là hai nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất đến sức khỏe của lợn. Khi còn trong cơ thể mẹ, sự phát triển của bào thai được xác định do thân nhiệt của lợn mẹ. Sau khi sinh, cơ thể lợn con chưa thể bù đắp được nhiệt lượng vừa mất đi nên cơ thể dễ bị lạnh và phát sinh bệnh tật. Khả năng điều tiết nhiệt ở lợn con trong 3 tuần tuổi đầu còn rất kém do thân nhiệt chưa ổn định.
Nguyên nhân chủ yếu do lớp mỡ dưới da còn mỏng, lượng mỡ và glycogen được dự trữ trong cơ thể còn ít nên khả năng cung cấp năng lượng để chống rét bị hạn chế. Mặt khác, lông lợn con thưa nên khả năng giữ nhiệt còn kém. Sau 3 tuần tuổi, thân nhiệt lợn con mới tương đối ổn định (39,0-39,5℃), khả năng điều hòa thân nhiệt tốt dần lên để đáp ứng với môi trường bên ngoài. Nhiệt độ môi trường thích hợp đối với: lợn con lúc sơ sinh là 35-37 , sau đó giảm dần 0.5 mỗi ngày sau đó với mùa đông, 1℃ mỗi ngày với mùa hè với độ ẩm không khí khoảng 60%, riêng nhiệt độ dưới chụp suởi của lợn con phải đạt 32- 38 , heo con sẽ tự chọn chỗ nằm.
Đặc điểm tiêu hóa của lợn Lợn là gia súc dạ dày đơn. Cấu tạo bộ máy tiêu hoá của lợn bao gồm miệng, thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già và cuối cùng là hậu môn. Khả năng tiêu hóa của lợn với các loại thức ăn cao thường có tỷ lệ từ 80-85% tùy từng loại thức ăn. Quá trình tiêu hoá -Miệng: thức ăn ở miệng được cắt nghiền nhỏ bởi động tác nhai và thức ăn trộn với nước bọt làm trơn để được nuốt trôi xuống dạ dày.
Nước bọt chứa phần lớn là nước (tới 99%) trong đó chứa enzym amylase có tác dụng tiêu hoá tinh bột, tuy nhiên thức ăn trôi xuống dạ dày rất nhanh nên việc tiêu hoá tinh bột xảy ra nhanh ở miệng, thực quản và tiếp tục ở dạ dày khi thức ăn chưa trộn với dịch dạ dày. Độ pH của nước bọt khoảng 7,3. -Dạ dày: Dạ dày của lợn trưởng thành có dung tích khoảng 8 lít, chức năng như là nơi dự trữ và tiêu hoá thức ăn. Thành dạ dày tiết ra dịch dạ dày chứa chủ yếu 5 là nước với enzym pepsin và axit chlohydric (HCl).
Men pepsin chỉ hoạt động trong môi trường axit và dịch dạ dày có độ pH khoảng 2,0. Pepsin giúp tiêu hoá protein và sản phẩm là polypeptit và ít axit amin. -Ruột non: Ruột non có độ dài khoảng 18 – 20 mét. Thức ăn sau khi được tiêu hoá ở dạ dày chuyển xuống ruột non được trộn với dịch tiết ra từ tá tràng, gan và tụy – thức ăn chủ yếu được tiêu hoá và hấp thụ ở ruột non với sự có mặt của mật và dịch tuyến tụy.
Mật được tiết ra từ gan chứa ở các túi mật và đổ vào tá tràng bằng ống dẫn mật giúp cho việc tiêu hoá mỡ. Tuyến tụy tiết dịch tụy có chứa men trypsin giúp cho việc tiều hoá protein, men lipase giúp cho tiêu hoá mỡ và men diastase giúp tiêu hoá carbohydrate. Ngoài ra ở phần dưới của ruột non còn tiết ra các men maltase, saccharose và lactase để tiêu hoá carbohydrate. Ruột non cũng là nơi hấp thụ các chất dinh dưỡng đã tiêu hoá được, nhờ hệ thống lông nhung trên bề mặt ruột non mà bề mặt tiếp xúc và hấp thu chất dinh dưỡng tăng lên đáng kể.
-Ruột già: Ruột già chỉ tiết chất nhầy không chứa men tiêu hoá. Chỉ ở manh tràng có sự hoạt động của vi sinh vật giúp tiêu hoá carbohydrate, tạo ra các axit béo bay hơi, đồng thời vi sinh vật cũng tạo ra các vitamin K, B. Tiêu hóa ở xoang miệng Amylase nước bọt có hoạt tính cao ở lợn con cho đến 21 ngày tuổi. Tùy theo lượng thức ăn và lượng sữa tiết ra khác nhau, thức ăn có phản ứng axit yếu và khô thì nước bọt chủ yếu để tẩm ướt và làm mềm thức ăn.
Lượng nước bọt thay đổi tùy theo số lần cho ăn, chất lượng thức ăn. Nếu lợn con ăn chỉ một loại thức ăn kéo dài sẽ làm tăng nhiệm vụ cho một tuyến, gây ức chế, lợn ít thèm ăn. Ăn nhiều loại thức ăn khác nhau, cả hai tuyến hoạt động, không gây ức chế. Nếu cho ăn nhiều loại thức ăn đổi bữa thì lợn sẽ thèm ăn, tiết nước bọt liên tục, giúp tiêu hóa tốt thức ăn.
Tiêu hóa ở dạ dày Cơ quan tiêu hóa của lợn con chưa được hoàn thiện do một số enzym tiêu hóa thức ăn chưa có hoạt tính mạnh, đặc biệt là ở 3 tuần đầu.