mở đầu các hoạt động điều tra. Đây là giai đoạn tố tụng hình sự cơ bản và quan trọng, phải có quyết định khởi tố vụ án trƣớc, rồi mới đƣợc tiến hành các hoạt động điều tra, trừ một số trƣờng hợp đặc biệt. - Khởi tố vụ án hình sự là sự phản ứng nhanh chóng từ phía Nhà nƣớc đối với mỗi hành vi phạm tội nhằm góp phần phát hiện, điều tra và xử lý một cách có căn cứ và đúng pháp luật hành vi phạm tội và ngƣời phạm tội, đồng thời không chỉ là chức năng quan trọng trong hoạt động tƣ pháp hình sự mà còn là phƣơng tiện cơ bản để thực hiện tốt nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm trong thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự, tránh bỏ lọt tội phạm. - Khởi tố vụ án hình sự cũng góp phần loại trừ một thái cực khác trong hoạt động tƣ pháp hình sự, ngăn chặn kịp thời việc thông qua quyết định khởi tố vụ án hình sự một cách thiếu cân nhắc kỹ, vội vàng và do vậy, có thể sẽ kéo một loạt hậu quả tiêu cực tiếp theo trong việc truy cứu tố tụng hình sự ở các giai đoạn tố tụng hình sự tiếp theo sau (nhƣ: Điều tra không có căn cứ đối với những hành vi không chứa đựng dấu hiệu của tội phạm hoặc là không diễn ra trong thực tế khách quan, khám xét, bắt, giam giữ, buộc tội, xét xử một cách vô căn cứ và trái pháp luật, làm oan những ngƣời vô tội…).
- Khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự cơ bản và quan trọng để tăng cƣờng pháp chế, bảo vệ các quyền và tự do của công dân trƣớc khi khởi tố bị can và áp dụng các biện pháp nghiệp vụ của giai đoạn điều tra, cùng với các giai đoạn tố tụng hình sự khác góp phần có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm trong toàn xã hội. - Khởi tố vụ án cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động tố tụng 14 z tiếp theo. Do vậy, hoạt động điều tra chỉ tập trung vào điều tra làm rõ các hành vi phạm tội và ngƣời thực hiện tội phạm mà không còn phải kiểm tra, xác minh để xác định dấu hiệu tội phạm nữa. Khái quát chung tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ Các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ là những hành vi nguy hiểm cho xã hội đƣợc quy định trong Bộ luật hình sự do ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách vô ý, xâm phạm trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ, gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của ngƣời khác.
Khái niệm trên bao gồm dấu hiệu của các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ, là cơ sở pháp lý để xem xét xác định hành vi nào là tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ. Dấu hiệu cụ thể của các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ bao gồm: Dấu hiệu thứ nhất của tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ trƣớc hết phải là “hành vi nguy hiểm cho xã hội”. Hành vi xâm phạm trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ nguy hiểm cho xã hội là hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đƣờng bộ gây thiệt hại cho xã hội hoặc hành vi tạo khả năng gây ra các thiệt hại cho các quan hệ xã hội đƣợc luật hình sự bảo vệ. Các thiệt hai do hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đƣờng bộ gây ra cho các quan hệ xã hội bao gồm: tính mạng, sức khỏe, tài sản ngƣời khác.
Do vậy, trƣờng hợp vi phạm các quy định về an toàn giao thông đƣờng bộ gây thiệt hại cho chính bản thân ngƣời vi phạm mà không gây thiệt hai cho tính mạng, tài sản của ngƣời khác, thì không bị coi là tội phạm. Dấu hiệu thứ hai của tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ là “đƣợc quy định trong bộ luật hình sự” tại Điều 2 Bộ luật Hình sự quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Do vậy, chỉ một ngƣời nào phạm một trong các tội sau đây đƣợc 15 z quy định trong Bộ luật hình sự mới phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ. Tức là không thể có tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ nếu nhƣ hành vi phạm tội đó chƣa đƣợc mô tả tại một điều luật cụ thể ở phần các tội phạm của bộ luật hình sự.
Dấu hiệu thứ ba của tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ là “tội phạm. do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện”. Ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự là con ngƣời cụ thể đạt độ tuổi do pháp luật hình sự quy định, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Điều 12 Bộ luật hình sự quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nhƣ sau: “người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.
Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”. Năng lực trách nhiệm hình sự đƣợc Nhà nƣớc ta quy định theo phƣơng pháp loại trừ tức là khẳng định tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là gì và nếu không phải tình trạng đó, thì là tình trạng có năng lực trách nhiệm hình sự. Theo quy định tại điều 13 Bộ luật Hình sự, ngƣời thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình là ngƣời không có năng lực trách nhiệm hình sự. Họ không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Đối với những ngƣời này, Nhà nƣớc sẽ áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Tuy nhiên, để trừng trị những ngƣời phạm tội do say rƣợu hoặc dùng chất kích thích mạnh, Nhà nƣớc vẫn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ. Mặc dù trong thực tế có ngƣời do say rƣợu hoặc do dùng chất kích thích mạnh mà không nhận thức đƣợc hành vi mà họ thực hiện là nguy hiểm cho xã hội hoặc mất khả năng điều khiển hành vi của mình trong khi phạm tội. Cho nên, tại điều 14 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội trong tình trạng 16 z say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự” [27, Điều 14].
Tại điểm b khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 còn quy định phạm tội thuộc một trong các trƣờng hợp sau đây “b. Trong khi say rượu hoặc do dùng chất kích thích mạnh khác”, nay tại điểm b khoản 2 điều 202 Bộ luật hình sự đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2009 cũng đƣợc quy định phạm tội thuộc một trong các trƣờng hợp sau đây “b, trong tình trạng sử dụng bia rượu mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng” [27] là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt đối với tội vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ. Dấu hiệu thứ tƣ của tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ là “tính có lỗi của tội phạm”. Lỗi là thái độ tâm lý của ngƣời thực hiện tội phạm đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ thực hiện và đối với hậu quả cho xã hội đối với hành vi đó gây ra.
Lỗi của các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ đƣợc thực hiện dƣới hình thức vô ý. Dấu hiệu thứ năm của tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ là “tính phải chịu hình phạt” của tội phạm. Hình phạt là biện pháp cƣỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nƣớc nhằm tƣớc bỏ hoặc hạn chế một số quyền, lợi ích của ngƣời phạm tội. Mục đích của hình phạt là trừng trị ngƣời phạm tội; giáo dục họ trở thành ngƣời công dân có ích cho xã hội; ngăn ngừa họ phạm tội mới và giáo dục ngƣời khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
Qua phân tích các dấu hiệu của tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ, có thể đƣa ra khái niệm tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ nhƣ sau: tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách vô ý xâm phạm 17 z trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trong cho sức khỏe, tài sản của người khác. Vi phạm trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ là những hành vi vi phạm pháp luật, những hành vi vi phạm đó có nhiều loại khác nhau, gây ra thiệt hại ở nhiều mức khác nhau. Theo Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13 tháng 11 năm 2013 của Chính Phủ và Bộ luật hình sự năm 1999 thì các hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự [8]. Khái niệm và đặc điểm khởi tố vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ Khái niệm: Khởi tố vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ là hoạt động của Cơ quan có thẩm quyền, được thực hiện khi mà một người có những hành vi theo mô tả của các điều 202, 203, 204, 205 Bộ luật hình sự năm 1999 và những hành vi này thỏa mãn dấu hiệu về mặt hậu quả để làm căn cứ khởi tố vụ án hình sự.
Khởi tố vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ bắt đầu từ khi Cơ quan có thẩm quyền nhận đƣợc những thông tin đầu tiên về hành vi phạm tội và kết thúc bằng quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự liên quan đến hành vi đó.