Tổng quan nghiên cứu

Huyện Thường Tín thuộc tỉnh Hà Tây cũ (nay là thành phố Hà Nội) có tổng diện tích tự nhiên 127,59 km2, dân số năm 2007 đạt 211.667 người, trong đó lực lượng trong độ tuổi lao động chiếm 51,7% với 109.601 người. Được định vị là trung tâm tiểu thủ công nghiệp phía Nam Thủ đô, Thường Tín nổi danh là đất trăm nghề với 126 làng có nghề, bao gồm 43 làng nghề truyền thống được Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tây cấp bằng công nhận. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là quá trình Đảng bộ huyện Thường Tín lãnh đạo khôi phục, củng cố và phát triển hệ thống làng nghề truyền thống trong thời kỳ đổi mới và hội nhập kinh tế. Mục tiêu nghiên cứu nhằm làm sáng rõ chủ trương, đường lối và các giải pháp chỉ đạo thực tiễn của cấp ủy Đảng địa phương, qua đó tổng kết những bài học lịch sử có giá trị thực tiễn sâu sắc. Phạm vi nghiên cứu giới hạn trên địa bàn huyện Thường Tín trong khoảng thời gian 17 năm, từ dấu mốc tái lập tỉnh Hà Tây ngày 1 tháng 10 năm 1991 đến thời điểm mở rộng địa giới hành chính Thủ đô ngày 1 tháng 8 năm 2008. Kết quả lãnh đạo đã thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế địa phương đạt 14,3% vào năm 2007, đưa tỷ trọng công nghiệp - xây dựng chiếm 46% và thương mại - dịch vụ chiếm 30%, trong khi nông nghiệp giảm còn 24%, giải quyết việc làm tại chỗ cho hơn 50% lao động nông nhàn và nâng mức thu nhập bình quân đầu người lên 9,2 triệu đồng/năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế nhiều thành phần, cùng đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của Đảng Cộng sản Việt Nam qua Nghị quyết Trung ương 7 khóa VII (năm 1994) và Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX (năm 2002). Mô hình nghiên cứu phân tích sự tương tác giữa vai trò lãnh đạo của Đảng bộ với động lực tự chủ của kinh tế hộ gia đình và kinh tế tư nhân. Hệ thống khái niệm chủ đạo được chuẩn hóa theo quy chuẩn pháp lý, bao gồm: Làng nghề truyền thống theo Thông tư 116/2006/TT-BNN và Quyết định 1492/1999/QĐ-UB của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tây (quy định nghề hình thành trên 50 năm, tối thiểu 50% tổng số hộ tham gia sản xuất và doanh thu từ nghề chiếm trên 50% tổng giá trị sản xuất); Nghề thủ công mỹ nghệ; Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn; và Hiện đại hóa công nghệ truyền thống.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc từ khóa VI đến khóa X, các Nghị quyết chuyên đề của Tỉnh ủy Hà Tây như Nghị quyết 09-NQ/TU (năm 1994), Nghị quyết 01-NQ/TU (năm 1996), cùng hệ thống báo cáo lưu trữ của Huyện ủy và Ủy ban nhân dân huyện Thường Tín giai đoạn 1991 - 2008. Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn diện 126 làng có nghề trên địa bàn 28 xã và 1 thị trấn; trong đó phương pháp chọn mẫu điển hình được áp dụng dựa trên việc phân chia 3 tiểu vùng kinh tế để chọn ra 6 làng nghề tiêu biểu nhất: thêu ren Quất Động, sơn mài Hạ Thái (xã Duyên Thái), sừng mỹ nghệ Thụy Ứng (xã Hòa Bình), tiện gỗ Nhị Khê, chăn bông len Trát Cầu (xã Tiền Phong) và mộc cao cấp Vạn Điểm. Tác giả kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp logic làm công cụ chủ đạo, đan xen kỹ thuật điền dã thực địa, phân tích thống kê định lượng và so sánh lịch sử nhằm tái hiện bức tranh kinh tế - xã hội chân thực trong suốt timeline 17 năm khảo sát.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, Đảng bộ huyện đã chuyển đổi thành công mô hình tổ chức sản xuất từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang mô hình kinh tế thị trường nhiều thành phần. Đến năm 1998, toàn huyện đã phát triển được 42 tổ hợp sản xuất và 2 doanh nghiệp liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài. Điển hình tại xã Duyên Thái, Hợp tác xã sơn mài Bình Minh được giải thể giai đoạn 1992 - 1993 để chuyển đổi sang các công ty trách nhiệm hữu hạn và hộ sản xuất tư nhân có quy mô lớn.

Thứ hai, giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp và cơ cấu xuất khẩu tăng trưởng vượt bậc. Năm 1993, tổng giá trị sản xuất thủ công nghiệp đạt 70,515 tỷ đồng (chiếm 20,4% tổng sản phẩm xã hội); đến năm 1996 con số này đạt 116,8 tỷ đồng, tăng 22% so với năm 1995. Giai đoạn 1996 - 2000 ghi nhận tổng doanh thu làng nghề đạt 792,4 tỷ đồng với kim ngạch xuất khẩu chiếm 27,6% tổng doanh thu. Đến năm 2007, cơ cấu kinh tế có bước chuyển biến căn bản: công nghiệp - xây dựng vươn lên chiếm 46%, thương mại - dịch vụ chiếm 30% và nông nghiệp giảm xuống 24%.

Thứ ba, các làng nghề ghi nhận bước nhảy vọt về cơ giới hóa và đổi mới công nghệ. Tiêu biểu tại làng nghề chăn bông len Trát Cầu (xã Tiền Phong), trước năm 1998 hai thợ thủ công chỉ sản xuất được từ 1 đến 2 chiếc chăn bông mỗi ngày; sau năm 1998 người dân đã tự cải tiến máy dệt tải cũ thành dây chuyền làm chăn gối cơ khí, tăng năng suất lao động lên gấp 15 đến 20 lần so với phương pháp cổ truyền.

Thứ tư, công tác phát triển làng nghề gắn liền với nâng cấp hạ tầng nông thôn và giảm nghèo bền vững. Năm 1999, huyện Thường Tín đã đầu tư trên 23,6 tỷ đồng để duy tu, nâng cấp 67 km đường giao thông liên thôn. Tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện giảm từ mức 2% năm 2000 xuống còn 1,95% năm 2005. Đến năm 2003, 100% số xã và 100% số hộ gia đình đã được tiếp cận điện lưới phục vụ sinh hoạt và sản xuất làng nghề.

Thảo luận kết quả

Các số liệu tăng trưởng của luận văn có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ đường thể hiện tốc độ tăng trưởng doanh thu tiểu thủ công nghiệp hàng năm và biểu đồ cơ cấu kinh tế 3 khu vực giai đoạn 1995 - 2007. Nguyên nhân then chốt mang lại thành tựu là sự nhạy bén của Huyện ủy Thường Tín trong việc cụ thể hóa Nghị quyết 09-NQ/TU của Tỉnh ủy, kịp thời tháo gỡ điểm nghẽn về vốn thông qua việc chỉ đạo thành lập 5 quỹ tín dụng nhân dân vào năm 1995. Tuy nhiên, khi đối chiếu với các nghiên cứu kinh tế nông thôn cùng thời kỳ, luận văn chỉ rõ 2 hạn chế lớn: công tác xử lý ô nhiễm môi trường tại các làng nghề như sơn mài Hạ Thái, sừng Thụy Ứng chưa đồng bộ; đồng thời trên 60% sản phẩm mỹ nghệ xuất khẩu vẫn phải qua khâu trung gian, khiến giá trị gia tăng chưa tương xứng với tiềm năng của địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Một là, quy hoạch và xây dựng hoàn chỉnh hạ tầng các cụm công nghiệp làng nghề tập trung. Ủy ban nhân dân huyện Thường Tín cùng Sở Công thương cần đẩy nhanh tiến độ di dời tối thiểu 80% các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm ra khỏi khu dân cư, hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải và rác thải công nghiệp trong giai đoạn 2009 - 2015 nhằm giảm 70% lượng phát thải độc hại.

Hai là, tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật và bảo hộ sở hữu trí tuệ cho sản phẩm truyền thống. Phòng Kinh tế huyện phối hợp cùng Hiệp hội Làng nghề hỗ trợ 100% các làng nghề tiêu biểu như thêu Quất Động, sơn mài Duyên Thái, tiện Nhị Khê đăng ký nhãn hiệu tập thể và chỉ dẫn địa lý trước năm 2015, nâng giá trị thương mại sản phẩm tăng từ 25% đến 30%.

Ba là, thiết lập mô hình liên kết du lịch làng nghề gắn với quần thể di tích văn hóa. Trung tâm Xúc tiến Du lịch và chính quyền các xã cần kết nối tour du lịch chùa Đậu, đền thờ Nguyễn Trãi với trải nghiệm làng nghề Hạ Thái, Quất Động, đặt mục tiêu thu hút từ 100.000 đến 150.000 lượt khách du lịch trong nước và quốc tế mỗi năm trong giai đoạn 2010 - 2020.

Bốn là, đổi mới chương trình đào tạo nghề và thực hiện chính sách tôn vinh nghệ nhân. Trung tâm Hướng nghiệp Dạy nghề huyện cùng các nghệ nhân lão thành tổ chức từ 20 đến 30 lớp truyền nghề mỗi năm, đào tạo kỹ thuật chuyên sâu cho 2.000 đến 3.000 lao động trẻ, đảm bảo 100% các bí quyết nghề cổ truyền được bảo tồn liên tục qua các thế hệ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất: Cán bộ quản lý Nhà nước và cấp ủy chính quyền các cấp. Lợi ích: Cung cấp cơ sở lý luận và bài học lịch sử về quản lý kinh tế vi mô, quy hoạch làng nghề; Use case: Vận dụng xây dựng chính sách khuyến công, quy hoạch cụm công nghiệp và chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn tại các địa phương đô thị hóa.

Nhóm thứ hai: Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Lịch sử Đảng, Lịch sử Kinh tế. Lợi ích: Tiếp cận hệ thống tư liệu lịch sử xác thực, có hệ thống về giai đoạn 1991 - 2008; Use case: Sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu về đường lối đổi mới nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ thành phố Hà Nội và tỉnh Hà Tây cũ.

Nhóm thứ ba: Doanh nghiệp, hợp tác xã và chủ cơ sở sản xuất làng nghề. Lợi ích: Nhận diện rõ các quy luật thị trường, phương thức đổi mới công nghệ và mở rộng quy mô sản xuất; Use case: Xây dựng chiến lược đầu tư thiết bị cơ khí, liên kết chuỗi giá trị và tìm kiếm thị trường xuất khẩu bền vững.

Nhóm thứ tư: Các tổ chức xúc tiến thương mại và hiệp hội du lịch văn hóa. Lợi ích: Hiểu sâu sắc nguồn gốc lịch sử và giá trị văn hóa nghệ thuật của từng sản phẩm mỹ nghệ; Use case: Xây dựng các tuyến du lịch trải nghiệm di sản văn hóa gắn với tiêu thụ sản phẩm làng nghề truyền thống Thường Tín.

Câu hỏi thường gặp

Câu 1: Nghị quyết 09-NQ/TU ngày 5 tháng 10 năm 1994 của Tỉnh ủy Hà Tây có vai trò như thế nào đối với Thường Tín? Trả lời: Nghị quyết 09-NQ/TU là văn bản bước ngoặt thúc đẩy công nghiệp hóa nông thôn. Nghị quyết mở đường cho Thường Tín quy hoạch các điểm tiểu thủ công nghiệp tập trung, huy động mọi thành phần kinh tế tham gia sản xuất, đưa doanh thu thủ công nghiệp năm 1996 đạt 116,8 tỷ đồng, tăng 22% so với năm 1995.

Câu 2: Bước đột phá kỹ thuật nổi bật nhất tại các làng nghề Thường Tín giai đoạn 1991 - 2008 là gì? Trả lời: Đột phá tiêu biểu nhất diễn ra tại làng nghề Trát Cầu (xã Tiền Phong) sau năm 1998 khi người dân cải tiến máy dệt cũ thành máy làm chăn gối cơ giới. Đổi mới này nâng năng suất từ 1 đến 2 chiếc chăn/ngày lên hàng chục chiếc, mở rộng thị phần chăn ga gối đệm trên toàn quốc.

Câu 3: Đảng bộ huyện Thường Tín đã thực hiện giải pháp tài chính nào để gỡ khó cho hộ sản xuất làng nghề? Trả lời: Huyện ủy đã chỉ đạo hệ thống ngân hàng ưu tiên cho vay vốn lãi suất thấp và thành lập 5 quỹ tín dụng nhân dân cơ sở ngay trong năm 1995. Chính sách này bơm nguồn vốn kịp thời cho hàng ngàn hộ gia đình tại Duyên Thái, Quất Động đầu tư nguyên liệu và mở rộng xưởng sản xuất.

Câu 4: Các tiêu chuẩn chủ yếu để công nhận làng nghề truyền thống tại tỉnh Hà Tây thời kỳ này là gì? Trả lời: Theo Quyết định 1492/1999/QĐ-UB và Thông tư 116/2006/TT-BNN, làng nghề cần thỏa mãn: nghề xuất hiện trên 50 năm, tối thiểu 50% số hộ tham gia sản xuất, doanh thu từ nghề chiếm trên 50% tổng giá trị kinh tế toàn làng và duy trì ổn định tối thiểu 3 năm liên tiếp.

Câu 5: Thách thức lớn nhất đối với làng nghề Thường Tín sau khi sáp nhập về thành phố Hà Nội năm 2008 là gì? Trả lời: Thách thức trọng tâm là xử lý triệt để ô nhiễm môi trường khu dân cư và áp lực cạnh tranh sản phẩm giá rẻ từ nước ngoài. Địa phương cần nguồn vốn đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp tập trung và chuẩn hóa nhãn hiệu để xuất khẩu trực tiếp sang thị trường quốc tế.

Kết luận

  • Luận văn đã tái hiện toàn diện tiến trình lãnh đạo của Đảng bộ huyện Thường Tín trong việc khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống từ năm 1991 đến năm 2008.
  • Khẳng định bước chuyển dịch vượt bậc với 126 làng có nghề, 43 làng đạt chuẩn cấp tỉnh, nâng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng lên 46% vào năm 2007.
  • Đúc kết hệ thống bài học kinh nghiệm sâu sắc về đa dạng hóa thành phần kinh tế, chuyển giao công nghệ cơ khí và hỗ trợ nguồn vốn tín dụng ưu đãi.
  • Đề ra định hướng chiến lược cho các làng nghề Thường Tín trong không gian phát triển mới sau khi hợp nhất vào Thủ đô Hà Nội từ tháng 8 năm 2008.
  • Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp hãy khai thác những luận cứ khoa học từ luận văn để hoạch định chính sách phát triển kinh tế làng nghề bền vững trong kỷ nguyên số.