Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật của tác giả Huỳnh Ngọc Mẫn (Khoa Luật Hành chính, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, niên khóa 2019 - 2023) tập trung nghiên cứu cơ chế khởi kiện vụ án hành chính đối với các quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai. Xuất phát điểm của đề tài bắt nguồn từ quy định tại Điều 3 Hiến pháp năm 2013 về trách nhiệm của Nhà nước trong việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Trong bối cảnh kinh tế - xã hội phát triển và hội nhập quốc tế, đất đai là tài sản có giá trị đặc biệt, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân và thống nhất quản lý. Hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực này làm phát sinh hàng loạt quan hệ pháp luật thông qua việc ban hành các quyết định hành chính như giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
Thực tiễn áp dụng cho thấy các quyết định hành chính về đất đai tác động trực tiếp, sâu rộng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. Khi các quyết định này có sai sót hoặc xâm phạm quyền lợi của chủ thể quản lý, tranh chấp hành chính sẽ phát sinh. Mặc dù Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) đã tạo lập khung pháp lý tương đối hoàn chỉnh, số lượng và mức độ phức tạp của các vụ án hành chính trong lĩnh vực đất đai vẫn không ngừng gia tăng. Nhiều quy định tố tụng vẫn tồn tại sự mâu thuẫn, chưa đồng bộ với pháp luật chuyên ngành đất đai, dẫn đến sự lúng túng và thiếu thống nhất trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân các cấp.
Nhằm giải quyết các vướng mắc lý luận và thực tiễn, đề tài xác định mục tiêu và ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Thứ nhất, phân tích và đánh giá cơ sở lý luận, thực tiễn khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai.
- Thứ hai, chỉ ra những bất cập, vướng mắc trong quy định của pháp luật về vấn đề này.
- Thứ ba, đưa ra những kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật về khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Về đối tượng nghiên cứu, khóa luận tập trung vào những vấn đề lý luận và pháp lý về khởi kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai (khái niệm, đặc điểm chủ thể, đối tượng, mục đích, điều kiện, thủ tục) và thực trạng giải quyết các tranh chấp này trên thực tế. Về phạm vi nghiên cứu, nội dung giới hạn ở các quy định điều chỉnh quyền khởi kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai; phạm vi thời gian tập trung vào giai đoạn thi hành Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành, có sự so sánh đối chiếu với Luật Tố tụng hành chính năm 2010; phạm vi không gian là hệ thống Tòa án nhân dân và các cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam, thông qua việc nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tổng kết và các bản án, quyết định thực tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận vận dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, kết hợp với các quan điểm chỉ đạo của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII ("Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng"). Khung cơ sở pháp lý nền tảng được tác giả khai thác bao gồm: Hiến pháp năm 2013 (Điều 3, Điều 102); Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019); Luật Tố tụng hành chính năm 2010; Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2006); Luật Đất đai năm 2013; Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 151); Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008; Nghị quyết số 04/2016/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC; và Công văn số 02/GĐ-TANDTC ngày 19/9/2016 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp vướng mắc nghiệp vụ.
Về phương pháp nghiên cứu cụ thể, tác giả kết hợp ba phương pháp chủ yếu:
- Phương pháp phân tích và bình luận: Dùng để mổ xẻ nội dung các quy phạm pháp luật của Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Luật Đất đai năm 2013; đồng thời bình luận các bản án hành chính sơ thẩm, phúc thẩm thực tế để làm rõ cơ sở thực tiễn và các xung đột pháp lý (được sử dụng xuyên suốt cả Chương 1 và Chương 2).
- Phương pháp so sánh: Dùng để đối chiếu các quy định giữa Luật Tố tụng hành chính năm 2015 với Luật Tố tụng hành chính năm 2010, cũng như đối chiếu sự tương thích giữa Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và Luật Đất đai năm 2013 về tư cách đương sự và thủ tục khởi kiện (sử dụng tập trung tại Chương 1).
- Phương pháp thống kê: Thu thập, tổng hợp và xử lý các số liệu báo cáo thực tế về tình hình thụ lý, xét xử các vụ án hành chính về đất đai của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Tòa án nhân dân hai cấp tại TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Quảng Nam (sử dụng trọng tâm tại Chương 2).
Nguồn dữ liệu của khóa luận gồm các công trình nghiên cứu khoa học đi trước (luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Hương; luận văn thạc sĩ của Thái Thị Ngọc Linh, Nguyễn Ngọc Bình, Mai Xuân Sơn, Nguyễn Hoàng Yến, Đào Thị Tuyết, Nguyễn Thị Quang Đức; giáo trình của Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh; bài viết tạp chí của Cao Vũ Minh, Lê Thị Mơ, Lê Việt Sơn), các báo cáo tổng kết công tác hàng năm của TANDTC (năm 2017, 2021, 2022) và bản án của các Tòa án nhân dân địa phương.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về khởi kiện vụ án hành chính về quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai
Tại mục cơ sở lý luận, tác giả hệ thống hóa các định nghĩa khoa học và đưa ra khái niệm hoàn chỉnh: Khởi kiện vụ án hành chính về quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân, theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính, chính thức yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp khi bị xâm phạm từ quyết định hành chính trong hoạt động quản lý nhà nước về đất đai. Quyết định hành chính trong lĩnh vực này có ba nét đặc thù: (1) chủ yếu do Chính phủ và UBND các cấp ban hành theo thẩm quyền luật định; (2) giải quyết các vấn đề cụ thể như giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận, thu hồi đất; và (3) tác động trực tiếp đến đời sống, kinh tế của số đông chủ thể sử dụng đất.
Khóa luận phân tích bốn đặc điểm cốt lõi của hoạt động khởi kiện này:
- Về chủ thể: Chỉ những cá nhân, cơ quan, tổ chức là người sử dụng đất bị xâm phạm trực tiếp bởi quyết định quản lý đất đai mới có quyền khởi kiện.
- Về đối tượng: Là các quyết định hành chính cá biệt mang tính quyền lực nhà nước, trực tiếp làm phát sinh, thay đổi, hạn chế hoặc chấm dứt quyền sử dụng đất.
- Về mục đích: Khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại, hạn chế sự lạm quyền của cơ quan quản lý và giám sát việc thực thi công vụ.
- Về điều kiện: Phải tuân thủ chặt chẽ trình tự, thủ tục tư pháp theo Luật Tố tụng hành chính, vốn có tính công khai, độc lập và bảo đảm hiệu lực cưỡng chế cao hơn so với thủ tục khiếu nại hành chính nội bộ.
Ý nghĩa của quyền khởi kiện được tác giả luận giải toàn diện trên ba bình diện: pháp lý (bảo đảm quyền con người, xác lập cơ chế phân xử tài phán bắt buộc); chính trị - xã hội (thực hiện dân chủ, củng cố niềm tin vào Đảng, nâng cao kỷ cương công vụ); và kinh tế (tạo môi trường pháp lý minh bạch, bảo vệ tài sản của nhà đầu tư trong và ngoài nước).
Tại mục cơ sở pháp lý, tác giả phân tích chi tiết các điều kiện khởi kiện theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015:
- Điều kiện về chủ thể và năng lực hành vi tố tụng: Người khởi kiện là cá nhân (trong nước hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo Điều 5 Luật Đất đai năm 2013; người nước ngoài không thuộc đối tượng được giao, thuê đất), cơ quan, tổ chức theo khoản 11 Điều 3 Luật TTHC. Chủ thể phải có quyền, lợi ích bị xâm phạm trực tiếp (khoản 2 Điều 3, Điều 5, nếu không chứng minh được sẽ bị trả lại đơn theo điểm a khoản 1 Điều 123). Cá nhân đủ 18 tuổi có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng; người chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi thực hiện qua người đại diện theo pháp luật (khoản 4 Điều 54); cơ quan, tổ chức thực hiện thông qua người đại diện hợp pháp (khoản 5 Điều 54).
- Điều kiện về đối tượng khởi kiện: Gồm các nhóm quyết định cụ thể như quyết định giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; quyết định thu hồi đất, trưng dụng đất (theo các căn cứ tại Điều 16, 61, 62, 64, 65 Luật Đất đai năm 2013); quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và quyết định cưỡng chế thu hồi đất.
- Điều kiện tiền tố tụng: Khiếu nại không phải là thủ tục bắt buộc trước khi khởi kiện. Tuy nhiên, nếu người sử dụng đất đã lựa chọn con đường khiếu nại thì chỉ được khởi kiện khi thời hạn giải quyết khiếu nại đã hết mà không được giải quyết, hoặc đã có quyết định giải quyết nhưng không đồng ý với kết quả giải quyết đó.
- Điều kiện về thời hiệu khởi kiện: Căn cứ Điều 116 Luật TTHC năm 2015 và Điều 151 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính (nếu không khiếu nại), hoặc 01 năm kể từ ngày nhận được/biết được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu/lần hai hoặc ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại mà không được giải quyết. Điểm mới của luật năm 2015 là đã định nghĩa rõ khái niệm "trở ngại khách quan" (khoản 13 Điều 3) và "sự kiện bất khả kháng" (khoản 14 Điều 3) để loại trừ khỏi thời hiệu khởi kiện.
- Điều kiện vụ việc chưa được giải quyết bằng bản án/quyết định có hiệu lực của Tòa án (Điều 102 Hiến pháp năm 2013).
Về thủ tục khởi kiện, tác giả phân tích các quy định tại Điều 117, 118, 119 Luật TTHC năm 2015. So với luật năm 2010, luật hiện hành có những cải cách lớn: quy định việc ký tên, điểm chỉ trong đơn khởi kiện; cho phép người không biết chữ hoặc khiếm thị được nhờ người làm hộ đơn với sự xác nhận của người làm chứng; mở rộng quyền cho người đại diện theo ủy quyền của cơ quan, tổ chức; bổ sung phương thức nộp đơn khởi kiện trực tuyến qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án bên cạnh hai hình thức truyền thống (nộp trực tiếp và gửi qua bưu chính) theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/2016/NQ-HĐTP.
Chương 2: Thực tiễn khởi kiện vụ án hành chính về quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai ở Việt Nam và giải pháp hoàn thiện
Ở nội dung thực tiễn, tác giả tổng hợp số liệu thực tế chứng minh các khiếu kiện liên quan đến quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai luôn chiếm tỷ trọng áp đảo trong cơ cấu án hành chính tại Việt Nam:
| Cơ quan / Địa phương |
Giai đoạn / Năm |
Số liệu thụ lý / giải quyết |
Tỷ lệ trong tổng số án hành chính |
| Tòa án nhân dân tối cao (toàn quốc) |
Năm 2021 |
Thụ lý 6.232 vụ án về quản lý đất đai |
Chiếm 78,70% tổng số khiếu kiện hành chính |
| Tòa án nhân dân tối cao (toàn quốc) |
Năm 2022 |
Thụ lý 932 vụ về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư... |
Chiếm 78,71% tổng số khiếu kiện hành chính |
| VKSND cấp cao tại Hà Nội (khu vực phía Bắc) |
Giai đoạn 2015 - 2018 |
Thụ lý 3.538 vụ án hành chính sơ thẩm cấp tỉnh |
Chiếm hơn 80,00% tổng số khiếu kiện hành chính |
| TAND hai cấp TP. Hồ Chí Minh |
Năm 2019 |
Thụ lý 1.404 vụ, giải quyết 480 vụ |
Đạt tỷ lệ giải quyết 34,19% (phần lớn về đất đai) |
| TAND hai cấp TP. Hồ Chí Minh |
Năm 2021 |
Giải quyết 1.338 vụ án hành chính |
Tập trung vào thu hồi, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư |
| TAND hai cấp tỉnh Quảng Nam |
2018 - 2019 |
Giải quyết 97 / 166 vụ sơ thẩm đất đai |
Đạt tỷ lệ giải quyết 58,43% |
| TAND hai cấp tỉnh Quảng Nam |
2019 - 2020 |
Giải quyết 53 / 191 vụ sơ thẩm đất đai |
Đạt tỷ lệ giải quyết 27,75% |
| TAND hai cấp tỉnh Quảng Nam |
2020 - 2021 |
Giải quyết 80 / 299 vụ sơ thẩm đất đai |
Đạt tỷ lệ giải quyết 26,75% |
| TAND hai cấp tỉnh Quảng Nam |
2021 - 2022 |
Giải quyết 91 / 255 vụ sơ thẩm đất đai |
Đạt tỷ lệ giải quyết 35,69% |
Về công tác nghiệp vụ, hệ thống Tòa án đã có nhiều nỗ lực cải cách. Năm 2021, các Tòa án đã phối hợp với Viện kiểm sát tổ chức 12.113 phiên tòa rút kinh nghiệm (tăng 4.995 phiên tòa so với kỳ trước). Nhiều Tòa án địa phương (như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Thừa Thiên Huế, Vĩnh Long, Hưng Yên) đã thành lập Tổ hành chính tư pháp nhằm chuẩn hóa quy trình tiếp nhận, xử lý đơn khởi kiện và công khai niêm yết mẫu biểu tố tụng.
Tuy nhiên, khóa luận chỉ rõ các vướng mắc, bất cập nghiêm trọng trong thực tiễn áp dụng pháp luật:
- Vướng mắc trong xác định chủ thể khởi kiện: Khoản 8 Điều 3 Luật TTHC năm 2015 chỉ liệt kê cá nhân, cơ quan, tổ chức. Trong khi đó, Điều 5 Luật Đất đai năm 2013 quy định người sử dụng đất bao gồm cả "hộ gia đình" và "cơ sở tôn giáo". Sự thiếu tương thích này dẫn đến việc áp dụng không thống nhất trong thực tế xét xử:
- Tại Bản án số 02/2016/HC-ST ngày 09/09/2016 của TAND huyện Bình Xuyên (tỉnh Vĩnh Phúc), Tòa án đã thụ lý và xác định tư cách người khởi kiện là 05 hộ gia đình (gồm hộ các ông Trần Xuân Tình, Đỗ Khắc Thành, Nguyễn Hữu Trí, Trần Xuân Bắc, Nguyễn Văn Bãi) do ông Tình làm người đại diện theo pháp luật khi khởi kiện quyết định giải quyết khiếu nại liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Tại Bản án số 148/2020/HC-PT ngày 26/05/2020 của TAND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh, Tòa án xác định người khởi kiện là "Chùa B" (địa chỉ tại thị xã D1 A, tỉnh B D) do ông Lê Minh P làm đại diện theo ủy quyền, để khởi kiện Quyết định số 454/QĐ-BTNMT của Bộ trưởng Bộ TN&MT và các quyết định giao đất, cấp giấy chứng nhận của UBND tỉnh B D. Tác giả chỉ ra Tòa án đã phải viện dẫn quy định quản lý nội bộ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam và tư cách pháp nhân phi thương mại để thừa nhận tư cách người khởi kiện của Chùa B, dù Luật TTHC không quy định rõ cơ sở tôn giáo là người khởi kiện.
- Vướng mắc trong xác định đối tượng khởi kiện: Khó khăn trong việc xác định Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) hay quyết định cấp GCNQSDĐ là đối tượng khởi kiện. Mặc dù Công văn số 02/GĐ-TANDTC ngày 19/9/2016 của TANDTC đã hướng dẫn coi GCNQSDĐ là quyết định hành chính cá biệt, thực tiễn vẫn phát sinh tình trạng phức tạp: một thửa đất tồn tại cùng lúc hai GCNQSDĐ (do cấp đổi, cấp chuyển nhượng nhưng Văn phòng đăng ký đất đai không thu hồi giấy cũ, hoặc cấp đổi mới dựa trên hồ sơ cũ mà không có quyết định thu hồi giấy cũ). Tòa án gặp lúng túng trong việc xác định người dân khởi kiện yêu cầu hủy tất cả các giấy chứng nhận hay chỉ hủy giấy chứng nhận được cấp sau cùng.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và cung cấp bức tranh dữ liệu thực tiễn toàn diện về hoạt động xét xử hành chính trong lĩnh vực đất đai:
- Làm rõ con số thống kê chính thức từ TANDTC: các vụ khiếu kiện quyết định, hành vi hành chính về đất đai luôn chiếm trên 78% tổng số khiếu kiện hành chính toàn quốc (năm 2021 là 78,70% với 6.232 vụ; năm 2022 là 78,71% với 932 vụ về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư); tại các tỉnh phía Bắc chiếm hơn 80% (3.538 vụ giai đoạn 2015 - 2018).
- Tỷ lệ giải quyết án hành chính đất đai sơ thẩm ở cấp địa phương còn đạt mức khiêm tốn (Quảng Nam dao động từ 26,75% đến 58,43%; TP. Hồ Chí Minh năm 2019 chỉ đạt 34,19%), phản ánh tính chất đặc biệt phức tạp của loại việc này.
- Phân tích và chỉ rõ điểm xung đột kỹ thuật lập pháp giữa Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và Điều 5 Luật Đất đai năm 2013 đối với tư cách khởi kiện của hộ gia đình, cơ sở tôn giáo và cộng đồng dân cư; cũng như khoảng trống pháp lý khi xử lý đối tượng khởi kiện là các GCNQSDĐ được cấp chồng chéo trên cùng một thửa đất.
Về mặt đóng góp khoa học, so với các công trình nghiên cứu trước đây (như các luận văn thạc sĩ của Thái Thị Ngọc Linh năm 2021 hay Nguyễn Ngọc Bình năm 2021 vốn chỉ dừng lại ở phạm vi nghiên cứu khái quát về khởi kiện hành chính hoặc khảo sát riêng lẻ tại một tỉnh), khóa luận này đi sâu phân loại cụ thể từng nhóm quyết định hành chính về đất đai (giao đất, thu hồi, bồi thường, tái định cư, cấp GCNQSDĐ), gắn liền việc phân tích các điều khoản Luật TTHC 2015 với việc bình luận các bản án thực tế cụ thể (Bản án số 02/2016/HC-ST và Bản án số 148/2020/HC-PT) để chứng minh sự bất cập trong quy định pháp luật.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có những giới hạn nhất định bắt nguồn từ phạm vi nghiên cứu do tác giả tự xác định:
- Đề tài chỉ tập trung chuyên sâu vào các quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai, chưa mở rộng nghiên cứu sang nhóm hành vi hành chính trong quản lý đất đai (như hành vi chậm cấp giấy chứng nhận, hành vi không bồi thường, hành vi cưỡng chế trái pháp luật) dù các hành vi này cũng chiếm tỷ lệ tranh chấp đáng kể.
- Dữ liệu thực tiễn và bản án xét xử chủ yếu được thu thập trong giai đoạn thi hành Luật TTHC 2015 và Luật Đất đai 2013 đến năm 2022 tại một số địa phương trọng điểm (Quảng Nam, TP. Hồ Chí Minh, Vĩnh Phúc, Bình Dương), chưa bao quát toàn bộ 63 tỉnh thành trên cả nước.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng đánh giá sự tương thích của Luật TTHC năm 2015 với Luật Đất đai sửa đổi trong tương lai, bổ sung nghiên cứu thực tiễn thi hành bản án hành chính đã có hiệu lực pháp luật về đất đai – một giai đoạn hiện vẫn gặp nhiều vướng mắc trong việc buộc cơ quan hành chính thực thi nghĩa vụ.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên cao học thuộc khối ngành Luật (đặc biệt là chuyên ngành Luật Hành chính, Luật Đất đai và Luật Tố tụng), cũng như người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy pháp luật.
Nội dung phân tích điều kiện khởi kiện, thời hiệu và thủ tục gửi đơn qua Cổng thông tin điện tử theo Nghị quyết số 04/2016/NQ-HĐTP tại Chương 1 có giá trị tham khảo thiết thực cho các luật sư, người thực hành quyền trợ giúp pháp lý khi hướng dẫn công dân chuẩn bị hồ sơ khởi kiện. Đặc biệt, phần bình luận các vụ việc thực tế tại Chương 2 (xác định tư cách khởi kiện của hộ gia đình, cơ sở tôn giáo; cách xác định đối tượng khởi kiện khi có nhiều GCNQSDĐ trên một thửa đất theo Công văn 02/GĐ-TANDTC) là tài liệu tham khảo bổ ích cho Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Kiểm sát viên trong việc thụ lý và giải quyết các vụ án hành chính phức tạp.
Câu hỏi thường gặp
1. Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và Luật Đất đai năm 2013 có điểm mâu thuẫn nào về chủ thể khởi kiện?
Khoản 8 Điều 3 Luật TTHC năm 2015 quy định người khởi kiện chỉ gồm cá nhân, cơ quan, tổ chức. Trong khi đó, Điều 5 Luật Đất đai năm 2013 ghi nhận người sử dụng đất bao gồm cả hộ gia đình, cơ sở tôn giáo và cộng đồng dân cư. Do Luật TTHC thiếu vắng các chủ thể này, thực tiễn Tòa án phải tự vận dụng giải thích luật (như công nhận tư cách khởi kiện của 05 hộ gia đình tại Bản án số 02/2016/HC-ST hoặc Chùa B tại Bản án số 148/2020/HC-PT).
2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có được coi là quyết định hành chính để khởi kiện vụ án hành chính không?
Có. Theo hướng dẫn tại tiểu mục 1 Mục I Công văn số 02/GĐ-TANDTC ngày 19/9/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, căn cứ khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý và được xác định là quyết định hành chính; nếu làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo khoản 2 Điều 3 Luật TTHC năm 2015 thì là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.
3. Thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai là bao lâu?
Theo Điều 116 Luật TTHC năm 2015, thời hiệu là 01 năm tính từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính (nếu không khiếu nại). Trường hợp có khiếu nại, thời hiệu là 01 năm kể từ ngày nhận được/biết được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc lần hai; hoặc 01 năm kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại mà cơ quan có thẩm quyền không giải quyết và không có văn bản trả lời. Thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hiệu.
4. Tỷ lệ các vụ án hành chính về đất đai tại Tòa án nhân dân các cấp chiếm bao nhiêu phần trăm theo báo cáo của TANDTC?
Theo báo cáo tổng kết công tác năm của TANDTC, năm 2021 các khiếu kiện liên quan đến quyết định, hành vi hành chính về quản lý đất đai chiếm 78,70% tổng số khiếu kiện hành chính (6.232 vụ). Sang năm 2022, các vụ khiếu kiện về thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ tái định cư tiếp tục chiếm tỷ lệ 78,71% tổng số khiếu kiện hành chính.
5. Người khởi kiện không biết chữ hoặc bị khiếm thị thực hiện ký tên vào đơn khởi kiện như thế nào theo Luật TTHC năm 2015?
Theo quy định tiến bộ tại Điều 117 Luật TTHC năm 2015, trường hợp cá nhân không biết chữ, không nhìn được, không thể tự mình làm đơn hoặc ký tên, điểm chỉ thì có thể nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện, nhưng bắt buộc phải có người có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính làm chứng và ký xác nhận vào đơn khởi kiện.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Huỳnh Ngọc Mẫn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và đánh giá sâu sắc thực trạng áp dụng pháp luật về khởi kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai tại Việt Nam. Thông qua các số liệu thống kê thực tế của ngành Tòa án và việc mổ xẻ các bản án cụ thể, công trình đã làm sáng tỏ những xung đột kỹ thuật lập pháp giữa Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và Luật Đất đai năm 2013 về chủ thể và đối tượng khởi kiện. Đây là công trình nghiên cứu nghiêm túc, mang tính thời sự cao, cung cấp nhiều luận cứ khoa học có giá trị phục vụ công tác hoàn thiện thể chế tư pháp và nâng cao hiệu quả xét xử án hành chính về đất đai hiện nay.