CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Khái niệm máu ngoại vi. Máu là một chất lỏng, lưu thông trong hệ tuần hoàn, đảm bảo mối liên hệ giữa các cơ quan, bộ phận trong cơ thể. Máu chiếm khoảng 8% trọng lượng cơ thể của một người trưởng thành.
Nhiệt độ trung bình của là 38ºC. Máu có độ pH từ 7,35- 7,45; và có độ nhớt gấp 4,5-5,5 lần nước. Độ nhớt này rất quan trọng đối với chức năng của máu vì nếu máu chảy quá dễ dàng hoặc có quá nhiều sức cản, nó có thể làm tăng sức hoạt động của tim và dẫn đến các vấn đề tim mạch nghiêm trọng. Máu trong động mạch có màu đỏ tươi hơn máu trong tĩnh mạch nhờ lượng O2 cao hơn.
Xét nghiệm tế bào máu ngoại vi. Xét nghiệm tế bào máu ngoại vi là xét nghiệm máu thường quy được sử dụng như một xét nghiệm cơ bản, thực hiện đơn giản, thời gian xét nghiệm nhanh chóng, cung cấp các thông số rất hữu ích trong thăm dò hầu hết các bệnh lý và là xét nghiệm được sử dụng với tần suất lớn tại các bệnh viện (5). Xét nghiệm này được ứng dụng để kiểm tra tình trạng sức khỏe, góp phần chẩn đoán sớm bệnh lý về máu như: thiếu máu, suy tủy, ung thư máu, các bệnh về máu,. và định hướng các bệnh lý viêm nhiễm khác.
Hỗ trợ cung cấp thông tin cho các bác sĩ theo dõi quá trình điều trị bệnh trong các trường hợp đang dùng thuốc có thể ảnh hưởng đến số lượng tế bào máu (5). Thành phần tế bào máu ngoại vi, hình thái và chức năng. Thành phần tế bào máu ngoại vi. Máu gồm hai phần chính: các tế bào máu và huyết tương.
- Các tế bào máu: Hồng cầu gồm số lượng hồng cầu có trong một lít máu toàn phần (RBC), thể tích khối hồng cầu có trong một lít máu toàn phần (HCT), lượng huyết sắc tố (HGB), lượng huyết sắc tố trung bình hồng cầu (MCH), nồng độ huyết sắc tố trung bình hồng cầu (MCHC), thể tích trung bình của hồng cầu (MCV), phần trăm dải phân bố kích thước hồng cầu (RDW - CV). 5 Bạch cầu gồm số lượng bạch cầu có trong một lít máu toàn phần (WBC), số lượng và phần trăm bạch cầu đoạn trung tính (NEUT), số lượng và phần trăm bạch cầu lympho (LYMPH), số lượng và phần trăm bạch cầu mono (MONO), số lượng và phần trăm bạch cầu hạt ưa acid (EOS), số lượng và phần trăm bạch cầu hạt ưa bazơ (BASO). Tiểu cầu gồm số lượng tiểu cầu có trong một lít máu toàn phần (PLT), thể tích trung bình của tiểu cầu (MPV) và độ phân bố tiểu cầu (PDW) (5). - Huyết tương: Huyết tương là một hỗn hợp dịch phức tạp, chứa nhiều thành phần, bao gồm muối khoáng và các chất hữu cơ trong đó có các protein, carbohydrate và lipid.
Protein chiếm khoảng 7-8% huyết tương, bao gồm albumin, globulin và fibrinogen. Carbohydrate trong máu đều ở dạng glucose. Glucose trong máu là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu cho cơ thể. Ngoài ra nó còn tham gia vào thành phần cấu tạo của nhiều chất trong cơ thể.
Lipid huyết tương bình thường khoảng 5-8g/lít. Bao gồm: cholesterol, phospholipid, triglyceride và lipoprotein. Hình thái và chức năng các thành phần tế bào máu ngoại vi. Hồng cầu là một loại tế bào máu với chức năng chính là vận chuyển O2.
Hồng cầu trưởng thành ở người có hình đĩa, lõm hai mặt, không còn nhân, đường kính từ 7 - 8 µm, dày 2 - 3 µm. Hồng cầu có chứa hemoglobin làm nhiệm vụ vận chuyển O2 từ phổi đến các mô, nhận và vận chuyển CO2 từ các mô trở lại phổi để thải ra ngoài. Thời gian sống trung bình của hồng cầu khoảng 90 - 120 ngày. Khi hồng cầu đã già, chúng sẽ bị phân hủy trong tủy xương, lá lách hoặc gan.
Huyết sắc tố: thành phần chủ yếu của hồng cầu, chiếm 90% vật chất khô của hồng cầu và đảm nhiệm các chức năng của hồng cầu. Huyết sắc tố có chức năng chính là vận chuyển các chất khí trong hô hấp và tham gia hoạt động đệm để ổn định pH máu (6). Bạch cầu: những tế bào máu có nhân và bào tương, kích thước thay đổi từ 5 - 20 µm, có khả năng di động theo kiểu amip. Bạch cầu được tạo ra trong tuỷ xương và một phần trong các mô bạch huyết rồi được đưa vào máu để đi khắp cơ thể, đặc biệt là những vùng đang bị viêm để chống lại các tác nhân gây nhiễm trùng.
Chức 6 năng chính của bạch cầu là bảo vệ cơ thể bằng hai cách thực bào và sinh kháng thể. Bạch cầu chia làm 2 loại chính là: bạch cầu không hạt bao gồm bạch cầu lympho; bạch cầu mono; Và bạch cầu có hạt bao gồm bạch cầu ưa axit, bạch cầu ưa bazơ, bạch cầu trung tính. Thời gian sống trung bình từ 1 tuần đến vài tháng (6). Tiểu cầu: là tế bào không có nhân hình dạng giống hình đĩa đường kính 2 - 3 µm, dày khoảng 0,5 µm, chức năng chính của tiểu cầu là tiết ra chất co mạch làm co mạch máu, gây co thắt mạch máu khi bị rách, vỡ.
Tạo thành các chốt tiểu cầu tạm thời để cầm máu. Tiết ra chất tạo đông (yếu tố đông máu) để thúc đẩy quá trình đông máu. Làm tan cục máu đông khi không còn cần thiết. Tiêu hóa và tiêu diệt vi khuẩn.
Tiết ra hóa chất thu hút bạch cầu trung tính và bạch cầu đơn nhân đến các vị trí viêm. Tiết ra các yếu tố tăng trưởng để duy trì lớp lót của mạch máu.Thời gian sống trung bình khoảng 5 - 7 ngày. Chức năng của máu. Máu ngoại vi là một chất dịch lưu thông khắp cơ thể có 3 chức năng chính: vận chuyển, điều hòa và bảo vệ.
Chức năng vận chuyển chuyên chở khí O2 từ phổi tới các tổ chức và khí CO2 từ tổ chức tới phổi; dinh dưỡng: vận chuyển các chất dinh dưỡng cơ bản: chất đạm, chất béo, đường, vitamin. từ ruột tới tổ chức, tế bào; đào thải: vận chuyển các chất cặn bã của chuyển hoá tại các tổ chức tới các cơ quan bài tiết (thận, phổi, tuyến mồ hôi.); điều hoà hoạt động các cơ quan thông qua vận chuyển các hormon và các yếu tố điều hoà thể dịch khác; chức năng điều hoà thân nhiệt và duy trì sự cân bằng hóa học của cơ thể; bảo vệ cơ thể: thông qua chức năng của bạch cầu, kháng thể và các chất khác, thông qua chức năng của tiểu cầu tạo ra các cục máu đông ở vết thương để ngăn chặn giảm tình trạng mất máu. Đặc biệt, khối lượng máu trong cơ thể chỉ chiếm 7-9% tổng trọng lượng cơ thể, ở người trưởng thành có khoảng 75ml máu trong mỗi kg trọng lượng cơ thể (6). Bên cạnh đó phải nói đến vai trò của huyết tương là vận chuyển các chất cặn bã từ mô đến cơ quan bài tiết và thải ra ngoài, vận chuyển các chất dinh dưỡng đến các tế bào của cơ thể.
Thành phần tế bào máu ngoại vi 1. Xét nghiệm tế bào máu ngoại vi thực hiện trên máy Celltac F. - Nguyên lý hoạt động: đếm TBMNV dựa vào phương pháp laser trên cơ sở sự tán xạ ánh sáng khi tiến hành cho chùm tia sáng chiếu qua các tế bào máu. Tại đây góc tán xạ sẽ thay đổi tỷ lệ nghịch với kích thước thực tế của tế bào máu.
Bộ phận cảm nhận ánh sáng sẽ đo góc tán xạ từ đó tính toán, phân tích và đưa ra kích thước xung phù hợp cho các tế bào máu. Số lượng các xung sẽ tương ứng với số lượng thực tế của các tế bào máu đã đi qua buồng đếm. Máy sẽ tiến hành chiếu tia sáng Laser trực tiếp vào các kênh dòng chảy tập trung của máu toàn phần trong mẫu bệnh phẩm tại buồng đếm, máy sẽ tiến hành đo độ tán xạ ánh sáng tại nhiều góc bao gồm 0°C, 10°C, 90°C và 90°D. Tại đây máy sẽ xác định kích thước chuẩn và số lượng của các thành phần tế bào máu trong mẫu bệnh phẩm xét nghiệm.
Góc 0°C có nhiệm vụ xác định số lượng và đo kích thước các dòng tế bào máu trong máu toàn phần. Các góc 10°0 và 90°0 D tiến hành tách các tế bào bạch cầu ưa axit và bạch cầu trung tính. Các góc 0°C và 10°C tiến hành tách các tế bào lympho, mono và bạch cầu ưa bazơ (6) (Hình 1. Nguyên lý hoạt động máy xét nghiệm huyết học Celltac F -Thông số kỹ thuật: máy xét nghiệm huyết học Celltac F có 21 thông số kỹ thuật, số lượng bạch cầu, tỉ lệ % và giá trị tuyệt đối các thành phần bạch cầu, số lượng hồng cầu và các chỉ hồng cầu, số lượng tiểu cầu và các chỉ số tiểu cầu, công suất 80 mẫu/ 1h, tự động đếm lại các mẫu nghi ngờ, thể tích mẫu 55μL, 2 thuốc thử tan máu, 1 chất pha loãng, 2 chất tẩy rửa, đầu đọc mã vạch tiện dụng, khả năng lưu trữ cao.
Máy Celltac F thực hiện nội kiểm hàng ngày hoặc sau khi chuẩn máy, sau khi thay Lot thuốc thử mới. Bên cạnh đó máy đã và đang tham gia đăng ký ngoại kiểm tại Trung tâm kiểm chuẩn chất lượng xét nghiệm y học-Trường Đại học Y Hà Nội hàng tháng đạt kết quả tốt. Khoảng tham chiếu. Một số khái niệm.
Khoảng tham chiếu (Reference interval) theo CLSI-C28-A3 là khoảng giữa, bao gồm hai giá trị giới hạn tham chiếu, từ giới hạn tham chiếu dưới đến giới hạn tham chiếu trên. Khoảng tham chiếu ước tính bao gồm 95% các giá trị trong quần thể từ các đối tượng tham chiếu được chọn. Xây dựng khoảng tham chiếu là một quá trình, bao gồm các bước từ lựa chọn cá thể tham chiếu tới chi tiết về phương pháp phân tích, lựa chọn và xử lý số liệu (7). Giới hạn tham chiếu (reference limit): là một giá trị có được từ kết quả phân bố tham chiếu, được sử dụng để đánh giá kết quả xét nghiệm cho đối tượng làm xét nghiệm.
Ở hầu hết các xét nghiệm, giới hạn tham chiếu thường được mô tả thấp hơn hoặc bằng của giá trị tham chiếu cao hơn (upper limit) hoặc bằng giá trị tham chiếu thấp (lower limit) (4). Giá trị tham chiếu (reference values): ISO15189:2012 định nghĩa giá trị tham chiếu bao gồm tất cả các chỉ số thu được từ toàn bộ kết quả xét nghiệm qua quá trình quan sát hoặc đo lường các đối tượng đủ tiêu chuẩn trong quần thể dùng để tham chiếu. Nói cách khác giá trị tham chiếu được xác định từ các kết quả xét nghiệm, đo lường hay quan sát các đối tượng tham chiếu. Giá trị tham chiếu thu được từ nhóm tham chiếu.