Xây dựng KTC tế bào máu ngoại vi ở phụ nữ có thai tại BV Sản Nhi Hưng Yên

Tài liệu cung cấp khoảng tham chiếu các chỉ số tế bào máu ngoại vi cho phụ nữ có thai, dựa trên nghiên cứu tại Bệnh viện Sản Nhi Hưng Yên năm 2024.

Trường đại học

Đại học Y tế Công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề án tốt nghiệp Thạc sĩ

2024

112
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của khoảng tham chiếu tế bào máu

Khoảng tham chiếu tế bào máu là những giá trị sinh học bình thường được thiết lập dựa trên dữ liệu từ quần thể khỏe mạnh, giúp các bác sĩ đánh giá kết quả xét nghiệm của bệnh nhân. Đối với phụ nữ có thai, việc xác định chính xác khoảng tham chiếu tế bào máu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì các thay đổi sinh lý trong quá trình mang thai ảnh hưởng đáng kể đến thành phần máu.

Theo nghiên cứu năm 2024 tại Bệnh viện Sản - Nhi tỉnh Hưng Yên, việc sử dụng khoảng tham chiếu riêng cho phụ nữ có thai giúp giảm tỉ lệ chẩn đoán sai lầm, hỗ trợ theo dõi tình trạng sức khỏe thai kỳ chính xác hơn. Các chỉ số như hemoglobin (HGB), hematocrit (HCT), và đếm bạch cầu (WBC) thường thay đổi theo từng giai đoạn mang thai, do đó cần có khoảng tham chiếu cụ thể.

1.1. Định nghĩa khoảng tham chiếu lâm sàng

Khoảng tham chiếu (Reference Range) là phạm vi giá trị được xác định thống kê từ nhóm quần thể khỏe mạnh, thường là phần trăm thứ 2,5 đến 97,5. Đây là tiêu chuẩn quốc tế được công nhận bởi IFCC (International Federation of Clinical Chemistry and Laboratory Medicine) và CLSI (Clinical and Laboratory Standards Institute). Với phụ nữ có thai, khoảng tham chiếu phải được điều chỉnh để phản ánh các thay đổi sinh lý tự nhiên của thai kỳ.

1.2. Sự cần thiết của khoảng tham chiếu riêng cho phụ nữ mang thai

Trong quá trình mang thai, cơ thể phụ nữ trải qua những thay đổi sinh lý toàn diện, bao gồm tăng thể tích máu, giảm hemoglobin tương đối, và thay đổi đếm bạch cầu. Sử dụng khoảng tham chiếu cho người bình thường để đánh giá kết quả xét nghiệm máu của phụ nữ có thai có thể dẫn đến chẩn đoán sai lầm. Nghiên cứu năm 2024 chứng minh rằng khoảng tham chiếu riêng biệt cải thiện độ chính xác chẩn đoán lên 30-40%.

II. Các chỉ số tế bào máu ngoại vi chính trong quá trình mang thai

Việc theo dõi các chỉ số tế bào máu ngoại vi là một phần thiết yếu trong quá trình chăm sóc sản phụ. Các chỉ số quan trọng bao gồm hemoglobin, hematocrit, đếm tế bào hồng cầu, bạch cầu, và tiểu cầu. Máy Celltac F được sử dụng trong nghiên cứu năm 2024 là thiết bị hiện đại, giúp đo lường chính xác các thông số này.

Hemoglobin (HGB) là chỉ số quan trọng nhất để phát hiện thiếu máu trong thai kỳ. Hematocrit (HCT) phản ánh tỷ lệ thể tích của tế bào hồng cầu trong máu. Đếm bạch cầu (WBC) có xu hướng tăng nhẹ khi mang thai, là phản ứng sinh lý bình thường. Tiểu cầu cũng có thể biến đổi, đặc biệt là trong ba tháng cuối thai kỳ.

2.1. Chỉ số hemoglobin và hematocrit ở phụ nữ có thai

Hemoglobin (HGB) là chỉ số quan trọng nhất trong xét nghiệm máu của phụ nữ mang thai. Theo nghiên cứu 2024, khoảng tham chiếu HGB ở phụ nữ có thai thấp hơn phụ nữ bình thường do lượng máu tăng nhưng số lượng huyết sắc tố tương đối ổn định. Hematocrit (HCT) cũng giảm nhẹ, điều này là bình thường và không coi là bệnh lý nếu không vượt quá giới hạn ngưỡng đã thiết lập.

2.2. Đếm bạch cầu và tiểu cầu trong quá trình thai kỳ

Đếm bạch cầu (WBC) thường tăng nhẹ trong thai kỳ, đặc biệt là bạch cầu hạt. Điều này là phản ứng sinh lý bình thường và không cần can thiệp. Tiểu cầu cũng có thể biến động, với một số phụ nữ có thai xuất hiện giảm tiểu cầu nhẹ (gestational thrombocytopenia) vào ba tháng cuối. Khoảng tham chiếu riêng được thiết lập năm 2024 giúp phân biệt những thay đổi bình thường với những dấu hiệu bệnh lý.

III. Phương pháp xây dựng khoảng tham chiếu tại Bệnh viện Sản Nhi Hưng Yên 2024

Nghiên cứu năm 2024 được tiến hành dựa trên hướng dẫn của CLSI (Clinical and Laboratory Standards Institute), với quy trình nghiêm ngặt để thiết lập khoảng tham chiếu chính xác. Dữ liệu được thu thập từ quần thể phụ nữ có thai khỏe mạnh tại Bệnh viện Sản - Nhi tỉnh Hưng Yên, sử dụng máy Celltac F - một thiết bị hiện đại cho phân tích tế bào máu ngoại vi.

Các mẫu xét nghiệm được chọn lựa theo tiêu chí chặt chẽ, loại trừ những trường hợp bị bệnh lý đi kèm, nhiễm trùng, hoặc sử dụng thuốc ảnh hưởng đến chỉ số máu. Kỹ thuật xét nghiệm được tiêu chuẩn hóa để đảm bảo độ tin cậy cao nhất.

3.1. Quy trình thu thập và xử lý mẫu xét nghiệm

Mẫu xét nghiệm máu được lấy từ các phụ nữ có thai khỏe mạnh theo tiêu chí chọn lựa nghiêm ngặt. Mẫu phải được xử lý nhanh chóng trong vòng 4 giờ để đảm bảo độ chính xác. Các tiêu chí loại trừ bao gồm bệnh lý tiểu đường, tăng huyết áp, nhiễm trùng, và sử dụng thuốc ảnh hưởng. Quy trình này tuân theo tiêu chuẩn quốc tế CLSI để đảm bảo tính khoa học và có thể so sánh được.

3.2. Phương pháp phân tích dữ liệu thống kê

Dữ liệu thu thập được phân tích bằng phương pháp thống kê để xác định giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, và phạm vi tham chiếu (phần trăm 2,5-97,5). Nghiên cứu năm 2024 sử dụng phần mềm thống kê chuyên dụng để kiểm tra phân phối chuẩn và loại trừ các giá trị ngoại lai. Khoảng tham chiếu cuối cùng được xác định sau khi kiểm định chất lượng dữ liệu.

IV. Ứng dụng và khuyến nghị sử dụng khoảng tham chiếu trong lâm sàng

Khoảng tham chiếu tế bào máu cho phụ nữ có thai năm 2024 được khuyến cáo sử dụng rộng rãi tại các bệnh viện sản phụ khoa để nâng cao chất lượng chẩn đoán. Áp dụng những khoảng tham chiếu này giúp các bác sĩ đưa ra quyết định lâm sàng chính xác hơn, từ đó cải thiện kết quả thai kỳ và sức khỏe cả mẹ và em bé.

Việc sử dụng máy Celltac F kết hợp với khoảng tham chiếu riêng cho phụ nữ có thai tạo ra một hệ thống chẩn đoán toàn diện và đáng tin cậy. Các bệnh viện nên tập huấn nhân viên xét nghiệm về những thay đổi sinh lý bình thường trong thai kỳ để giảm thiểu chẩn đoán sai lầm.

4.1. Cải thiện chất lượng chẩn đoán và theo dõi thai kỳ

Sử dụng khoảng tham chiếu cụ thể cho phụ nữ có thai giúp giảm tỉ lệ chẩn đoán sai từ 20-30%. Bác sĩ có thể phân biệt rõ ràng giữa những thay đổi sinh lý bình thường và những dấu hiệu bệnh lý thực sự. Điều này đặc biệt quan trọng trong phát hiện thiếu máu thai kỳ, rối loạn đông máu, và các biến chứng khác của mang thai. Nghiên cứu 2024 chứng minh rằng áp dụng khoảng tham chiếu mới cải thiện hiệu quả chẩn đoán lâm sàng đáng kể.

4.2. Khuyến nghị triển khai tại các cơ sở y tế

Tất cả các bệnh viện sản phụ khoa nên cập nhật và sử dụng khoảng tham chiếu tế bào máu riêng cho phụ nữ có thai năm 2024. Các cơ sở y tế cần trang bị máy xét nghiệm hiện đại như Celltac F và thực hiện tập huấn định kỳ cho nhân viên. Việc này không chỉ nâng cao chất lượng dịch vụ mà còn giúp phát hiện sớm các biến chứng, cứu sống cả mẹ và con.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Khái niệm máu ngoại vi. Máu là một chất lỏng, lưu thông trong hệ tuần hoàn, đảm bảo mối liên hệ giữa các cơ quan, bộ phận trong cơ thể. Máu chiếm khoảng 8% trọng lượng cơ thể của một người trưởng thành.

Nhiệt độ trung bình của là 38ºC. Máu có độ pH từ 7,35- 7,45; và có độ nhớt gấp 4,5-5,5 lần nước. Độ nhớt này rất quan trọng đối với chức năng của máu vì nếu máu chảy quá dễ dàng hoặc có quá nhiều sức cản, nó có thể làm tăng sức hoạt động của tim và dẫn đến các vấn đề tim mạch nghiêm trọng. Máu trong động mạch có màu đỏ tươi hơn máu trong tĩnh mạch nhờ lượng O2 cao hơn.

Xét nghiệm tế bào máu ngoại vi. Xét nghiệm tế bào máu ngoại vi là xét nghiệm máu thường quy được sử dụng như một xét nghiệm cơ bản, thực hiện đơn giản, thời gian xét nghiệm nhanh chóng, cung cấp các thông số rất hữu ích trong thăm dò hầu hết các bệnh lý và là xét nghiệm được sử dụng với tần suất lớn tại các bệnh viện (5). Xét nghiệm này được ứng dụng để kiểm tra tình trạng sức khỏe, góp phần chẩn đoán sớm bệnh lý về máu như: thiếu máu, suy tủy, ung thư máu, các bệnh về máu,. và định hướng các bệnh lý viêm nhiễm khác.

Hỗ trợ cung cấp thông tin cho các bác sĩ theo dõi quá trình điều trị bệnh trong các trường hợp đang dùng thuốc có thể ảnh hưởng đến số lượng tế bào máu (5). Thành phần tế bào máu ngoại vi, hình thái và chức năng. Thành phần tế bào máu ngoại vi. Máu gồm hai phần chính: các tế bào máu và huyết tương.

- Các tế bào máu: Hồng cầu gồm số lượng hồng cầu có trong một lít máu toàn phần (RBC), thể tích khối hồng cầu có trong một lít máu toàn phần (HCT), lượng huyết sắc tố (HGB), lượng huyết sắc tố trung bình hồng cầu (MCH), nồng độ huyết sắc tố trung bình hồng cầu (MCHC), thể tích trung bình của hồng cầu (MCV), phần trăm dải phân bố kích thước hồng cầu (RDW - CV). 5 Bạch cầu gồm số lượng bạch cầu có trong một lít máu toàn phần (WBC), số lượng và phần trăm bạch cầu đoạn trung tính (NEUT), số lượng và phần trăm bạch cầu lympho (LYMPH), số lượng và phần trăm bạch cầu mono (MONO), số lượng và phần trăm bạch cầu hạt ưa acid (EOS), số lượng và phần trăm bạch cầu hạt ưa bazơ (BASO). Tiểu cầu gồm số lượng tiểu cầu có trong một lít máu toàn phần (PLT), thể tích trung bình của tiểu cầu (MPV) và độ phân bố tiểu cầu (PDW) (5). - Huyết tương: Huyết tương là một hỗn hợp dịch phức tạp, chứa nhiều thành phần, bao gồm muối khoáng và các chất hữu cơ trong đó có các protein, carbohydrate và lipid.

Protein chiếm khoảng 7-8% huyết tương, bao gồm albumin, globulin và fibrinogen. Carbohydrate trong máu đều ở dạng glucose. Glucose trong máu là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu cho cơ thể. Ngoài ra nó còn tham gia vào thành phần cấu tạo của nhiều chất trong cơ thể.

Lipid huyết tương bình thường khoảng 5-8g/lít. Bao gồm: cholesterol, phospholipid, triglyceride và lipoprotein. Hình thái và chức năng các thành phần tế bào máu ngoại vi. Hồng cầu là một loại tế bào máu với chức năng chính là vận chuyển O2.

Hồng cầu trưởng thành ở người có hình đĩa, lõm hai mặt, không còn nhân, đường kính từ 7 - 8 µm, dày 2 - 3 µm. Hồng cầu có chứa hemoglobin làm nhiệm vụ vận chuyển O2 từ phổi đến các mô, nhận và vận chuyển CO2 từ các mô trở lại phổi để thải ra ngoài. Thời gian sống trung bình của hồng cầu khoảng 90 - 120 ngày. Khi hồng cầu đã già, chúng sẽ bị phân hủy trong tủy xương, lá lách hoặc gan.

Huyết sắc tố: thành phần chủ yếu của hồng cầu, chiếm 90% vật chất khô của hồng cầu và đảm nhiệm các chức năng của hồng cầu. Huyết sắc tố có chức năng chính là vận chuyển các chất khí trong hô hấp và tham gia hoạt động đệm để ổn định pH máu (6). Bạch cầu: những tế bào máu có nhân và bào tương, kích thước thay đổi từ 5 - 20 µm, có khả năng di động theo kiểu amip. Bạch cầu được tạo ra trong tuỷ xương và một phần trong các mô bạch huyết rồi được đưa vào máu để đi khắp cơ thể, đặc biệt là những vùng đang bị viêm để chống lại các tác nhân gây nhiễm trùng.

Chức 6 năng chính của bạch cầu là bảo vệ cơ thể bằng hai cách thực bào và sinh kháng thể. Bạch cầu chia làm 2 loại chính là: bạch cầu không hạt bao gồm bạch cầu lympho; bạch cầu mono; Và bạch cầu có hạt bao gồm bạch cầu ưa axit, bạch cầu ưa bazơ, bạch cầu trung tính. Thời gian sống trung bình từ 1 tuần đến vài tháng (6). Tiểu cầu: là tế bào không có nhân hình dạng giống hình đĩa đường kính 2 - 3 µm, dày khoảng 0,5 µm, chức năng chính của tiểu cầu là tiết ra chất co mạch làm co mạch máu, gây co thắt mạch máu khi bị rách, vỡ.

Tạo thành các chốt tiểu cầu tạm thời để cầm máu. Tiết ra chất tạo đông (yếu tố đông máu) để thúc đẩy quá trình đông máu. Làm tan cục máu đông khi không còn cần thiết. Tiêu hóa và tiêu diệt vi khuẩn.

Tiết ra hóa chất thu hút bạch cầu trung tính và bạch cầu đơn nhân đến các vị trí viêm. Tiết ra các yếu tố tăng trưởng để duy trì lớp lót của mạch máu.Thời gian sống trung bình khoảng 5 - 7 ngày. Chức năng của máu. Máu ngoại vi là một chất dịch lưu thông khắp cơ thể có 3 chức năng chính: vận chuyển, điều hòa và bảo vệ.

Chức năng vận chuyển chuyên chở khí O2 từ phổi tới các tổ chức và khí CO2 từ tổ chức tới phổi; dinh dưỡng: vận chuyển các chất dinh dưỡng cơ bản: chất đạm, chất béo, đường, vitamin. từ ruột tới tổ chức, tế bào; đào thải: vận chuyển các chất cặn bã của chuyển hoá tại các tổ chức tới các cơ quan bài tiết (thận, phổi, tuyến mồ hôi.); điều hoà hoạt động các cơ quan thông qua vận chuyển các hormon và các yếu tố điều hoà thể dịch khác; chức năng điều hoà thân nhiệt và duy trì sự cân bằng hóa học của cơ thể; bảo vệ cơ thể: thông qua chức năng của bạch cầu, kháng thể và các chất khác, thông qua chức năng của tiểu cầu tạo ra các cục máu đông ở vết thương để ngăn chặn giảm tình trạng mất máu. Đặc biệt, khối lượng máu trong cơ thể chỉ chiếm 7-9% tổng trọng lượng cơ thể, ở người trưởng thành có khoảng 75ml máu trong mỗi kg trọng lượng cơ thể (6). Bên cạnh đó phải nói đến vai trò của huyết tương là vận chuyển các chất cặn bã từ mô đến cơ quan bài tiết và thải ra ngoài, vận chuyển các chất dinh dưỡng đến các tế bào của cơ thể.

Thành phần tế bào máu ngoại vi 1. Xét nghiệm tế bào máu ngoại vi thực hiện trên máy Celltac F. - Nguyên lý hoạt động: đếm TBMNV dựa vào phương pháp laser trên cơ sở sự tán xạ ánh sáng khi tiến hành cho chùm tia sáng chiếu qua các tế bào máu. Tại đây góc tán xạ sẽ thay đổi tỷ lệ nghịch với kích thước thực tế của tế bào máu.

Bộ phận cảm nhận ánh sáng sẽ đo góc tán xạ từ đó tính toán, phân tích và đưa ra kích thước xung phù hợp cho các tế bào máu. Số lượng các xung sẽ tương ứng với số lượng thực tế của các tế bào máu đã đi qua buồng đếm. Máy sẽ tiến hành chiếu tia sáng Laser trực tiếp vào các kênh dòng chảy tập trung của máu toàn phần trong mẫu bệnh phẩm tại buồng đếm, máy sẽ tiến hành đo độ tán xạ ánh sáng tại nhiều góc bao gồm 0°C, 10°C, 90°C và 90°D. Tại đây máy sẽ xác định kích thước chuẩn và số lượng của các thành phần tế bào máu trong mẫu bệnh phẩm xét nghiệm.

Góc 0°C có nhiệm vụ xác định số lượng và đo kích thước các dòng tế bào máu trong máu toàn phần. Các góc 10°0 và 90°0 D tiến hành tách các tế bào bạch cầu ưa axit và bạch cầu trung tính. Các góc 0°C và 10°C tiến hành tách các tế bào lympho, mono và bạch cầu ưa bazơ (6) (Hình 1. Nguyên lý hoạt động máy xét nghiệm huyết học Celltac F -Thông số kỹ thuật: máy xét nghiệm huyết học Celltac F có 21 thông số kỹ thuật, số lượng bạch cầu, tỉ lệ % và giá trị tuyệt đối các thành phần bạch cầu, số lượng hồng cầu và các chỉ hồng cầu, số lượng tiểu cầu và các chỉ số tiểu cầu, công suất 80 mẫu/ 1h, tự động đếm lại các mẫu nghi ngờ, thể tích mẫu 55μL, 2 thuốc thử tan máu, 1 chất pha loãng, 2 chất tẩy rửa, đầu đọc mã vạch tiện dụng, khả năng lưu trữ cao.

Máy Celltac F thực hiện nội kiểm hàng ngày hoặc sau khi chuẩn máy, sau khi thay Lot thuốc thử mới. Bên cạnh đó máy đã và đang tham gia đăng ký ngoại kiểm tại Trung tâm kiểm chuẩn chất lượng xét nghiệm y học-Trường Đại học Y Hà Nội hàng tháng đạt kết quả tốt. Khoảng tham chiếu. Một số khái niệm.

Khoảng tham chiếu (Reference interval) theo CLSI-C28-A3 là khoảng giữa, bao gồm hai giá trị giới hạn tham chiếu, từ giới hạn tham chiếu dưới đến giới hạn tham chiếu trên. Khoảng tham chiếu ước tính bao gồm 95% các giá trị trong quần thể từ các đối tượng tham chiếu được chọn. Xây dựng khoảng tham chiếu là một quá trình, bao gồm các bước từ lựa chọn cá thể tham chiếu tới chi tiết về phương pháp phân tích, lựa chọn và xử lý số liệu (7). Giới hạn tham chiếu (reference limit): là một giá trị có được từ kết quả phân bố tham chiếu, được sử dụng để đánh giá kết quả xét nghiệm cho đối tượng làm xét nghiệm.

Ở hầu hết các xét nghiệm, giới hạn tham chiếu thường được mô tả thấp hơn hoặc bằng của giá trị tham chiếu cao hơn (upper limit) hoặc bằng giá trị tham chiếu thấp (lower limit) (4). Giá trị tham chiếu (reference values): ISO15189:2012 định nghĩa giá trị tham chiếu bao gồm tất cả các chỉ số thu được từ toàn bộ kết quả xét nghiệm qua quá trình quan sát hoặc đo lường các đối tượng đủ tiêu chuẩn trong quần thể dùng để tham chiếu. Nói cách khác giá trị tham chiếu được xác định từ các kết quả xét nghiệm, đo lường hay quan sát các đối tượng tham chiếu. Giá trị tham chiếu thu được từ nhóm tham chiếu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ