CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. Khái niệm, phân loại, đặc điểm nguyên vật liệu 1. Khái niệm nguyên vật liệu Theo Hoàng Thị Mai (2013) " Karl Marx gọi tắt mọi vật trong thiên nhiên ở xung quanh ta mà lao động có ích của con người có thể tác động vào là đối tượng lao động. Nguyên vật liệu là đối tượng lao động nhưng không phải bất cứ đối tượng lao động nào cũng là nguyên vật liệu.
Chỉ trong điều kiện đối tượng lao động có thể phục vụ cho quá trình sản xuất hay tái tạo ra sản phẩm và đối tượng đó do lao động tạo ra mới trở thành vật liệu". Nguyên vật liệu là đối tượng của lao động sẽ bị biến đổi khi có sự tác động của lao động hữu ích. Tuy nhiên, không phải mọi đối tượng lao động đều trở thành nguyên liệu, vật liệu, mà chỉ khi thuộc trường hợp đối tượng lao động được lao động tạo thành thì nguyên vật liệu mới được tạo ra. Trong hoạt động sản xuất một trong các yếu tố căn bản đó là nguyên vật liệu.
Tùy theo từng loại hình doanh nghiệp, mà giá trị của hàng hóa được tạo ra từ việc sử dụng giá trị nguyên vật liệu qua hoạt động sản xuất và kinh doanh. Giá trị của nguyên vật liệu có một tỷ lệ trọng yếu trong giá trị của hàng hóa ở các doanh nghiệp sản xuất. Phân loại nguyên vật liệu Nguyên vật liệu rất đa dạng về chủng loại cũng như có những vai trò và công dụng không giống nhau. Vì vậy, thông thường các doanh nghiệp sẽ chia ra thành nhiều loại vật tư theo các tiêu chí thích hợp để kiểm soát vật tư chặt chẽ.
Dựa vào công dụng trong hoạt động sản xuất của nguyên vật liệu, vật tư được phân thành một số loại sau: 2 - Nguyên liệu chính: Là đối tượng lao động chính, tạo nên thực thể của thành phẩm như bông trong nhà máy sợi, đất sét trong nhà máy sản xuất gạch. “Nguyên liệu” là thuật ngữ để chỉ đối tượng lao động vẫn chưa được chế biến công nghiệp, còn “Vật liệu” là thuật ngữ chỉ các nguyên liệu được chế biến trở thành bán thành phẩm. - Vật liệu phụ: Gồm các vật liệu cung cấp cho hoạt động sản xuất, được sử dụng để tổng hợp với các vật liệu chính giúp nâng cao chất lượng, hình thức bên ngoài của hàng hóa hoặc thực hiện việc duy trì các dụng cụ vận hành thường ngày hoặc cung cấp cho các yêu cầu về mặt kỹ thuật và quản lý. - Nhiên liệu: Đây là nguồn cung cấp nhiệt lượng cho các hoạt động sản xuất, tạo tiền đề cho hoạt động sản xuất hàng hóa tiến hành bình thường, có thể kể đến như là than đá, xăng dầu, khí đốt… - Phụ tùng: Là các bộ phận riêng lẻ dùng cho việc thay thế, sửa chữa cho các chi tiết bị hư hỏng của máy móc, thiết bị, … - Vật liệu khác: Gồm các vật tư còn sót lại của hoạt động sản xuất hoặc một vài phế liệu được lấy trở lại khi thanh lý các tài sản cố định.
Căn cứ dựa theo nguồn hình thành nguyên vật liệu - Nguyên vật liệu mua ngoài: Bao gồm các loại nguyên vật liệu được doanh nghiệp mua ở bên ngoài thị trường. - Nguyên vật liệu tự sản xuất hoặc thuê ở bên ngoài gia công. - Vật tư được các đơn vị liên doanh góp vốn hoặc được tặng, biếu. - Các loại nguyên vật liệu khác như kiểm kê dư thừa, nguyên vật liệu chưa sử dụng hết.
Căn cứ dựa theo chức năng của vật liệu. 3 - Nguyên vật liệu tiêu hao vào hoạt động sản xuất. - Nguyên vật liệu sử dụng cho các nhu cầu khác: Sử dụng phục vụ mục đích quản lý và bán hàng hoặc phục vụ tại xưởng, tổ sản xuất. Tùy thuộc vào yêu cầu của từng đơn vị mà mỗi loại vật tư có thể sẽ phân thành các nhóm, mỗi một nhóm có quy cách chi tiết và cụ thể hơn.
Cách phân loại này có thể giúp cho đơn vị tạo lập các tài khoản chi tiết đơn giản hơn trong việc tổ chức hạch toán vật tư. Hơn nữa, doanh nghiệp còn có thể hiểu rõ về nội dung kinh tế và các chức năng, nhiệm vụ của mỗi chủng loại vật tư từ đó đề ra một số giải pháp phù hợp để sử dụng vật tư. Đặc điểm nguyên vật liệu Nguyên vật liệu là đối tượng lao động được biết đến như là sắt thép trong doanh nghiệp cơ khí, sợi trong doanh nghiệp may mặc. Không giống tư liệu lao động, vật tư chỉ có tham gia trong một chu trình sản xuất cố định và toàn bộ giá trị nguyên vật liệu sẽ ghi nhận vào trong chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, sau đó sẽ được kết chuyển vào cuối kỳ dùng để tính giá cả hàng hóa.
Trong quá trình tham gia sản xuất, chúng sẽ được sử dụng hoàn toàn hoặc biến đổi hình dạng bên ngoài của vật tư ban đầu dưới tác động của sức lao động để hình thành nên hình dạng cơ bản của hàng hóa. Một số nguồn hình thành như là tự sản xuất, mua ngoài, nhận từ nguồn vốn hợp tác liên doanh… trong đó doanh nghiệp mua vật tư ở bên ngoài có tỷ lệ trọng lượng lớn nhất là nguồn sẽ hình thành nên giá trị vật tư. Phương pháp tính giá nguyên vật liệu 1. Phương pháp tính giá nguyên vật liệu nhập kho 4 Giá trị vật tư khi nhập vào kho được xác định trên nguyên tắc giá thực tế, bao gồm các khoản chi phí khác nhau mà doanh nghiệp phải bỏ ra hoặc được giảm trừ để có được vật tư đó.
Giá thực tế của vật tư mua ngoài: Các khoản Chi Các loại Giá ghi chiết khấu Hao hụt Giá phí thuế không = trên hóa + + – thương mại, – ngoài thực tế thu hoàn lại đơn giảm giá định mức mua (nếu có) hàng bán Trong đó: Giá ghi trên hóa đơn: Là số tiền cần phải thanh toán của đơn vị cho nhà cung cấp căn cứ vào hợp đồng hoặc thỏa thuận giữa hai bên tùy thuộc vào cách tính thuế giá trị gia tăng (GTGT) mà doanh nghiệp áp dụng như là tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp hoặc theo phương pháp khấu trừ. Các loại thuế không hoàn lại: Bao gồm thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có), thuế nhập khẩu. Chi phí thu mua: Trong quá trình mua hàng sẽ phát sinh một số loại chi phí như bốc dỡ, bến bãi, vận chuyển, kho tàng. Chiết khấu thương mại: Khi mua hàng với số lượng lớn người mua sẽ được hưởng một số tiền nhất định dựa trên tỷ lệ chiết khấu của người bán.
Giảm giá hàng mua: Khi người bán vi phạm một số điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng như là giao hàng chưa đảm bảo chất lượng hoặc không đúng thời gian, khi đó người mua sẽ được nhận một số tiền đền bù từ người bán. 5 Đối với vật tư tự chế biến: Giá thực tế của nguyên vật liệu Giá thực tế = + Chi phí chế biến xuất chế biến Chi phí chế biến gồm những chi phí có liên quan trực tiếp đến sản xuất sản phẩm như là chi phí sản xuất chung cố định, chi phí nhân công trực tiếp… Đối với vật tư thuê ngoài gia công chế biến: Giá thực tế của nguyên vật Chi phí chế biến (thuê gia Giá thực tế = + liệu xuất chế biến công, chi phí khi giao, nhận) Đối với vật tư được nhận từ góp vốn: Giá thực tế = Giá thỏa thuận + Chi phí tiếp nhận Đối với vật tư thu nhặt được, phế liệu thu hồi: Giá thực tế = Giá ước tính có thể sử dụng được hay giá trị thu hồi tối thiểu 1. Phương pháp tính giá nguyên vật liệu xuất kho Trong doanh nghiệp, các loại vật tư thường xuyên được thu mua từ nhiều nhà cung cấp riêng lẻ, giá thực tế trong mỗi lần nhập vào kho của đơn vị cũng không giống nhau. 6 Chính vì đó, kế toán viên sẽ cần tính ra giá trị thực tế xuất kho cho quá trình kinh doanh theo một cách tính giá đã được đăng ký áp dụng cho cả kỳ kế toán.
Theo chuẩn mực kế toán số 02 “Hàng tồn kho” có bốn phương pháp tính giá thực tế hàng xuất kho bao gồm: - Phương pháp thực tế đích danh - Phương pháp bình quân gia quyền - Phương pháp nhập trước xuất trước - Phương pháp nhập sau xuất trước Theo thông tư 200 (áp dụng từ năm 2015): Phương pháp nhập sau xuất trước đã bị loại trừ. Phương pháp tính giá thực tế đích danh Cách tính giá thực tế đích danh là khi xuất kho lô hàng nào thì sẽ tính giá theo đơn giá mua thực tế của đơn hàng đó (bất kể thời gian xuất hàng nhập hàng). Ưu điểm: - Tuân theo nguyên tắc phù hợp, doanh thu thực tế sẽ phù hợp với chi phí thực tế. - Doanh thu của hàng hóa phù hợp với giá trị của sản phẩm xuất bán.
- Thuận lợi cho kế toán viên trong việc ghi nhận giá thành. Đồng thời giá trị nguyên vật liệu hàng tồn được ghi chép theo chính xác trị giá thực. Nhược điểm: Muốn thực hiện phương pháp này yêu cầu các đơn vị cần phải có ít loại mặt hàng và thuộc loại nguyên vật liệu dễ dàng nhận dạng được. Đối với một số đơn vị có nhiều chủng loại nguyên vật liệu thì khó có khả năng ứng dụng vào được.
Phương pháp bình quân gia quyền: 7 Ở cách tính này, giá khi xuất kho của nguyên vật liệu có thể tính dựa vào giá bình quân bình quân sau từng lần nhập xuất hoặc cả kỳ dự trữ. Giá thực tế nguyên Số lượng nguyên vật liệu = x Giá đơn vị bình quân vật liệu xuất kho xuất dùng - Cách tính bình quân cả kỳ dự trữ: Trong kỳ kế toán, các hoạt động xuất hàng đã diễn ra sẽ tạm thời không cần tính giá thành, vào cuối kỳ ngay lúc hoàn thành tất cả nghiệp vụ xuất kho nhập kho kế toán mới phải tính giá bình quân trong toàn kỳ. Giá thực tế tồn đầu kỳ + Giá thực tế nhập trong kỳ Đơn giá bình quân = Số lượng tồn đầu kỳ + Số lượng nhập trong kỳ Ưu điểm: Tương đối giản đơn và là công việc tương đối dễ hoàn thành , chỉ phải tính giá thành mỗi kỳ một lần vào cuối tháng. Nhược điểm: Tính chính xác của số liệu tương đối thấp, việc hạch toán sẽ bị tập trung về cuối kỳ gây tác động tới tiến độ ở những bộ phận khác.
Khi sử dụng cách tính này có thể không đáp ứng được các đòi hỏi về thời gian của thông tin được nhanh chóng cùng lúc với thời điểm diễn ra nghiệp vụ.