Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đề tài khóa luận tốt nghiệp "Bước đầu phân vùng địa sinh thái huyện Phú Quốc nhằm định hướng phát triển du lịch sinh thái" được sinh viên thực hiện tại Khoa Địa lý, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn của ThS. Trần Văn Thành, bảo vệ vào tháng 5 năm 2004.

Về bối cảnh thực tiễn, huyện đảo Phú Quốc giữ vị trí chiến lược trọng yếu về an ninh quốc phòng tại vùng biển Tây Nam, đồng thời sở hữu tiềm năng tự nhiên phong phú với các hệ sinh thái rừng nguyên sinh, bờ biển dài và nguồn tài nguyên sinh vật đa dạng. Tuy nhiên, trước áp lực phát triển kinh tế, đô thị hóa và sự bùng nổ của hoạt động du lịch, môi trường cảnh quan hải đảo rất nhạy cảm và dễ bị tổn thương. Yêu cầu đặt ra cho công tác quản trị lãnh thổ là phải tiếp cận tự nhiên theo quan điểm địa sinh thái cảnh quan nhằm bảo đảm tính bền vững, khai thác tiềm năng kinh tế mà không phá vỡ cân bằng sinh thái.

Khóa luận xác định hai nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Thiết lập hệ thống chỉ tiêu các cấp phân vị địa sinh thái cảnh quan huyện Phú Quốc; phát hiện sự phân hóa tự nhiên để phân vùng các đơn vị địa sinh thái từ cấp thấp đến cấp cao nhằm định hướng khai thác và phát triển du lịch sinh thái.
  2. Mô tả các đặc trưng của các đơn vị địa sinh thái cảnh quan; đánh giá thế mạnh của từng khu vực tự nhiên làm cơ sở khoa học để thiết lập các tuyến, điểm và định hướng loại hình du lịch sinh thái phù hợp.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các thể tổng hợp tự nhiên, cấu trúc địa sinh thái cảnh quan và tài nguyên du lịch sinh thái trên địa bàn huyện Phú Quốc.
  • Phạm vi không gian: Khóa luận tập trung nghiên cứu chi tiết trên phạm vi đảo chính Phú Quốc (diện tích tự nhiên 56.100 ha), không đi sâu nghiên cứu hệ thống các đảo nhỏ xung quanh thuộc quần đảo An Thới và quần đảo Thổ Châu.
  • Phạm vi phân vị và nội dung: Nghiên cứu dừng lại ở các cấp phân vị cảnh sinh thái, dạng sinh thái và diện sinh thái; không đi sâu vào cấp vi mô là điểm sinh thái (ecotope), không phân tích sâu cơ chế trao đổi năng lượng vi mô mà chủ yếu phác thảo định hướng phát triển du lịch sinh thái.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu điều tra tự nhiên, tài nguyên và kinh tế - xã hội được tổng hợp và xử lý chủ yếu theo mốc số liệu giai đoạn 1994 - 1998 và các chuyến khảo sát thực địa đến năm 2004.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Khóa luận xây dựng trên cơ sở tích hợp giữa cảnh quan học và sinh thái học:

  • Hệ địa sinh thái (Ecological Geosystem): Tiếp thu quan điểm của I.P. Gerasimov và Vũ Tự Lập (1987), hệ địa sinh thái được định nghĩa là một hệ thống động lực hở tự điều chỉnh, có ranh giới xác định, mang tính thống nhất biện chứng giữa các thành phần vô cơ và hữu cơ. Hệ vận động theo quy luật trao đổi vật chất, năng lượng và thông tin, biến đổi theo chu kỳ thuận nghịch hoặc không thuận nghịch (diễn thế sinh thái).
  • Cảnh quan sinh thái: Kế thừa quan điểm của Lê Bá Thảo (1982), G. Bertrand và J. Tricart, cảnh quan sinh thái được xác định là một tổng thể tự nhiên đồng nhất về mặt phát sinh, nền địa chất, địa hình, khí hậu và tập hợp các dạng cảnh quan có mối quan hệ nội tại mật thiết giữa môi trường vật lý (địa mạo, trầm tích, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng) và môi trường sinh học (quần xã thực vật, động vật và con người).
  • Du lịch sinh thái (Ecotourism): Sử dụng định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO), coi đây là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường, đóng góp cho bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia của cộng đồng địa phương.
  • Hệ thống phân vị địa sinh thái cảnh quan: Áp dụng hệ thống phân vị phân cấp từ khái quát đến chi tiết: Xứ $\rightarrow$ Đới $\rightarrow$ Miền $\rightarrow$ Khu $\rightarrow$ Cảnh $\rightarrow$ Dạng $\rightarrow$ Diện $\rightarrow$ Điểm sinh thái.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả đã kết hợp bốn phương pháp nghiên cứu địa lý truyền thống và hiện đại:

  1. Phương pháp phân tích - tổng hợp: Thu thập, xử lý các tài liệu thứ cấp về tự nhiên, khí tượng - thủy văn, địa chất, thổ nhưỡng, quy hoạch nông - lâm nghiệp và du lịch vùng Đồng bằng sông Cửu Long, tỉnh Kiên Giang và huyện Phú Quốc.
  2. Phương pháp thực địa: Khảo sát thực tế các hệ sinh thái tiêu biểu (rừng ngập mặn, rừng nguyên sinh, trảng tràm cát, thác suối, bờ biển), đối chiếu và kiểm chứng ranh giới trên bản đồ, chụp ảnh tư liệu cảnh quan.
  3. Phương pháp thống kê: Xử lý các chuỗi số liệu khí hậu (trạm Phú Quốc, trạm Rạch Giá), thổ nhưỡng, diện tích rừng, dân số, lao động và cơ cấu kinh tế năm 1998.
  4. Phương pháp bản đồ: Áp dụng phương pháp chập xếp (chồng ghép) các bản đồ đơn tính (địa mạo, địa chất sa thạch, thổ nhưỡng, mạng lưới thủy văn, thảm thực vật) kết hợp phương pháp nhân tố trội và phương pháp loại dần để vạch ranh giới các thể tổng hợp tự nhiên ở tỷ lệ 1/25.000.

Nguồn dữ liệu

Nguồn dữ liệu của khóa luận được tổng hợp từ:

  • Viện Địa lý Việt Nam (dữ liệu địa mạo, địa chất sa thạch trầm tích Trường Sơn theo Trần Kim Thạch, 1983).
  • Phân viện Quy hoạch Rừng Nam Bộ (số liệu kiểm kê diện tích và trữ lượng rừng năm 1998).
  • Phương pháp phân tích mẫu đất theo tiêu chuẩn của Trung tâm Thông tin Tham chiếu Đất Quốc tế (ISRIC, 1986) và Bảng phân loại đất WRB 1998 kết hợp Bảng phân loại đất Việt Nam.
  • Chương trình 60-B ("Báo cáo tổng hợp Tài nguyên - Môi trường - Phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long" do GS. Nguyễn Ngọc Trân chủ biên, 1987) và Đề tài 2502 KG/1994 của Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường tỉnh Kiên Giang.
  • Niên giám thống kê và báo cáo kinh tế - xã hội huyện Phú Quốc năm 1998.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý do chọn đề tài - Mục tiêu - Nhiệm vụ - Giới hạn và lược sử nghiên cứu đề tài

Tác giả tổng kết lịch sử nghiên cứu cảnh quan sinh thái:

  • Trên thế giới, quá trình chuyển đổi từ điều tra đơn ngành thế kỷ XIX sang điều tra tổng hợp bắt đầu từ thập niên 1970 (tiêu biểu là trường phái cảnh quan Đức với G. Haase, Pháp với J. Tricart và G. Bertrand, Canada với V.S. Preobrazhensky, A.G. Isachenko). Tại Úc, hệ thống phân loại đất - sinh thái 1/100.000 phục vụ nông nghiệp và phi nông nghiệp được triển khai từ năm 1971.
  • Tại Việt Nam và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), các công trình nền tảng gồm phân vùng ĐBSCL thành 5 vùng tự nhiên của GS. Vũ Tự Lập; Chương trình 60-B của GS. Nguyễn Ngọc Trân (chia ĐBSCL thành 4 vùng tự nhiên); công trình phân vùng sinh thái nông nghiệp của Trần An Phong (1986, chia ĐBSCL thành 9 vùng).
  • Tại Kiên Giang, công trình của GS. Nguyễn Ngọc Trân (1987) chia tỉnh thành 3 vùng sinh thái nông nghiệp (châu thổ, núi đồi ven biển, hải đảo và ven biển). Đề tài 2502 KG/1994 phân chia tỉnh thành 4 vùng sinh thái (Hà Tiên, Tứ Giác Long Xuyên, Bán đảo Cà Mau, và vùng hải đảo). Tác giả nhận xét các nghiên cứu trước đây chỉ dừng lại ở quy mô cấp miền hoặc cấp tỉnh, mang tính định hướng nông nghiệp tổng quát, chưa có nghiên cứu địa sinh thái cảnh quan chi tiết ở cấp huyện đảo phục vụ phát triển du lịch sinh thái.

Chương 2: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Chương này chuẩn hóa hệ thống lý thuyết về cấu trúc cảnh quan, mối liên hệ tương hỗ giữa nền địa chất, địa hình, khí hậu, nước ngầm, thổ nhưỡng và quần xã sinh vật. Khóa luận vạch rõ quy trình nghiên cứu 4 bước: (1) Xác định đề cương và mục tiêu; (2) Thu thập, hệ thống hóa tài liệu và thư mục tham khảo; (3) Xử lý, phân tích đơn tính và tổng hợp bằng kỹ thuật chập bản đồ; (4) Khảo sát thực địa kiểm chứng và hoàn chỉnh văn bản khóa luận.

Chương 3: Khái quát về môi trường tự nhiên và xã hội huyện Phú Quốc

Chương 3 tập trung phân tích toàn diện hiện trạng tự nhiên, tài nguyên và kinh tế - xã hội huyện đảo Phú Quốc với hệ thống dẫn liệu chi tiết:

  • Vị trí và địa hình: Huyện Phú Quốc gồm 26 đảo, tổng diện tích tự nhiên 59.305 ha, vùng biển quản lý rộng 60.000 km². Đảo chính Phú Quốc rộng 56.100 ha, chu vi bờ biển 150 km. Nền địa chất cấu tạo chủ yếu từ sa thạch. Địa hình chia thành Bắc Đảo (khoảng 40.000 ha, trên 70% là núi dốc 25 - 30°, có dãy Hàm Ninh dài 30 km đỉnh Chùa cao 565 m, dãy Chảo 382 m, dãy Hàm Rồng 365 m) và Nam Đảo (16.700 ha, đồi núi thấp xen trảng bằng dốc dưới 15°).
Cấp độ cao (m) Cấp độ dốc (độ) Hiện trạng và tiềm năng sử dụng Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
< 5 m < 8° Trảng bằng, trũng ven rạch; trồng rau, hoa màu, dừa, điều, cây ăn quả 6.900 11,6
5 - 40 m < 15° Trảng bằng lượn sóng; chuyên canh tiêu, điều, cây ăn quả 14.380 24,2
> 40 m > 15° Đồi núi dốc; duy trì và phát triển rừng 38.025 64,2
Tổng cộng 59.305 100,0
  • Khí hậu và thủy văn: Nhiệt độ trung bình năm đạt 27,1°C (tháng nóng nhất là tháng IV đạt 28,3°C, tháng lạnh nhất là tháng I đạt 25,5°C). Lượng mưa trung bình năm rất lớn: 3.037 mm. Mùa mưa kéo dài 8 tháng (tháng IV - XI), chiếm 90% lượng mưa cả năm; mùa khô 4 tháng (tháng XII - III) chỉ chiếm 10% lượng mưa. Mạng lưới sông rạch có mật độ 0,42 km/km² (rạch Cửa Cạn dài 28,7 km, rạch Dương Đông dài 18,5 km, rạch Đầm dài 14 km). Biên độ nhật triều thấp (0,7 - 1,2 m). Xâm nhập mặn sâu nhất vào tháng II - III (sông Cửa Cạn và Dương Đông bị mặn xâm nhập sâu 7 km). Chịu ảnh hưởng của thiên tai như bão số 5 (tháng 11/1997) làm chìm 804 tàu thuyền, 63 người chết và mất tích; lũ quét tháng 7/1997 gây ngập 2/3 thị trấn Dương Đông, thiệt hại 11 tỷ đồng.
  • Thổ nhưỡng: Toàn huyện có 7 loại đất thuộc 4 nhóm theo phân loại WRB và Việt Nam:
Nhóm đất Tên đất theo phân loại Việt Nam Tên đất theo WRB (1998) Ký hiệu Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
I. Đất cát 1. Đất cát biển trắng vàng Ferralic Arenosols C 5.640 9,51
2. Đất cát biển có tầng mặt giàu mùn Gleyic Arenosols Ch 5.033 8,49
3. Đất cồn cát trắng vàng Hypoluvic Arenosols Cc 371 0,63
II. Đất phù sa 4. Đất phù sa gley Gleyic Fluvisols Pg 1.177 1,98
III. Đất xám 5. Đất xám trên đá macma acid và đá cát Arenic Acrisols Xa 4.020 6,78
6. Đất xám có tầng loang lổ đỏ vàng Gleyic Acrisols Xf 6.352 10,71
IV. Đất đỏ vàng 7. Đất vàng nhạt trên đá cát Skeletic / Arenic Acrisols Fq 36.678 61,85
Mặt nước Sông suối và mặt nước chuyên dùng - - 84 0,14
Tổng cộng 59.305 100,00
  • Tài nguyên sinh vật, khoáng sản và nhân văn:
    • Rừng: Tổng diện tích đất có rừng năm 1998 là 38.859 ha (độ che phủ 65,5%), gồm 37.912 ha rừng tự nhiên (chiếm 97,4% đất rừng) và 1.011 ha rừng trồng (2,6%). Rừng lá rộng chiếm 86,13%, rừng tràm chiếm 11,06%, rừng ngập mặn chiếm 80 ha (0,21%). Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Đảo rộng 14.400 ha bảo tồn nhiều gỗ quý (kiền kiền, chai, săng lẻ). Động vật có trên 400 loài, trong đó vượn tay trắng và cá sấu nước ngọt thuộc diện nguy cấp.
    • Biển: Ngư trường có trữ lượng khoảng 0,5 triệu tấn hải sản, khả năng khai thác 200.000 tấn/năm (thực tế khai thác ~50.000 tấn), nổi tiếng với nguồn cá cơm làm nước mắm.
    • Khoáng sản: Đã đăng ký 17 điểm với 7 loại khoáng sản: đá huyền (Xà Lực, Gành Dầu, Bãi Vòng), sa thạch xây dựng (Dương Đông), sét gạch ngói (Suối Đá, trữ lượng 100.000 m³), cao lanh (5 điểm, 2 triệu m³), cát thủy tinh (4 điểm, 30 triệu m³, riêng Bãi Sao 500.000 m³), cát xây dựng (Gành Gió, Đất Đỏ) và đá ong laterit.
    • Xã hội (1998): Dân số toàn huyện là 66.748 người (thành thị 25%, nông thôn 75%; mật độ 113 người/km²; người Kinh chiếm 94,8%, Hoa 4,3%, Khmer 0,9%). Toàn huyện có 30.792 lao động xã hội, trong đó lao động ngành hải sản chiếm 40%, dịch vụ và ngành khác 42%, nông - lâm nghiệp chiếm 18%. Nhà tạm chiếm 56,7%; tỷ lệ hộ dùng giếng khoan chỉ đạt 3,7%; hộ nghèo chiếm 6,6% (năm 1997).

Chương 4: Phương pháp phân vùng địa sinh thái cảnh quan

Chương 4 thiết lập hệ thống nguyên tắc và chỉ tiêu phân hóa cảnh quan trên đảo:

  • Phân tích mối quan hệ phát sinh giữa cấu trúc trầm tích sa thạch với địa mạo đổi núi, mối quan hệ giữa địa mạo với thổ nhưỡng (quá trình rửa trôi tạo đất xám, đất vàng nhạt trên sườn dốc và đất phù sa gley, đất cát ở vùng thấp) và chế độ thủy văn (mạng lưới suối ngắn dốc thoát nước nhanh gây lũ quét, ngập úng mùa mưa và cạn kiệt mùa khô).
  • Quy định hệ thống tiêu chí phân định các cấp phân vị: Khu sinh thái (đồng nhất về cấu trúc kiến tạo địa mạo và khí hậu hải đảo) $\rightarrow$ Cảnh sinh thái (đồng nhất về hình thái địa mạo lớn, kiểu khí hậu địa phương và lớp phủ thổ nhưỡng - thực vật chính) $\rightarrow$ Dạng sinh thái $\rightarrow$ Diện sinh thái.

Chương 5: Kết quả phân vùng địa sinh thái cảnh quan huyện Phú Quốc và định hướng phát triển du lịch sinh thái

Chương 5 là nội dung ứng dụng thực tiễn của đề tài:

  • Trình bày bản đồ và sơ đồ phân vùng chi tiết: Đảo Phú Quốc được phân định thành 1 khu sinh thái, 4 cảnh sinh thái, 11 dạng sinh thái và 145 diện sinh thái.
  • Mô tả chi tiết đặc trưng địa mạo, thổ nhưỡng, thảm thực vật và vi khí hậu của 4 cảnh sinh thái chính.
  • Khái quát hiện trạng tài nguyên du lịch và đề xuất định hướng không gian phát triển gồm:
    • 5 loại hình du lịch sinh thái: Du lịch tham quan - nghiên cứu hệ sinh thái rừng nguyên sinh; du lịch nghỉ dưỡng tắm biển thể thao nước; du lịch leo núi khám phá thác suối; du lịch sinh thái nông nghiệp (tham quan vườn tiêu, vườn cây ăn quả); du lịch văn hóa làng nghề truyền thống kết hợp sinh thái nhân văn (nhà thùng nước mắm, di tích lịch sử Dinh Cậu, nhà tù Phú Quốc).
    • 4 tuyến du lịch sinh thái: Thiết kế 4 tuyến lộ trình kết nối các điểm cảnh quan tiêu biểu trên đảo (Đá Bàn, Suối Tranh, Bãi Thơm, Bãi Dài, Bãi Sao, Vườn Quốc gia Phú Quốc).

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính kèm số liệu trong văn bản

  • Thiết lập cơ sở dữ liệu số học hoàn chỉnh về điều kiện tự nhiên của huyện: phân bố độ dốc (núi dốc >15° chiếm 64,2%), diện tích đất có rừng (38.859 ha, che phủ 65,5%), hệ thống 7 loại đất với ưu thế tuyệt đối của đất vàng nhạt trên đá cát Fq (36.678 ha, chiếm 61,85%).
  • Hoàn thành bản đồ phân vùng địa sinh thái cảnh quan đảo Phú Quốc ở tỷ lệ lớn, phân chia cụ thể thành:
    • 1 Khu sinh thái: Khu sinh thái đảo lớn Phú Quốc.
    • 4 Cảnh sinh thái: Xác định theo các khối địa mạo và thảm thực vật đặc trưng.
    • 11 Dạng sinh thái.
    • 145 Diện sinh thái: Đơn vị cảnh quan cơ sở có tính đồng nhất cao về sinh cảnh và thổ nhưỡng.
  • Xây dựng phương án phát triển du lịch sinh thái khả thi với 5 loại hình chuyên đề và 4 tuyến du lịch sinh thái kết nối các hệ sinh thái rừng ngập mặn, rừng nguyên sinh, trảng tràm, thác suối và bãi biển.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Bảo vệ tài nguyên rừng và đa dạng sinh học: Quản lý nghiêm ngặt 14.400 ha rừng cấm Bắc Đảo, bảo vệ các nguồn gien động vật quý hiếm (vượn tay trắng, cá sấu nước ngọt) và duy trì chức năng giữ nguồn sinh thủy tối quan trọng của rừng lá rộng.
  • Giải quyết bài toán cấp nước: Do đặc thù mùa khô thiếu nước nghiêm trọng, tác giả kiến nghị ưu tiên đầu tư xây dựng các hồ chứa nước ngọt trên các hệ thống rạch Cửa Cạn, Dương Đông nhằm điều tiết dòng chảy và tích trữ nước sinh hoạt, sản xuất.
  • Hạ tầng và quản lý dân cư: Kiểm soát tình trạng di dân tự do (nhất là dòng di cư đột biến trong giai đoạn 1997 - 1998 tại An Thới và Gành Dầu); nâng cấp mạng lưới giao thông liên xã, bến cảng, hạ tầng cấp điện, cấp nước sạch (khắc phục tình trạng 56,7% nhà tạm và chỉ 3,7% hộ có nước giếng khoan).
  • Phát triển du lịch gắn với bền vững môi trường: Khai thác du lịch có kiểm soát tải trọng tại các điểm nhạy cảm sinh thái (suối Tranh, thác Đá Bàn, bãi san hô); kết hợp bảo tồn làng nghề truyền thống làm nước mắm cá cơm và canh tác hồ tiêu đặc sản.

Đóng góp so với các nghiên cứu trước

  • Các nghiên cứu trước đây (của GS. Vũ Tự Lập, Chương trình 60-B của GS. Nguyễn Ngọc Trân năm 1987, Trần An Phong năm 1986, và Đề tài 2502 KG/1994 của Kiên Giang) chỉ dừng lại ở việc xếp toàn bộ huyện Phú Quốc thành một tiểu vùng đơn nhất thuộc vùng sinh thái hải đảo cấp tỉnh hoặc cấp miền ĐBSCL, chủ yếu phục vụ định hướng nông nghiệp tổng thể.
  • Khóa luận của sinh viên Vũ Quang Trang là công trình đầu tiên đi sâu phân tích cấu trúc cảnh quan nội tại của đảo Phú Quốc ở cấp vi mô (xuống tới 11 dạng sinh thái và 145 diện sinh thái), gắn kết phương pháp phân vùng địa lý tự nhiên với mục tiêu quy hoạch không gian du lịch sinh thái bền vững.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận được tác giả tự xác định một số hạn chế do điều kiện nghiên cứu thực tế quy định:

  • Đề tài chỉ dừng lại ở việc mô tả cấp cảnh, dạng và diện sinh thái; chưa phân tích chi tiết tới cấp điểm sinh thái (ecotope) do hạn chế về kinh phí, trang thiết bị đo đạc và thời gian khảo sát thực địa.
  • Nghiên cứu chưa đi sâu làm rõ cấu trúc vi mô và cơ chế vận hành định lượng của các luồng vật chất, năng lượng nội bộ giữa các hợp phần địa sinh thái.
  • Về phạm vi không gian, đề tài chỉ giới hạn khảo sát trên đảo chính Phú Quốc, chưa tiến hành phân vùng và đánh giá hệ thống 25 đảo nhỏ xung quanh thuộc quần đảo An Thới và quần đảo Thổ Châu.
  • Các định hướng về sản phẩm và tuyến du lịch mới dừng ở mức phác thảo khung quy hoạch không gian cảnh quan, cần có các nghiên cứu tiếp theo về sức chứa sinh thái (carrying capacity) và đánh giá tác động môi trường chi tiết cho từng dự án du lịch cụ thể.

Giá trị tham khảo

Tài liệu này có giá trị học thuật và thực tiễn chuyên ngành:

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu thuộc các ngành Địa lý tự nhiên, Cảnh quan học, Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên - Du lịch, và Quy hoạch Lãnh thổ.
  • Các phần có giá trị tư liệu cao:
    • Chương 3: Hệ thống dữ liệu định lượng chi tiết về địa chất, thổ nhưỡng (phân loại WRB), khí hậu, mạng lưới thủy văn, kiểm kê rừng năm 1998 và hiện trạng kinh tế - xã hội sơ khởi của Phú Quốc trước giai đoạn phát triển nóng.
    • Chương 4: Quy trình phương pháp luận chập xếp bản đồ đơn tính để xác định ranh giới cảnh quan sinh thái, phương pháp kết hợp nhân tố trội và mối liên hệ tương hỗ trầm tích - địa mạo - thổ nhưỡng - sinh vật trên địa bàn hải đảo.
    • Chương 5: Bản đồ, danh mục phân vùng 145 diện sinh thái và hệ thống phân chia các tuyến - điểm du lịch sinh thái trên đảo Phú Quốc.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu thổ nhưỡng của huyện Phú Quốc gồm những loại đất nào và loại nào chiếm ưu thế?

Theo kết quả phân tích theo hệ thống WRB (1998) và phân loại đất Việt Nam trong khóa luận, Phú Quốc có 7 loại đất thuộc 4 nhóm chính. Trong đó, nhóm đất đỏ vàng với duy nhất loại đất vàng nhạt trên đá cát (Fq / Skeletic Acrisols) chiếm ưu thế tuyệt đối với diện tích 36.678 ha (tương đương 61,85% tổng diện tích tự nhiên). Các loại đất còn lại gồm: đất xám có tầng loang lổ đỏ vàng Xf (10,71%), đất cát biển trắng vàng C (9,51%), đất cát có tầng mặt giàu mùn Ch (8,49%), đất xám trên đá macma acid và đá cát Xa (6,78%), đất phù sa gley Pg (1,98%) và đất cồn cát trắng vàng Cc (0,63%).

2. Kết quả phân chia hệ thống phân vị địa sinh thái cảnh quan đảo Phú Quốc đạt được con số cụ thể là bao nhiêu?

Khóa luận đã phân chia địa bàn đảo Phú Quốc thành một hệ thống phân vị gồm:

  • 1 Khu sinh thái (Khu sinh thái đảo Phú Quốc).
  • 4 Cảnh sinh thái.
  • 11 Dạng sinh thái.
  • 145 Diện sinh thái.

3. Tác giả đã định hướng quy hoạch bao nhiêu loại hình và tuyến du lịch sinh thái tại huyện đảo?

Dựa trên kết quả phân vùng địa sinh thái, khóa luận đã thiết kế và đề xuất 5 loại hình du lịch sinh thái (nghiên cứu rừng nguyên sinh; nghỉ dưỡng tắm biển; leo núi khám phá thác suối; sinh thái nông nghiệp; sinh thái nhân văn - làng nghề) và 4 tuyến du lịch sinh thái kết nối các điểm cảnh quan đặc trưng của huyện đảo.

4. Tại sao Phú Quốc có lượng mưa hàng năm rất lớn nhưng vẫn đối mặt với tình trạng thiếu nước ngọt vào mùa khô?

Khóa luận chỉ ra hai nguyên nhân chính:

  • Đặc điểm phân bố mùa của khí hậu: Mặc dù lượng mưa trung bình năm đạt tới 3.037 mm, nhưng lượng mưa phân bố không đều, mùa mưa kéo dài 8 tháng (tháng IV - XI) chiếm tới 90% lượng nước, trong khi 4 tháng mùa khô (tháng XII - III) chỉ chiếm 10% lượng mưa cả năm.
  • Cấu trúc địa hình và địa chất: Trên 64% diện tích đảo là đồi núi dốc (>15°), mạng lưới sông suối ngắn và dốc, cửa thoát nước nhanh trực tiếp ra biển nên khả năng tích trữ nước mặt tự nhiên kém. Đồng thời, nền địa chất đảo cấu tạo từ đá sa thạch có kết cấu hình bình hành bị bào mòn theo hông, làm giảm khả năng giữ nước ngầm tầng sâu ở nhiều khu vực (như Bắc Đảo).

5. Hiện trạng tài nguyên rừng của huyện Phú Quốc năm 1998 có đặc điểm gì nổi bật?

Theo số liệu thống kê của Phân viện Quy hoạch Rừng Nam Bộ trong khóa luận, diện tích đất có rừng năm 1998 là 38.859 ha (chiếm 65,5% diện tích tự nhiên toàn huyện). Trong đó, rừng tự nhiên chiếm ưu thế áp đảo với 37.912 ha (97,4% tổng diện tích đất rừng), rừng trồng chỉ chiếm 1.011 ha (2,6%). Xét theo thảm thực vật tự nhiên, rừng lá rộng chiếm 86,13%, rừng tràm chiếm 11,06%, rừng ngập mặn chỉ chiếm 80 ha (0,21%). Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Đảo có diện tích 14.400 ha là nơi lưu giữ nhiều loài động thực vật quý hiếm.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả đã vận dụng thành công lý luận địa sinh thái cảnh quan và phương pháp chồng xếp bản đồ đơn tính để phân chia lãnh thổ đảo Phú Quốc thành 1 khu, 4 cảnh, 11 dạng và 145 diện sinh thái. Nghiên cứu cung cấp một bức tranh toàn diện, có căn cứ số liệu khoa học chính xác về cấu trúc tự nhiên, thổ nhưỡng, tài nguyên rừng và hiện trạng kinh tế - xã hội của huyện đảo tại thời điểm năm 1998 - 2004. Đây là công trình địa lý ứng dụng có giá trị tham khảo tốt cho công tác tổ chức không gian lãnh thổ, định hướng phát triển du lịch sinh thái gắn liền với bảo tồn tính nguyên vẹn của môi trường cảnh quan hải đảo.