Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm 1. Văn hoá Văn hóa là một trong những lĩnh vực gắn với đời sống của nhân loại, là đặc trưng riêng của con người. Hiện nay, trên thế giới đã có khoảng 400 - 500 định nghĩa khác nhau về văn hóa.
Các khái niệm đó không giống nhau tùy theo cách hiểu rộng hay hẹp khác nhau, trong khi văn hóa là lĩnh vực vô cùng rộng lớn, phong phú và phức tạp. Mặt khác, cũng như các lĩnh vực khoa học xã hội khác, ngành khoa học về văn hóa có tính chất lịch sử phát triển xuyên suốt lịch sử loài người. Trong quá trình lịch sử đó nội dung và khái niệm của văn hóa cũng thay đổi theo. Sau đây là một số khái niệm về văn hóa.
Vào thế kỷ XVIII, cuối thế kỷ XIX, các nhà khoa học trên thế giới mới nghiên cứu sâu về lĩnh vực này. Định nghĩa văn hoá đầu tiên được chấp nhận rộng rãi là định nghĩa do nhà nhân chủng học E.B Tylor đưa ra: “Văn hoá là một tổng thể phức tạp bao gồm các kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục và toàn bộ những kỹ năng, thói quen mà con người đạt được với tư cách là thành viên của một xã hội”.13] Khái niệm tiếp theo được được hiểu một cách dễ dàng hơn với bản chất của văn hóa được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa năm 1970 tại Viense do Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) phát triển:“Văn hóa phản ảnh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống của mỗi cá nhân và của mỗi cộng đồng đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao nhiêu thế kỷ nó đã cấu thành một hệ sống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống và dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình” [6;tr. Định nghĩa này đã nêu khá đầy đủ các khía cạnh của VHDN và hiện nay đang được sử dụng một cách phổ biến trên thế giới. 7 Nhưng ở Việt Nam, chúng ta thường sử dụng định nghĩa văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như vì mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương tiện phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [11; tr. Với cách hiểu này, văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ những gì do con người sáng tạo và phát minh ra. Văn hoá là phương tiện để con người “điều chỉnh” (cải tạo) cuộc sống của mình theo định hướng vươn tới những giá trị chân, thiện, mỹ. Được xem là cái “nền tảng”, “vừa là mục tiêu vừa là động lực cho sự phát triển” của con người và xã hội ngày càng thăng bằng và bền vững hơn, văn hoá có tác dụng tích cực đối với sự phát triển của mỗi cá nhân cũng như toàn bộ cộng đồng.
Nội lực của một dân tộc trước hết là mọi nguồn lực tập hợp từ vốn văn hoá truyền thống đã tích luỹ trong lịch sử của chính dân tộc đó.5] Trong cuốn “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, tác giả Trần Ngọc Thêm có đề cập đến khái niệm văn hóa như sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động từ thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [20; tr. Đây là một khái niệm căn bản và dễ hiểu nhất, được sử dụng phổ biến trong quá trình giảng dạy. Vì vậy, đây cũng là khái niệm mà em lựa chọn để sử dụng xuyên suốt bài làm của mình. Như vậy, văn hoá không phải là một yếu tố phi kinh tế, trái lại, văn hoá và kinh tế, môi trường lại có mối quan hệ qua lại gắn bó mật thiết với nhau: văn hoá và kinh doanh đều có mục tiêu chung là phục vụ con người, văn hoá là nguồn lực lớn cho kinh doanh.
Tuy nhiên mục tiêu của văn hoá và kinh doanh lại có thể trái ngược nhau, nếu kinh doanh chỉ chạy theo lợi nhuận trước mắt thì sẽ gây tác hại cho văn hoá, xói mòn bản sắc văn hoá dân tộc, hủy hoại môi 8 trường. Trái lại, khi nền văn hoá mang những yếu tố không phù hợp sẽ kìm hãm, cản trở sự phát triển của kinh doanh. Khái niệm chung Vị thế của quốc gia trên trường quốc tế một phần được khẳng định bởi nền kinh tế của chính quốc gia đó. Nền kinh tế của một quốc gia được đánh giá là mạnh hay yếu phụ thuộc vào lực lượng doanh nghiệp- lực lượng trực tiếp tạo ra sản phẩm và phân phối sản phẩm đóng vai trò là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP).
Tính tới thời điểm đầu năm 2017, Việt Nam có trên 600.000 doanh nghiệp, đóng góp hơn 60% GDP cả nước. Tại khoản 10, điều 4, Luật Doanh nghiệp số 59 năm 2020 ban hành ngày 17 tháng 6 năm 2020 quy định: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” [7; Điều 4]. Vậy theo định nghĩa tại Luật Doanh nghiệp số 59 năm 2020, một tổ chức có đầy đủ các yếu tố như tên riêng, tài sản, trụ sở giao dịch và được đăng kí thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh thì được gọi là doanh nghiệp. Những tổ chức thiếu một trong các yếu tố trên không được xem là doanh nghiệp.
Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng có những đặc trưng giống nhau. Dựa vào các đặc trưng người ta chia doanh nghiệp thành các loại hình khác nhau. Các đặc trưng phân loại doanh nghiệp a, Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 ban hành ngày 17 tháng 6 năm 2020, theo nội dung Luật Doanh nghiệp quy định, có 05 loại hình doanh nghiệp: - Công ty Trách nhiệm hữu hạn; - Doanh nghiệp Nhà nước; - Công ty Cổ phần; 9 - Công ty Hợp danh; - Doanh nghiệp tư nhân.26] b, Theo quy mô Phân loại doanh nghiệp theo quy mô người ta dựa vào hai tiêu chí: Lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, tổng nguồn vốn và số lao động. Theo tiêu chí quy mô, doanh nghiệp được chia thành 04 loại: Doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp siêu nhỏ.9] Nhà nước có chính sách trợ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa trong các lĩnh vực tài chính; mặt bằng sản xuất; đổi mới, nâng cao năng lực công nghệ, trình độ kỹ thuật; xúc tiến mở rộng thị trường; tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia kế hoạch mua sắm, cung ứng dịch vụ công; thông tin và tư vấn; trợ giúp phát triển nguồn nhân lực; vườn ươm doanh nghiệp.2] c, Theo ngành nghề kinh doanh Ở Việt Nam, khi phân theo ngành nghề kinh doanh, các doanh nghiệp được phân theo 04 loại hình doanh nghiệp như sau: - Doanh nghiệp nông, lâm nghiệp và thủy sản: Là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm và thủy sản hướng vào việc tạo ra những mặt hàng nông sản.
Hoạt động trong lĩnh vực này phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên. - Doanh nghiệp công nghiệp và xây dựng: Là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh công nghiệp, nhằm tạo ra những sản phẩm bằng cách sử dụng máy móc để khai thác hoặc chế biến nguyên vật liệu thành thành phẩm. Trong công nghiệp có thể chia ra: Công nghiệp xây dựng, công nghiệp chế tạo, công nghiệp điện tử. - Doanh nghiệp thương mại: Là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại; hướng vào việc khai thác dịch vụ trong khâu phân phối hàng hóa cho người tiêu dùng, tức là thực hiện những dịch vụ mua vào và bán ra để kiếm 10 lời.
Doanh nghiệp thương mại có thể tổ chức dưới hình thức buôn bán sỉ hoặc buôn bán lẻ và hoạt động của nó có thể hướng vào xuất nhập khẩu. - Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ: Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, lĩnh vực dịch vụ càng được phát triển đa dạng, những doanh nghiệp trong ngành dịch vụ đã không ngừng phát triển nhanh chóng về mặt số lượng và doanh thu mà còn ở tính đa dạng và phong phú của lĩnh vực này như: Ngân (hàng, tài chính, bảo hiểm, bưu chính viễn thông, vận tải, du lịch, khách sạn, y tế v.17] d, Theo hình thức sở hữu Căn cứ vào hình thức sở hữu tài sản trong doanh nghiệp, các doanh nghiệp được chia thành: Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp hùn vốn, doanh nghiệp tư nhân. Văn hoá doanh nghiệp Văn hóa doanh nghiệp là quan niệm được quan tâm nhiều trong thời gian gần đây nhưng vẫn có nhiều cách khác nhau để định nghĩa văn hóa doanh nghiệp. Đó là vì nó bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp, lịch sử hình thành của công ty,.
Dưới đây là một số cách định nghĩa về văn hóa doanh nghiệp: Theo Tổ chức lao động quốc tế ILO (International Labour Organization): “Văn hoá doanh nghiệp là một tập hợp các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết”.4] Hay theo Georges de Saite Marie, chuyên gia người Pháp về doanh nghiệp vừa và nhỏ: “Văn hoá doanh nghiệp là tổng hợp các giá trị, các biểu tượng, huyền thoại, nghi thức, các điều cấm kỵ, các quan điểm triết học, đạo đức tạo thành nền móng sâu xa của doanh nghiệp”.7] Tuy nhiên định nghĩa phổ biến và được chấp nhận rộng rãi nhất là định nghĩa của chuyên gia nghiên cứu các tổ chức kinh tế Edgar Schein: “Văn hóa 11 công ty là tổng hợp những quan niệm chung mà các thành viên trong công ty học được trong quả trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trường xung quanh” [17;tr. Định nghĩa này vừa ngắn gọn vừa phản ảnh bản chất lẫn quá trình hình thành của văn hóa doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp có thể hiểu theo nhiều cách nhưng dù là theo cách nào đi nữa, cũng không ngoài mục đích cuối cùng là tạo ra một niềm tin đối với khách hàng, với các nhà quản lý, tạo môi trường làm việc tốt nhất, thuận lợi nhất, tạo niềm tin cho nhân viên để họ làm việc tốt hơn và gắn bó với công ty.