Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp đại học "Tìm hiểu tình hình tự học Toán của học sinh tại một số trường PTTH trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh" do sinh viên Trần Yến Phương thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TSKH. Nguyễn Chí Long tại Khoa Toán - Tin, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (niên khóa 1997 - 2001). Nghiên cứu được đặt trong bối cảnh nền giáo dục Việt Nam bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, nơi nhu cầu học tập của xã hội gia tăng nhưng thực tiễn giáo dục phổ thông lại bộc lộ nhiều bất cập đáng báo động.
Mặc dù truyền thống dân tộc luôn coi trọng việc học ("Lấy việc học làm gốc", "Học một biết mười", "Học thầy không tày học bạn"), thực trạng dạy và học thời điểm nghiên cứu tồn tại nhiều biểu hiện tiêu cực: phương pháp truyền thụ một chiều từ thầy sang trò chiếm ưu thế, học sinh tiếp thu thụ động (nghe, ghi nhớ, lặp lại); tình trạng dạy thêm - học thêm tràn lan; học sinh học lệch, học tủ nhằm đối phó với thi cử; nhà trường chạy theo bệnh thành tích; phụ huynh tạo áp lực học tập quá mức khiến học sinh căng thẳng, kiệt quệ và mất dần năng lực tư duy độc lập. Trong khi đó, môn Toán là môn khoa học cơ bản rèn luyện khả năng suy luận, óc phán đoán và giải quyết vấn đề, đòi hỏi cao ở khả năng tự học, tự nghiên cứu tài liệu.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Thông qua phiếu điều tra và phỏng vấn nhằm đánh giá thực trạng tình hình tự học môn Toán của học sinh ở các trường Phổ thông Trung học (PTTH) trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
- Đề xuất các ý kiến và giải pháp sư phạm nhằm nâng cao tính chủ động, phát huy năng lực tự học và cải thiện hiệu quả dạy - học môn Toán ở bậc PTTH.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tiếp cận các nhóm đối tượng học sinh (giỏi, khá, trung bình, yếu) để trao đổi sơ bộ, từ đó thiết kế và hoàn thiện bảng câu hỏi thăm dò.
- Khảo sát thực trạng việc học tập và tự học môn Toán của học sinh PTTH hiện nay.
- Phân tích sự khác biệt về khả năng tự học môn Toán giữa học sinh nam và nữ; giữa học sinh các khối lớp (10, 11, 12) tại các trường thuộc các quận khác nhau trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
- Xác định các yếu tố có mức độ ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động tự học môn Toán của học sinh.
- Đánh giá mức độ tác động của hệ thống thư viện, chương trình sách giáo khoa (SGK), phương pháp giảng dạy của giáo viên và chủ trương của nhà trường đến hoạt động tự học Toán của học sinh.
Đối tượng và khách thể nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động tự học môn Toán của học sinh bậc PTTH.
- Khách thể nghiên cứu: Học sinh, giáo viên, chương trình Toán PTTH, trang thiết bị sách báo tại thư viện trường học và các chủ trương quản lý giáo dục liên quan đến việc tự học.
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Khảo sát tại 12 trường PTTH trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh bao gồm cả trường công lập và bán công: THPT Chuyên Lê Hồng Phong, Trung học Thực hành (ĐH Sư phạm), Trưng Vương, Lê Quý Đôn, Nguyễn Thị Minh Khai, Thủ Đức, Ten-lơ-man (Ernst Thälmann), Nguyễn Thượng Hiển, Marie Curie, Gò Vấp, Nguyễn Công Trứ, Hùng Vương.
- Thời gian thực hiện: Từ tháng 12/2000 đến tháng 05/2001 (thu thập dữ liệu thực địa từ tháng 3 đến tháng 4/2001).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và mô hình tiếp cận
Tác giả xây dựng cơ sở lý luận dựa trên các định hướng giáo dục của Đảng, lý luận dạy học hiện đại và các quy luật tâm - sinh lý, triết học:
- Cơ sở văn kiện và chính sách: Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa VIII) và Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, nhấn mạnh nhiệm vụ phát triển phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên, xây dựng năng lực nội sinh và tinh thần tự học sáng tạo của học sinh.
- Cơ sở triết học: Quy luật phát triển nội tại của sự vật. Ngoại lực (hoạt động dạy của thầy) đóng vai trò hỗ trợ, xúc tác, định hướng; nội lực (năng lực tự học của trò) là nhân tố quyết định trực tiếp sự phát triển nhận thức của bản thân người học. Chất lượng giáo dục đạt mức tối ưu khi có sự cộng hưởng giữa ngoại lực và nội lực.
- Cơ sở sinh học và tâm lý sư phạm: So sánh hai cơ chế phản xạ:
- Mô hình Pavlov (dạy học thụ động): Cá thể bị cô lập, phản xạ thụ động trước kích thích một chiều do bên ngoài áp đặt; tương ứng với việc thầy rót tri thức có sẵn, trò ghi nhớ máy móc.
- Mô hình Skinner (dạy học tích cực - lấy người học làm trung tâm): Theo phân tích của GS. Lê Quang Long, cá thể được chủ động thử nghiệm, tự điều chỉnh sai sót để tìm kiếm thức ăn; tương ứng với quá trình học sinh tự mình tìm kiếm và kiến tạo tri thức.
- Lý thuyết Chu trình Dạy - Tự học của GS. Nguyễn Cảnh Toàn (1997):
- Chu trình tự học của trò (H): Mô hình 3 pha gồm H1 (Tự nghiên cứu: phát hiện vấn đề, thu thập thông tin, tìm tòi quy luật) $\rightarrow$ H2 (Tự thể hiện: bảo vệ quan điểm, tương tác nhóm, đối thoại) $\rightarrow$ H3 (Tự kiểm tra, tự điều chỉnh: đối chiếu kết luận khoa học, sửa đổi tri thức ban đầu).
- Chu trình dạy của thầy (D): Mô hình 3 pha tương ứng gồm D1 (Hướng dẫn) $\rightarrow$ D2 (Tổ chức môi trường học tập) $\rightarrow$ D3 (Trọng tài khoa học, cố vấn, kiểm tra).
- Quá trình chuyển hóa tri thức: Biến đổi từ Tri thức cá nhân (KT1) $\rightarrow$ Tri thức xã hội (KT2) $\rightarrow$ Tri thức khoa học (KT3).
- Quan điểm chuyên gia: Tổng hợp luận điểm về tự học của GS. Hoàng Xuân Sính, ông Vũ Văn Tảo, tài liệu "Học tập hợp lý" của tác giả R. Retzke, cùng các tấm gương tự học tiêu biểu như Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Huỳnh Thúc Kháng và Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn.
[NGOẠI LỰC: THẦY]
D1 - Hướng dẫn
D2 - Tổ chức
D3 - Trọng tài, cố vấn
[NỘI LỰC: TRÒ]
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp tài liệu từ sách chuyên khảo, Tạp chí Toán học và Tuổi trẻ, Tạp chí Giáo dục và Sáng tạo, Tạp chí Nghiên cứu khoa học.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Xây dựng phiếu điều tra chính thức gồm 15 câu hỏi trắc nghiệm và thang đo Likert, kết hợp bảng phóng lớn (showcard) để hỗ trợ khảo sát.
- Phương pháp phỏng vấn và quan sát: Tiếp xúc trực tiếp học sinh các phân loại học lực (giỏi, khá, trung bình, yếu) và giáo viên tại trường Ten-lơ-man và các trường khảo sát để thu thập ý kiến định tính.
- Phương pháp xử lý dữ liệu thống kê: Sử dụng phần mềm thống kê SPSS để tính toán tần số ($N$), tỷ lệ phần trăm ($%$), giá trị trung bình, kiểm định Chi bình phương ($\chi^2$), phân tích hệ số tương quan và phân tích nội dung.
Nguồn dữ liệu và mẫu khảo sát
Kế hoạch khảo sát dự kiến phân bổ trên 500 học sinh thuộc 12 trường PTTH. Sau giai đoạn thử nghiệm tại trường Ten-lơ-man và tiến hành sàng lọc, loại bỏ các phiếu không hợp lệ hoặc có mâu thuẫn thông tin, mẫu dữ liệu phân tích chính thức bao gồm $N = 200$ học sinh thuộc 3 khối lớp (lớp 10, lớp 11, lớp 12) của 12 trường THPT trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 0: Mở đầu
Chương mở đầu xác lập tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ sự tụt hậu của phương pháp dạy học truyền thống so với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Tác giả trình bày mục đích nghiên cứu, 5 nhiệm vụ cụ thể, khách thể và đối tượng nghiên cứu, phạm vi không gian - thời gian, phương pháp luận và xây dựng giả thuyết khoa học của khóa luận.
Chương I: Cơ sở lý luận
Chương này hệ thống hóa các khái niệm nền tảng về bản chất của hoạt động tự học và mối quan hệ biện chứng giữa dạy học và tự học:
- Phân tích thực trạng giáo dục: Dẫn chứng các phản ánh từ diễn đàn giáo dục báo Phụ nữ Chủ nhật của các tác giả Nguyễn Ngọc Diễm (Quận 10), Đoàn Xuân Hòa (Quận 9), Lê Thị Ngọc Hoa (Quận 11) về vấn nạn chạy theo thành tích, áp lực luyện thi, học thêm tràn lan và sự thụ động của học sinh trong phương pháp học tập từ chương.
- Phân tích mô hình sư phạm: Phân biệt dạy học thụ động (lấy người dạy làm trung tâm) và dạy học tích cực (lấy người học làm trung tâm); phân tích cơ sở triết học về nội lực - ngoại lực và cơ sở sinh học qua mô hình phản xạ có điều kiện.
- Cấu trúc quá trình dạy - tự học: Trình bày chi tiết chu trình 3 pha của GS. Nguyễn Cảnh Toàn, phân tích quy trình 4 thời điểm với 8 thao tác nghiên cứu cá nhân, 4 thao tác hợp tác với thầy và 5 thao tác tự kiểm tra - điều chỉnh.
- Kỹ năng và hình thức tự học Toán: Xác định hệ thống kỹ năng tự học cần thiết (lập kế hoạch thời gian biểu, đọc hiểu SGK và tài liệu tham khảo, ghi chép khoa học, vận dụng tri thức liên môn) và phân tích các biểu hiện đặc thù khi tự học môn Toán (tự giải bài tập, tự đặt đề toán, tìm nhiều cách giải, thảo luận dạng hội thảo khoa học).
Chương II: Phương pháp nghiên cứu
Chương II trình bày quy trình thiết kế công cụ và tổ chức thu thập thông tin:
- Quy trình lấy mẫu: Phân bổ mẫu tại 12 trường PTTH (mỗi khối chọn các lớp đại diện cho các hệ công lập, bán công và các nhóm trình độ giỏi, khá, trung bình, yếu).
- Thiết kế công cụ: Quy trình 2 giai đoạn, từ tiếp xúc phỏng vấn sâu ban đầu tại trường Ten-lơ-man với 8 câu hỏi định hướng đến thiết kế bảng câu hỏi chính thức 15 câu.
- Kỹ thuật thu thập và xử lý: Phát phiếu ẩn danh trực tiếp tại lớp học để đảm bảo tính khách quan; nhập liệu, mã hóa và phân tích định lượng bằng phần mềm SPSS.
- Kế hoạch tiến độ: Phân chia 4 giai đoạn làm việc chi tiết từ tháng 12/2000 đến tháng 05/2001.
Chương III: Kết quả nghiên cứu
Chương này trình bày toàn bộ số liệu thống kê mô tả và phân tích thực trạng tự học môn Toán qua 3 phần:
- Phần 1 - Khái quát mẫu nghiên cứu: Thống kê cơ cấu giới tính (Bảng 1), phân bố số lượng học sinh theo 12 trường PTTH (Bảng 2) và phân bố theo 3 khối lớp 10, 11, 12 (Bảng 3).
- Phần 2 - Kết quả thống kê phiếu điều tra: Phân tích mức độ yêu thích môn Toán bằng thang đo Likert (Bảng 4), nguyên nhân không thích học Toán của 133 học sinh (Bảng 5), lý do thích học Toán của 99 học sinh (Bảng 6), thói quen chuẩn bị bài trước khi đến lớp (Bảng 7) và sở thích đối với các dạng toán học khác nhau (Bảng 8).
- Phần 3 - Phân tích nhóm học sinh tự học Toán: Đánh giá mối tương quan giữa năng lực tự học với phương pháp học tập, việc sử dụng tài liệu thư viện và các nhân tố nhà trường, gia đình.
Chương IV: Tóm tắt kết quả, bình luận và đề xuất
Chương IV tổng hợp các phát hiện nghiên cứu, đánh giá các nhân tố rào cản đối với hoạt động tự học Toán và đề xuất hệ thống giải pháp sư phạm nhằm chuyển đổi quá trình dạy học thành quá trình tự học; đồng thời chỉ rõ những hạn chế khách quan trong quá trình thực hiện đề tài.
Kết quả và đóng góp
Dữ liệu thống kê thực nghiệm
1. Cơ cấu mẫu khảo sát ($N = 200$):
Bảng 1: Phân bố mẫu theo giới tính
| Giới tính |
Số lượng (HS) |
Tỷ lệ (%) |
| Nam |
87 |
43,5% |
| Nữ |
113 |
56,5% |
| Tổng |
200 |
100,0% |
Bảng 2: Phân bố mẫu theo 12 trường PTTH
| STT |
Trường PTTH |
Số lượng (HS) |
Tỷ lệ (%) |
| 1 |
Trung học Thực hành |
18 |
9,0% |
| 2 |
Chuyên Lê Hồng Phong |
15 |
7,5% |
| 3 |
Gò Vấp |
16 |
8,0% |
| 4 |
Trưng Vương |
17 |
8,5% |
| 5 |
Nguyễn Thị Minh Khai |
15 |
7,5% |
| 6 |
Ten-lơ-man (Ernst Thälmann) |
17 |
8,5% |
| 7 |
Nguyễn Công Trứ |
15 |
7,5% |
| 8 |
Nguyễn Thượng Hiển |
18 |
9,0% |
| 9 |
Hùng Vương |
16 |
8,0% |
| 10 |
Lê Quý Đôn |
21 |
10,5% |
| 11 |
Marie Curie |
14 |
7,0% |
| 12 |
Thủ Đức |
18 |
9,0% |
| Tổng |
12 trường |
200 |
100,0% |
Bảng 3: Phân bố mẫu theo khối lớp
| Khối lớp |
Số lượng (HS) |
Tỷ lệ (%) |
| Lớp 10 |
71 |
35,5% |
| Lớp 11 |
66 |
33,0% |
| Lớp 12 |
63 |
31,5% |
| Tổng |
200 |
100,0% |
2. Thái độ và động cơ học tập môn Toán:
- Mức độ yêu thích môn Toán (Thang Likert): Nhóm học sinh có thái độ tiêu cực chiếm tỷ lệ áp đảo với 63 học sinh chọn mức "Hơi ghét" (chiếm tỷ lệ cao nhất trong toàn mẫu) và 5 học sinh "Rất ghét" (2,5%). Nhóm học sinh có thái độ tích cực gồm 40 học sinh "Hơi thích" (20,0%), 20 học sinh "Thích" (10,0%) và chỉ có 7 học sinh "Rất thích" (3,5%).
Bảng 5: Lý do không thích học Toán ($n = 133$ học sinh, tổng 143 lượt lựa chọn)
| STT |
Lý do |
Số lượt chọn |
Tỷ lệ trên tổng lựa chọn (%) |
Tỷ lệ trên mẫu 133 HS (%) |
| 1 |
Giáo viên dạy không hay |
35 |
24,5% |
26,3% |
| 2 |
Quá khô khan |
14 |
9,8% |
10,5% |
| 3 |
Lý do khác (quá khó, trừu tượng, thiếu hỗ trợ) |
94 |
65,7% |
70,7% |
| Tổng |
|
143 |
100,0% |
107,5% |
Bảng 6: Lý do thích học Toán ($n = 99$ học sinh, tổng 170 lượt lựa chọn)
| STT |
Lý do |
Số lượt chọn |
Tỷ lệ trên tổng lựa chọn (%) |
Tỷ lệ trên mẫu 99 HS (%) |
| 1 |
Toán là môn chính thi Đại học |
70 |
41,2% |
70,7% |
| 2 |
Nâng cao khả năng suy luận |
60 |
35,3% |
60,6% |
| 3 |
Giáo viên dạy rất hay |
16 |
9,4% |
16,2% |
| 4 |
Lý do khác |
13 |
7,6% |
13,1% |
| 5 |
Các bạn nể phục ai giỏi Toán |
8 |
4,7% |
8,1% |
| 6 |
Ngắn gọn, cô đọng |
3 |
1,8% |
3,0% |
| Tổng |
|
170 |
100,0% |
171,7% |
3. Hoạt động tự học và chuẩn bị bài của học sinh:
Bảng 7: Thực trạng chuẩn bị bài môn Toán ở nhà ($N = 200$ học sinh, 213 lượt lựa chọn)
| STT |
Hoạt động chuẩn bị bài |
Số lượt chọn |
Tỷ lệ trên tổng lựa chọn (%) |
Tỷ lệ trên toàn mẫu 200 HS (%) |
| 1 |
Đọc sơ qua phần sẽ học, làm bài tập GV yêu cầu |
103 |
48,4% |
51,5% |
| 2 |
Không làm gì cả vì thầy sẽ giảng ở lớp |
52 |
24,4% |
26,0% |
| 3 |
Soạn bài kỹ và làm thêm bài tập khác |
37 |
17,4% |
18,5% |
| 4 |
Mượn tập bạn chép để có thời gian làm việc khác |
9 |
4,2% |
4,5% |
| 5 |
Mượn tập bạn chép vì đúng chính xác hơn |
8 |
3,8% |
4,0% |
| 6 |
Mượn tập bạn vì lý do khác |
4 |
1,9% |
2,0% |
| Tổng |
|
213 |
100,0% |
106,5% |
Bảng 8: Các dạng Toán học sinh thích làm ($N = 200$ học sinh, 270 lượt lựa chọn)
| STT |
Dạng toán |
Số lượt chọn |
Tỷ lệ trên tổng lựa chọn (%) |
Tỷ lệ trên toàn mẫu 200 HS (%) |
| 1 |
Áp dụng công thức tính |
124 |
45,9% |
62,0% |
| 2 |
Chứng minh |
76 |
28,1% |
38,0% |
| 3 |
Suy luận logic & Biện luận |
70 |
25,9% |
35,0% |
| Tổng |
|
270 |
100,0% |
135,0% |
Đề xuất và giải pháp của tác giả
- Chuyển hóa phương pháp dạy học: Giáo viên cần chuyển đổi từ vai trò truyền thụ một chiều sang vai trò hướng dẫn, tổ chức và làm trọng tài khoa học; khuyến khích học sinh thảo luận, tự xây dựng công thức và bảo vệ lời giải.
- Bồi dưỡng kỹ năng tự học: Hướng dẫn học sinh phương pháp nghiên cứu SGK, kỹ thuật ghi chép bài giảng chủ động, cách lập kế hoạch học tập cá nhân và hình thành thói quen giải bài tập độc lập trước khi đến lớp.
- Đổi mới kiểm tra, đánh giá: Giảm thiểu các bài tập rập khuôn máy móc, tăng cường bài toán yêu cầu tư duy logic và biện luận; hạn chế tình trạng áp đặt điểm số theo khuôn mẫu.
- Cải thiện điều kiện học tập: Nâng cấp hệ thống sách tham khảo môn Toán tại thư viện các trường phổ thông; giảm tải áp lực dạy thêm - học thêm nhằm trả lại quỹ thời gian tự học cho học sinh.
Đóng góp của đề tài
Khóa luận đã cung cấp một bộ dữ liệu thực chứng định lượng cụ thể về thực trạng tự học môn Toán của học sinh THPT tại TP. Hồ Chí Minh đầu thập niên 2000. Đề tài vận dụng sáng rõ mô hình lý thuyết Dạy - Tự học của GS. Nguyễn Cảnh Toàn vào khảo sát thực tiễn bộ môn Toán, chỉ ra mối liên hệ giữa động cơ thi cử thực dụng và sự suy giảm tính chủ động nhận thức của học sinh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế được ghi nhận
- Địa bàn khảo sát thử nghiệm: Trường PTTH Ten-lơ-man là địa bàn thử nghiệm đầu tiên kết hợp cả phỏng vấn sâu và phát phiếu điều tra, dẫn đến việc một số lớp không thu đủ số liệu theo danh sách ban đầu do điều kiện khách quan.
- Giới hạn cỡ mẫu: Do điều kiện thời gian và nguồn lực của một khóa luận tốt nghiệp đại học, quy mô mẫu phân tích chính thức dừng lại ở 200 học sinh, chưa bao quát toàn bộ quy mô 500 học sinh như dự kiến ban đầu.
- Kinh nghiệm nghiên cứu: Tác giả tự nhận định đây là công trình nghiên cứu khoa học đầu tay nên các phân tích chuyên sâu về mặt tâm lý học lứa tuổi và các kỹ thuật xử lý thống kê phức tạp còn những giới hạn nhất định.
Hướng nghiên cứu mở rộng
- Mở rộng quy mô khảo sát trên các địa bàn ngoại thành và các tỉnh thành khác nhằm so sánh sự khác biệt vùng miền.
- Đi sâu nghiên cứu thực nghiệm các biện pháp sư phạm cụ thể nhằm rèn luyện kỹ năng tự học trong từng phân môn Toán học cụ thể (Đại số, Hình học không gian, Giải tích).
Giá trị tham khảo
Tài liệu này hữu ích cho các nhóm đối tượng học thuật và thực tiễn sau:
- Sinh viên ngành Sư phạm Toán và học viên chuyên ngành Lý luận & Phương pháp dạy học bộ môn Toán: Tham khảo mô hình lý thuyết Dạy - Tự học của GS. Nguyễn Cảnh Toàn và cách thức vận dụng chu trình 3 pha vào thiết kế tiến trình bài giảng môn Toán.
- Giáo viên môn Toán tại các trường THPT: Sử dụng dữ liệu thực trạng để nắm bắt tâm lý, động cơ và thói quen học tập của học sinh; từ đó điều chỉnh phương pháp giao bài tập về nhà và tổ chức hoạt động thảo luận trên lớp.
- Cán bộ quản lý giáo dục phổ thông: Tham khảo các kiến nghị liên quan đến công tác tổ chức thư viện trường học, định hướng giảm tải chương trình và quản lý hoạt động dạy thêm - học thêm.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng mô hình lý thuyết cốt lõi nào để giải thích cơ chế của quá trình tự học?
Khóa luận sử dụng mô hình Chu trình Dạy - Tự học do GS. Nguyễn Cảnh Toàn đề xuất (1997). Mô hình này phân tích hoạt động tự học của học sinh qua chu trình 3 pha ($H1$ - Tự nghiên cứu $\rightarrow$ $H2$ - Tự thể hiện $\rightarrow$ $H3$ - Tự kiểm tra, điều chỉnh) tương ứng với chu trình 3 pha của giáo viên ($D1$ - Hướng dẫn $\rightarrow$ $D2$ - Tổ chức $\rightarrow$ $D3$ - Trọng tài, cố vấn), qua đó biến đổi tri thức cá nhân thành tri thức khoa học.
2. Mẫu khảo sát thực tế của khóa luận bao gồm bao nhiêu học sinh và phân bổ ra sao?
Mẫu khảo sát chính thức gồm $N = 200$ học sinh thuộc 12 trường PTTH trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Trong đó có 87 học sinh nam (43,5%) và 113 học sinh nữ (56,5%); phân bổ tương đối đồng đều qua 3 khối lớp: Lớp 10 có 71 học sinh (35,5%), Lớp 11 có 66 học sinh (33,0%) và Lớp 12 có 63 học sinh (31,5%).
3. Tỷ lệ học sinh yêu thích môn Toán trong khảo sát là bao nhiêu và động cơ chính là gì?
Tỷ lệ học sinh thực sự yêu thích môn Toán rất thấp: chỉ có 3,5% học sinh "Rất thích" và 10,0% học sinh "Thích". Trong số 99 học sinh có thái độ tích cực với môn Toán, động cơ lớn nhất là mang tính thực dụng: 70,7% chọn lý do "Toán là môn chính thi Đại học", tiếp theo là 60,6% chọn "Nâng cao khả năng suy luận" và chỉ có 16,2% chọn vì "Giáo viên dạy rất hay".
4. Kết quả khảo sát phản ánh thực trạng chuẩn bị bài môn Toán ở nhà của học sinh như thế nào?
Hoạt động tự chuẩn bị bài ở nhà diễn ra rất sơ sài và thụ động: 51,5% học sinh chỉ dừng lại ở mức "Đọc sơ qua phần sẽ học, làm bài tập mà giáo viên yêu cầu"; 26,0% học sinh "Không làm gì cả vì thầy sẽ giảng ở lớp"; chỉ có 18,5% học sinh "Soạn bài kỹ và làm thêm bài tập khác"; số còn lại (10,5%) đối phó bằng cách mượn tập bạn để chép lại.
5. Học sinh THPT trong mẫu khảo sát ưa thích dạng bài tập Toán nào nhất?
Đa số học sinh thiên về thói quen làm bài tập đơn giản, áp dụng máy móc: 62,0% học sinh thích dạng toán "Áp dụng công thức tính", trong khi dạng toán "Chứng minh" chỉ đạt 38,0% và các dạng bài đòi hỏi tư duy phức tạp như "Biện luận" hay "Suy luận logic" chỉ chiếm 35,0% sự lựa chọn.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Yến Phương đã phản ánh chân thực bức tranh thực trạng tự học môn Toán của học sinh THPT tại TP. Hồ Chí Minh đầu thập niên 2000 với đầy đủ các số liệu khảo sát định lượng. Nghiên cứu đã làm rõ sự thụ động trong thói quen học tập của học sinh, chịu tác động từ áp lực thi cử và phương pháp giảng dạy truyền thống. Thông qua việc hệ thống hóa lý thuyết Dạy - Tự học của GS. Nguyễn Cảnh Toàn, đề tài cung cấp cơ sở khoa học và các khuyến nghị thực tiễn có giá trị nhằm định hướng đổi mới phương pháp giáo dục môn Toán theo hướng phát huy năng lực tự chủ của người học.