Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC DOANH THU BÁN HÀNG VÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1. Tổng quan đề tài nghiên cứu Có khá nhiều công trình nghiên cứu về đề tài kiểm toán doanh thu bán hàng cung cấp dịch vụ ở trong nước đã được công bố. Cùng một đối tượng nghiên cứu hoặc đối tượng nghiên cứu tương tự nhau, các đề tài có cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau, sử dụng phương pháp nghiên cứu khác nhau. Trong khuôn khổ của đề tài nghiên cứu này, tôi chỉ đề cập đến một số nghiên cứu có liên quan mật thiết đến chủ đề nghiên cứu mà tôi đang thực hiện.
Huỳnh Thị Thu Trang (2011) thực hiện nghiên cứu về “Thực trạng quy trình KLTN kiểm toán chu trình bán hàng phải kinh thu, thu tế tiền học do công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC thực hiện”. Đề tài của tác giả này đã đi sâu vào kiểm toán chu trình bán hàng, phải thu, thu tiền được thực hiện tại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC nhưng chưa tập trung vào khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, vì vậy chưa nêu rõ được các thủ tục kiểm toán tại khoản mục này. Trong bài nghiên cứu về “Thực trạng quy trình kiểm toán doanh thu và nợ phải thu khách hàng tại công ty Kiểm toán và kế toán AAC” của tác giả Đỗ Công Chính (2012) tập trung vào vấn đề tìm hiểu quy trình kiểm toán nợ phải thu khách hàng tại một đơn vị khách hàng cụ thể và đưa ra một số nhận xét về ưu nhược điểm của quy trình. Trong bài nghiên cứu về “Tìm hiểu quy trình kiếm toán doanh thu bán hàng cung cấp dịch vụ và nợ phải thu khách hàng tại công ty TNHH Kiểm toán và kế toán AAC”của tác giả Nguyễn Lê Quang Nhật tập trung vào vấn đề trình bày thực trạng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ và khoản nợ phải thu, tập trung vào việc ghi nhận nợ phải thu, mặt khác do sự khác biệt về phạm vi nghiên cứu nên thực trạng kiểm toán cũng có sẽ có điểm khác nhau với công ty TNHH Kiểm toán An Phát.
SVTH: Bùi Thu Hiền 5 Khóa luận tốt nghiệp Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu của các tác giả nêu trên, và những vấn đề chưa được giải quyết đề tài của tôi sẽ trình bày hệ thống hóa cơ sở lý luận về quy trình kiểm toán doanh thu khách hàng và khái quát chung về doanh thu trong kế toán tài chính. Sau đó sẽ mô tả quy trình kiểm toán doanh thu cho khách hàng tại một khách hàng cụ thể với hệ thống văn bản pháp luật, giấy tờ làm việc được cập nhật một cách kịp thời và chính xác sẽ giúp cho cho người đọc có được một cái nhìn chính xác về quy trình kiểm toán tại Công ty TNHH Kiểm toán An Phát. Bên cạnh đó, tôi cũng sẽ tìm ra một số hạn chế vẫn còn tồn tại và từ đó đưa ra các giải pháp khắc phục quy trình kiểm toán doanh thu cung cấp dịch vụ cho khách hàng do Công ty TNHH Kiểm toán An Phát thực hiện, góp phần khắc phục được những nhược điểm đang còn tồn tại trong các đề tài trước đây. Tổng quan về khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 1.
Khái niệm doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 - Doanh thu và thu nhập khác, Thông tư 89/2002/TT-BTC: Doanh thu bán hàngKLTN kinh và cung cấp tếlàhọc dịch vụ toàn bộ số tiền thu được hoặc sẽ thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như: bán sản phẩm, hàng hoá, cung cấp dịch vụ cho khách hàng bao gồm các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có). Liên quan đến doanh thu trong BCKQHĐKD của doanh nghiệp có các chỉ tiêu sau đây: - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Đây là chỉ tiêu gộp của doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ và doanh thu nội bộ. - Các khoản giảm trừ doanh thu: + Chiết khấu thương mại: Là khoản dịch vụ bán hạ giá niêm yết cho khách hàng mua với số lượng lớn. + Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho người mua do những hàng hoá kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc thị hiếu.
+ Hàng bán bị trả lại: Là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán. SVTH: Bùi Thu Hiền 6 Khóa luận tốt nghiệp - Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ: Chỉ tiêu này phản ánh doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ đã trừ đi các khoản giảm trừ doanh thu trong kỳ báo cáo, làm căn cứ tính kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Cách thức xác định và điều kiện để ghi nhận doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 1. Cách thức xác định - Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu được.
- Doanh thu phát sinh từ giao dịch được xác định bởi thỏa thuận giữa doanh nghiệp với bên mua hoặc bên sử dụng tài sản. Nó được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ (-) các khoản chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại. - Đối với các khoản tiền hoặc tương đương tiền không được nhận ngay thì doanh thu được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản sẽ thu được trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu theo tỷ lệ lãi suất hiện hành. Giá trị thực tế KLTN kinh tại thời điểm tế doanh ghi nhận họcthu có thể nhỏ hơn giá trị danh nghĩa sẽ thu được trong tương lai.
- Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ tương tự về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đó không được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu. - Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ khác không tương tự thì việc trao đổi đó được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu. Trường hợp này doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận về, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm. Khi không xác định được giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận về thì doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ đem trao đổi, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm.
Điều kiện ghi nhận - Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua; - Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa; SVTH: Bùi Thu Hiền 7 Khóa luận tốt nghiệp - Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn; - Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng; - Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng. Hệ thống chứng từ liên quan đến công tác kế toán khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ - Đơn đặt hàng của KH, hợp đồng kí kết về bán hàng và cung cấp dịch vụ. - Phiếu xuất kho; Phiếu vận chuyển. - Bản kí kết hợp đồng.
- Bản quyết toán thanh lý hợp đồng bán hàng cung cấp dịch vụ. - Thẻ quầy hàng; các hợp đồng, khế ước tín dụng. Quy trình hạch toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ Việc tìm hiểu quy trình hạch toán khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ cũng là một bước quan trọng, làm cơ sở cho việc kiểm toán khoản mục này. 521,531,532 511 111, 112, 131 KLTN K/c các khoản kinh tế học Tiền, hàng đã thu lần đầu giảm trừ DT và số còn phải thu 3332, 3333 3331 Ghi nhận thuế TTĐB, Thuế GTGT thuế XK phải nộp 911 K/c doanh thu thuần 515 3387 K/c doanh thu tài chính Ghi nhận lãi bán hàng trả góp Sơ đồ 1.1: Kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ SVTH: Bùi Thu Hiền 8 Khóa luận tốt nghiệp 1.
Kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong kiểm toán BCTC 1. Vai trò của kiểm toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong kiểm toán BCTC Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là một khoản mục trọng yếu trên BCKQHĐKD vì đó là cơ sở để người sử dụng đánh giá tình hình hoạt động và quy mô kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó khoản mục này là đối tượng của nhiều sai phạm dẫn đến BCTC bị sai lệch trọng yếu làm cho BCTC không phản ánh trung thực tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, cụ thể đó là: - Thứ nhất, doanh thu có liên quan đến chu trình bán hàng và thu tiền, đến hoạt động tài chính của các doanh nghiệp và do đó liên quan chặt chẽ đến nhiều chỉ tiêu trọng yếu trên BCĐKT và BCKQHĐKD, cụ thể là các khoản tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, các khoản phải thu…Đây đều là những yếu tố linh hoạt, hay biến động và dễ xảy ra gian lận nhất. Do đó, thông qua việc kiểm tra doanh thu có thể phát hiện ra những sai sót, gian lận trong việc hạch toán các chỉ tiêu có liên quan phản ánh trên BCĐKT và ngược lại.
KLTN kinh tế học - Thứ hai, doanh thu là cơ sở để xác định các chỉ tiêu lợi nhuận và các loại thuế khác nên rất nhạy cảm với các gian lận trong việc xác định mức lợi nhuận, thuế thu nhập doanh nghiệp và cả các nghĩa vụ khác của doanh nghiệp đối với Nhà Nước. Cho nên, thông qua việc kiểm tra đối chiếu và thực hiện các thủ tục kiểm toán đối với chỉ tiêu doanh thu có thể phát hiện ra những sai sót, gian lận trong việc hạch toán và xác định các chỉ tiêu đó.