Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị. 4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Giới thiệu về trường Đại học An Giang. Được thành lập theo Quyết định số 241/1999/QĐ-TTg ngày 30/12/1999 của Thủ tướng Chính phủ, Trường Đại học An Giang là cơ sở giáo dục đại học công lập, được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục quốc gia, với sứ mạng là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học (NCKH) và chuyển giao công nghệ có uy tín, đóng góp hiệu quả vào sự phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội; đồng thời nỗ lực trở thành trung tâm đào tạo trình độ đại học và sau đại học đa ngành, đa lĩnh vực, nghiên cứu và CGCN phục vụ cộng đồng được quốc tế công nhận, dựa trên triết lý giáo dục “Kiến tạo – Khai phóng” và hệ giá trị cốt lõi “Chính trực – Tận tâm – Sáng tạo”. Ngày 13/8/2019, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1007/QĐ-TTg về việc chuyển Trường ĐHAG là trường đại học thành viên của ĐHQG-HCM - một trong hai Đại học đứng đầu Việt Nam và đứng hạng 701 -750 trong tốp 1.000 đại học tốt nhất thế giới.
Đây là dấu mốc quan trọng đánh dấu thành quả 20 năm phát triển của Trường đồng thời mở ra nhiều cơ hội để Trường có nhiều đột phá, phát triển vững mạnh hơn trong tương lai. Từ dấu mốc này, với sự hỗ trợ của Đại học quốc gia, các trường thành viên cùng với sự nỗ lực hết mình của thầy và trò, Trường Đại học An Giang đã và đang gia nhập, tiến tới hội nhập toàn diện hệ thống một cách nhanh chóng, vững vàng. Trường là trung tâm đào tạo trình độ đại học và sau đại học đa ngành, đa lĩnh vực, với 63 ngành được cấp phép đào tạo hình thức giáo dục chính quy; trong đó có 05 ngành đào tạo trình độ Thạc sĩ (ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường được phát triển từ Dự án CONSEA do Tổ chức Erasmus+, Châu Âu tài trợ), 39 ngành trình độ Đại học (03 ngành có đào tạo chương trình chất lượng cao: Khoa học cây trồng, Công nghệ thực phẩm và Công nghệ sinh học) và 20 ngành trình độ Cao đẳng. Bên cạnh đó, Trường còn đào tạo 23 ngành hình thức giáo dục thường xuyên với 21 ngành trình độ Đại học và 2 ngành trình độ Cao đẳng.
Đảm bảo chất lượng thông qua việc thường xuyên đổi mới và hội nhập trong đào tạo; sáng tạo và năng động trong nghiên cứu và chuyển giao công nghệ; gắn lý thuyết với thực hành để trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng cho người học nhằm thích ứng tối đa với sự thay đổi. Xây dựng hệ thống quản trị hiệu quả, chuyên nghiệp, trách nhiệm và sáng tạo; quy trình hóa, tin học hóa hoạt động quản lý, áp dụng hệ thống đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn ISO và “5S” nhằm kiến tạo một môi trường giáo dục đại học chuẩn mực, nhân văn. 5 Phát huy mọi tiềm năng và cống hiến của tất cả các thành viên trong các hoạt động quản trị, dạy và học, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, xây dựng Trường thành một tập thể trong sạch, vững mạnh, gia tăng vị thế cạnh tranh của Trường trong khu vực và trên thế giới.2 Khái niệm về thương hiệu Judson và cs. (2009) định nghĩa thương hiệu là một cái tên, một hình ảnh, một mô tả hấp dẫn về một tổ chức nắm bắt được các giá trị cốt lõi mà trường đại học cung cấp.
Đề cập đến thương hiệu của một trường đại học, Bennett và Ali-Choudhury (2009) đã biện luận rằng, thương hiệu trường đại học là sự thể hiện các đặc điểm của tổ chức để phân biệt với các tổ chức khác, phản ánh năng lực đáp ứng nhu cầu của sinh viên, tạo niềm tin vào khả năng cung cấp một loại hình, trình độ giáo dục đại học nhất định và giúp những tân sinh viên tiềm năng có được quyết định nhập học khôn ngoan. Điều cực kỳ quan trọng là một trường đại học cũng được xem là một cơ sở kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực giáo dục (Bunzel, 2007). Vì thế, các trường đại học cũng có sự cạnh tranh với nhau để cố gắng xây dựng thương hiệu tốt đẹp nhất trong mắt khách hàng (tức là sinh viên) (Casidy, 2013). Theo Fazli- Salehi và cs.
(2019), trường đại học là một trong những tổ chức quan trọng nhất mà mọi người nhận diện. Cụ thể, trường đại học mà sinh viên/học viên hiện đang theo học hoặc đã từng đăng ký học trong quá khứ có thể tác động đến danh tính của họ. Do đó, những người ủng hộ tích cực cho trường đại học không những bảo vệ trường đại học mà họ đã và đang theo học trước những lời chỉ trích mà còn cảm thấy bản thân đang cạnh tranh với sinh viên của các trường đại học khác (Fazli-Salehi & cs.3 Khái niệm về nhận diện thương hiệu Trong môi trường cạnh tranh, để các tổ chức (bao gồm cả các cơ sở giáo dục đại học) thành công, họ thường cố gắng đạt được một bản sắc thương hiệu độc đáo để tạo ra lợi thế cạnh tranh (Casidy, 2013), (Quintal, Mazzarol, & Soutar, 2012). Để đạt được mục tiêu này, các tổ chức dựa vào các nỗ lực chiến lược và chiến thuật để phát triển một thương hiệu mà người tiêu dùng có thể dễ dàng nhận diện (Donavan, Janda, & Suh, 2006).
Các nhà tiếp thị sử dụng thương hiệu để thiết lập mối quan hệ lâu dài với khách hàng của họ vì điều đó có thể dẫn đến các ý định và hành vi tích cực (Aaker, Fournier, & Brasel, 2004; Carlson, Suter, & Brown, 2008). Nhận diện là trạng thái nhận thức mà ở đó cá nhân tự xem mình như một thành viên của một thực thể xã hội (Bergami & Bagozzi, 2000), (Carlson & cs. Mức độ nhận diện thương hiệu của người tiêu dùng được xác định thông qua mức độ mà một thương hiệu thể hiện và nâng cao bản sắc của người tiêu dùng (Kim, Han, & Park, 2001). Tương tự như vậy, Bagozzi và Dholakia (2006); Bergkvist và Larsen (2010), Sarkar và Sreejesh (2014) định nghĩa nhận diện thương hiệu là mức độ mà người tiêu dùng nhìn nhận hình ảnh của bản thân họ tương đồng với hình ảnh của thương hiệu.
Khía cạnh nhận thức trong mối quan hệ giữa thương hiệu và người tiêu dùng trong khái niệm này thiên về tình yêu thương hiệu (Fazli-Salehi & cs. Ashforth và Mael (1989) mô tả nhận diện là mức độ mà một cá nhân có cảm giác thân thuộc hoặc hòa hợp với một tổ chức. Các cá nhân nhận diện được thương hiệu của một tổ chức thường xác định bản thân trong mối quan hệ với tổ chức và xem những thành công hay thất bại của tổ chức là thành công hay thất bại của chính họ. Do đó, nhận diện thể hiện mức độ mà một tổ chức thể hiện và nâng cao bản sắc của một cá nhân.
Sức mạnh của nhận diện được xác định bởi nhận thức, kiến thức và trải nghiệm của một cá nhân đối với tổ chức (Balmer & Liao, 2007). Trong giáo dục đại học, Balaji và cs. (2016) đã biện luận rằng, nhận diện thương hiệu chủ yếu xảy ra thông qua các tương tác trực tiếp giữa cá nhân và tổ chức. Trong nghiên cứu của Balaji và cs.
(2016), nhận diện trường đại học được định nghĩa là cảm giác thân thuộc hoặc hòa hợp của sinh viên với trường đại học xảy ra sau sự tương tác trực tiếp giữa sinh viên và trường đại học của mình. Sinh viên cảm nhận được bản sắc của trường đại học càng hấp dẫn thì sự nhận diện của họ với trường đại học càng mạnh mẽ, dẫn đến việc chia sẻ mục tiêu, bản sắc và giá trị chung giữa trường đại học và sinh viên. Nhận diện thương hiệu góp phần vào sự phát triển tính cách cá nhân và cung cấp phương tiện để bảo vệ tính cách đó (Lam, Ahearne, Mullins & Hayati, 2013; Tuškej & cs. Theo Kuenzel và Halliday (2008); Stokburger-Sauer và cs.
(2012), việc tiếp xúc với một thương hiệu, hoặc những thông điệp về thương hiệu điều này dẫn đến mối liên kết nhận thức và tình cảm giữa người tiêu dùng và thương hiệu góp phần vào việc nhận diện thương hiệu.4 Thuyết nhận diện xã hội (Social Identity Theory - SIT) Lý thuyết nhận diện xã hội (Tajfel, 1978) dựa trên tiền đề cho rằng các cá nhân thường xác định danh tính bản thân với tư cách là thành viên trong một nhóm nhất định và sự nhận diện như vậy giúp họ nâng cao bản sắc cá nhân. “Lý thuyết này cho rằng con người thường vượt lên trên bản sắc cá nhân của mình để phát triển bản sắc xã hội” (Bhattacharya & Sen, 2003; Lý Mỹ Hằng & Nguyễn Thị Mai Trang, 2020). Sự nhận diện với một nhóm xã hội bao gồm cả 7 việc phân loại bản thân trong nhóm và xu hướng thiên vị trong nhóm, phân biệt đối xử đối với các nhóm đối thủ. Lý thuyết này rất hữu ích cho việc hiểu hành vi của người tiêu dùng vì người tiêu dùng cảm thấy mình là một phần trong một nhóm xã hội mà không cần hành động công khai cùng với người tiêu dùng khác thậm chí là không biết đến họ (Nguyễn Vũ Huy Tuấn, 2019).
Lý thuyết này còn gợi ý rằng khi khách hàng mua một thương hiệu nào đó, rồi sở hữu và tiêu dùng thương hiệu đó sẽ giúp khách hàng cảm thấy mình khác biệt với những người khác trong xã hội (Bhattacharya & Sen, 2003). Trên thực tế, những cá nhân có sự nhận diện mạnh mẽ với một nhóm cụ thể thường xác định bản thân với tư cách là thành viên của nhóm và xem bất kỳ mối đe dọa nào đối với nhóm là mối đe dọa đối với bản thân. Do đó, việc nhận diện một nhóm cụ thể liên quan trực tiếp đến động cơ để nâng cao bản sắc cá nhân và tự tôn bản thân (Tajfel, 1978). Khái niệm nhận diện thương hiệu được xây dựng dựa trên lý thuyết nhận diện xã hội đã được sử dụng rộng rãi trong các ngành khác (Kuenzel & Halliday, 2010).
Theo Brewer (1991), Ashforth và Meal (1989) nhận định rằng, nhận diện dựa trên lý thuyết nhận diện xã hội thực chất là nhận thức của cá nhân về sự hòa hợp với một nhóm người. (Kuenzel & Halliday, 2010) đã nhấn mạnh rằng, nhận diện đáp ứng nhu cầu về nhận diện xã hội và xác định bản thân. Nhận diện xã hội diễn ra khi một cá nhân xác định với một nhóm nhất định.