CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Hoạt động cho vay dành cho nhóm khách hàng doanh nghiệp hay còn gọi là nghiệp vụ tín dụng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị tiền tệ của người sở hữu sang cho người khác sử dụng và sẽ hoàn trả người sở hữu nó sau một thời gian nhất định với một lượng giá trị lớn hơn. (Trần Huy Hoàng, 2010) Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp là một hình hình thức cấp tín dụng theo Điều 20, Luật các Tổ chức tín dụng Việt Nam, trong đó ngân hàng đứng ra làm trung gian tài chính để cho các khách hàng doanh nghiệp vay đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, mua sắm tài sản cố định, thuê tài chính, thanh toán các hóa đơn đầu vào hoặc chi trả lương cho công nhân,… với nguyên tắc hoàn trả cả vốn gốc lẫn lãi vay trong một thời hạn nhất định và theo các điều khoản quy định trong hợp đồng tín dụng giữa khách hàng với ngân hàng.
Lãi vay trong trường hợp này chính là khoản chi phí mà doanh nghiệp phải gánh chịu để sử dụng nguồn vốn vay do ngân hàng cung cấp. Lãi suất hay còn gọi là giá của khoản vay được Ngân hàng ấn định tùy thuộc vào thời hạn sử dụng của nguồn vốn vay, thời gian hoàn trả khoản vay và phụ thuộc theo sự biến động trong từng thời kì của nền kinh tế. Vai trò của hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp Theo PGS. Nguyễn Đăng Dờn (2008), hoạt động tín dụng nói chung và cho vay khách hàng doanh nghiệp nói riêng giữ vai trò quan trọng trong xu thế phát triển Trương Thị Dạ Thảo – K49A Kiểm Toán 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Phan Thị Hải Hà kinh tế thị trường toàn cầu hiện nay bởi những tác động tích cực lên các đối tượng tham gia bao gồm người gửi tiền (người dư thừa vốn), ngân hàng thương mại và người đi vay (doanh nghiệp cần vốn) trong quy trình luân chuyển từ nơi dư thừa nguồn vốn đến nơi thiếu hụt và có nhu cầu sử dụng vốn thông qua tổ chức trung gian là ngân hàng thương mại. Gửi tiền Cho vay Người cần Người dư Ngân hàng vốn (doanh thừa vốn thương mại nghiệp) Ủy thác đầu tư Đầu tư Sơ đồ 1.1: Vai trò “cầu nối” giữa người dư thừa vốn và người cần vốn. Cụ thể hơn, đối với các doanh nghiệp đang cần vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư phương án sản xuất mới, chi tiêu mua sắm các loại tài sản phục vụ sản xuất hay thanh toán các hóa đơn nguyên vật liệu đầu vào với giá trị lớn,… có được nhiều cơ hội rộng mở để tiếp cận đến các nguồn cung ứng vốn đáng tin cậy, chắc chắn và uy tín mà không phải mất nhiều thời gian trong quá trình huy động vốn của doanh nghiệp. Đồng thời đảm bảo tính hiệu quả và năng suất với quy trình cấp tín dụng chặt chẽ và hợp pháp sẽ giúp cho doanh nghiệp tìm ra phương án sản xuất nào là phù hợp và tối ưu nhất trong quá trình sử dụng nguồn vốn vay được từ ngân hàng thương mại.
Bên cạnh đó, hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp tạo cơ hội để các trung gian tín dụng kinh doanh nguồn vốn huy động của mình và tìm kiếm lợi nhuận từ khoản chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặc khoản hoa hồng, lệ phí cho dịch vụ mà ngân hàng thương mại cung cấp. Lợi nhuận này chính là cơ sở tồn tại và phát triển đối với ngân hàng thương mại. Trong dài hạn, tạo mối quan hệ mật thiết giữa doanh nghiệp với các tổ chức tài chính, phi tài chính như bảo hiểm, chứng khoán,… đảm bảo cho một nền kinh tế phát triển bền vững. Ngoài ra, hoạt động cho vay cũng tác động đáng kể đến lợi ích của những người thừa vốn nhàn rỗi bởi họ có được một nguồn thu nhập thụ động được lũy tiến theo thời gian dưới hình thức lãi suất huy động vốn do ngân hàng thương mại áp dụng khi chưa Trương Thị Dạ Thảo – K49A Kiểm Toán 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Phan Thị Hải Hà có nhu cầu và nhờ đó ngân hàng thương mại sẽ là một nơi cất trữ tiền tệ đáng tin cậy và đảm bảo an toàn về dài hạn bên cạnh các dịch vụ thanh toán đi kèm vô cùng tiện lợi. Hơn thế nữa, hoạt động cho vay còn có ý nghĩa quan trọng trong việc điều hòa vốn của nền kinh tế, đảm bảo các quá trình tái đầu tư, sản xuất được hoạt động liên tục tạo ra sự tăng trưởng và phát triển đối với nền kinh tế. Góp phần thúc đẩy quá trình luân chuyển hàng hóa, luân chuyển tiền tệ, điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông và kiểm soát lạm phát. Thông qua hoạt động tín dụng, khối lượng tiền trong lưu thông sẽ tăng lên khi thực hiện hoạt động cho vay và ngược lại sẽ giảm xuống khi thực hiện hoạt động thu nợ, do đó sẽ góp phần điều tiết khối lượng tiền trong toàn bộ nền kinh tế.
Ngân hàng sử dụng công cụ lãi suất, hạn mức tín dụng để làm thay đổi khối lượng tiền vay, từ đó điều tiết được khối lượng tiền trong nền kinh tế và kiểm soát được lạm phát. Như vậy, hoạt động cho vay trong các tổ chức tín dụng ngày nay dần trở thành hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng thương mại vì nó phản ánh rõ tính chất đi vay để cho vay của ngân hàng thương mại. Đồng thời, xu thế doanh nghiệp và các tổ chức mới được thành lập ngày càng nhiều, hoạt động sản xuất ngày càng đa dạng, đổi mới, tiếp cận với công nghệ toàn cầu và hội nhập sâu rộng cùng thế giới thì hoạt động tín dụng có ý nghĩa vô cùng to lớn, đặc biệt đối với các doanh nghiệp và tập đoàn đa quốc gia hiện nay. Các hình thức cho vay khách hàng doanh nghiệp Hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng thương mại được phân làm nhiều loại tùy theo những tiêu thức khác nhau, tác giả Nguyễn Minh Kiều (2009) đã chỉ ra một số nhân tố làm cơ sở để phân loại như sau: Dựa vào thời hạn tín dụng: Cho vay ngắn hạn: Các khoản cho vay có thời hạn vay từ 1 năm trở xuống, thông qua hình thức cho vay từng lần hoặc cấp hạn mức tín dụng cho khách hàng.
Các khoản vay ngắn hạn có rủi ro thấp hơn cho vay trung và dài hạn do có thời hạn vay Trương Thị Dạ Thảo – K49A Kiểm Toán 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Phan Thị Hải Hà ngắn nên lãi suất thấp hơn. Đây là hình thức cho vay chủ yếu của các NHTM bởi vì nguồn huy động của NHTM cũng chủ yếu là ngắn hạn. Cho vay trung và dài hạn: Là các khoản vay có thời hạn vay trên 1 năm.
Có nhiều cách phân loại khác nhau, nhưng cách phân loại thông thường là cho vay trung hạn là từ 1 đến 5 năm, cho vay dài hạn là trên 5 năm. Khoản vay này thường có giá trị lớn được dùng để mua sắm đất đai, nhà cửa, máy móc thiết bị hoặc đầu tư xây dựng. Các khoản vay dài hạn thường được trả dần theo nhiều kỳ trả nợ bao gồm cả gốc và lãi ngoại trừ thời gian ân hạn chỉ trả lãi. Do thời gian cho vay dài hơn nên khả năng xảy ra rủi ro tín dụng đối với cho vay trung và dài hạn lớn hơn cho vay ngắn hạn vì vậy lãi suất cho vay cao hơn, và yêu cầu nhiều thông tin chi tiết để đảm bảo an toàn tín dụng.
Dựa vào mục đích sử dụng nguồn vốn vay: Mục đích sử dụng nguồn vốn vay của doanh nghiệp rất đa dạng và linh hoạt, bao gồm: Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp: Giúp khách hàng trang trải các khoản chi phí hoạt động như chi phí mua hàng, trả lương… Cho vay xây dựng ngắn hạn: Tạm ứng vốn cho bên thi công trong giai đoạn thi công các công trình xây dựng. Cho vay mua bất động sản: Đầu tư xây dựng, mua lại cơ sở sản xuất, nhà xưởng, xí nghiệp. Cho vay sản xuất nông nghiệp: Nhằm hỗ trợ nông dân trong giai đoạn gieo trồng, bảo quản sản phẩm. Cho vay kinh doanh xuất nhập khấu: Chi trả các hóa đơn, hợp đồng tín dụng, thanh toán L/C của các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu.
Cho vay các tổ chức tín dụng: Các tổ chức khác hệ thống có thể vay đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong ngắn hạn hoặc duy trì tỷ lệ dự trữ tại ngân hàng trung ương. Cho vay khác: bao gồm các hình thức như kinh doanh chứng khoán, đầu tư cổ phiếu, các hợp đồng hoán đổi, hợp đồng kỳ hạn và các giấy tờ có giá khác. Trương Thị Dạ Thảo – K49A Kiểm Toán 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Phan Thị Hải Hà Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng: Cho vay không có bảo đảm: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ được dựa trên niềm tin có đầy đủ căn cứ (tư cách của khách hàng, quy mô hoạt động kinh doanh, uy tín trong lĩnh vực kinh doanh và có lịch sử giao dịch tốt với các TCTD…) và đáp ứng tất cả tiêu chí cho vay không có TSBĐ của từng ngân hàng.
Cho vay có bảo đảm: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba. TSBĐ là biện pháp nhằm làm giảm thiểu rủi ro mất vốn khi cho vay. Các hình thức của TSBĐ gồm cầm cố, thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản của người thứ ba, đảm bảo bằng tài sản được hình thành từ vốn vay… Dựa vào phương thức cho vay, tín dụng doanh nghiệp được chia làm 3 loại: Cho vay theo hạn mức tín dụng (HMTD): là hình thức cấp tín dụng của NHTM mà theo đó, khách hàng có thể giải ngân và trả nợ nhiều lần trong phạm vi số tiền được cấp trong 1 khoảng thời gian nhất định. Người vay chỉ thực hiện hồ sơ 1 lần cho nhiều lần giải ngân.
Ngân hàng cấp cho khách hàng 1 hạn mức, chỉ giới hạn dư nợ, không giới hạn số lần vay và hoàn trả nợ vay.