CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Qua quá trình tìm hiểu thực tế và tra cứu tại các thư viện, các website cho thấy quản trị rủi ro tín dụng luôn thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học và các nhà quản lý. Cho đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này. Sau đây là một số công trình tiêu biểu: “Các giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Nam Sài Gòn”, Ngô Thị Thanh Trà (2010), Luận văn thạc sỹ kinh tế của Trường Đại học Kinh tế TP. Luận văn đã đưa ra 4 giải pháp phòng ngừa và hạn chế RRTD tại Chi nhánh.
Đồng thời đề ra các đề xuất và kiến nghị đối với Ngân hàng cấp trên, ngân hàng nhà nước và chính phủ để các giải pháp ngày được phát huy hiệu quả tại Ngân hàng ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Nam Sài gòn. Nguyễn Tuấn Anh (2012), Quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Luận án tiến sỹ của Trường ĐH Kinh tế quốc dân. Luận án đã tập trung đánh giá thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện như nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng của cán bộ, xây dựng mô hình quản trị rủi ro tập trung tại Agribank, thay đổi cơ cấu tổ chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ để đáp ứng yêu cầu quản trị rủi ro tín dụng. Tuy nhiên Agribank là ngân hàng thương mại nhà nước nên yêu cầu về quản trị rủi ro tín dụng vẫn khác với các ngân hàng thương mại cổ phần hiện nay vì vậy không thể áp dụng cho các ngân hàng thương mại cổ phần.
Nguyễn Đức Tú (2012), Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân. Luận án đã đề xuất khái niệm mới về RRTD, khác biệt với quan điểm của nhiều chuyên 5 gia kinh tế và nhà quản lý thực tiễn ở Việt Nam, trong đó nhấn mạnh là khả năng xảy ra sự khác biệt không mong muốn giữa thu nhập thực tế và thu nhập kỳ vọng đúng hạn, nhận được đầy đủ gốc và lãi. RRTD sẽ dẫn đến tổn thất tài chính tức là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn. Khái niệm này là cơ sở lý luận quan trọng để xác định nội dung cụ thể của hoạt động QTRRTD.
Luận án đã phát triển hệ thống lý luận về QTRRTD áp dụng cho NH với các nội dung là: Xây dựng mô hình QTRRTD theo hướng tiếp cận những phương pháp QTRRTD hiện đại; Áp dụng các mô hình đánh giá RRTD; Nâng cao hiệu quả và tính minh bạch của QTRRTD ngân hàng, nên xây dựng các chính sách tín dụng mới từ khâu hậu kiểm, tư vấn đến ra quyết định và quản lý khoản vay dựa trên hệ thống phân tích và rà soát tín dụng. Như vậy, đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng. Tuy nhiên vào mỗi thời kỳ, công tác quản trị rủi ro tín dụng lại cần được các Ngân hàng nhìn nhận lại và đưa ra những chính sách, giải pháp phù hợp với tình hình mới. Vì vậy, vào mỗi thời kỳ cần có những nghiên cứu mới để phù hợp với tình hình thị trường, giúp các Ngân hàng có những giải pháp hữu hiệu hơn trong tình hình mới.
Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Hoàn Kiếm là một trong những chi nhánh có dư nợ KHDN khá lớn trong khối Ngân hàng TMCP trong những năm gần đây và đồng thời tiềm ẩn nhiều vấn đề liên quan tới rủi ro tín dụng. Mặc dù vậy, vấn đề quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay KHDN tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Hoàn Kiếm trong 3 năm gần đây chưa được nghiên cứu. Hiểu và nắm được quy trình quản trị rủi ro và thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng, tác giả nhận thấy cần đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm tăng cường công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Hoàn Kiếm, góp phần nhỏ vào việc nâng cao công tác quản trị rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng TMCP và khối NHTM.2 Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp của Ngân hàng thương mại 1.1 Rủi ro tín dụng Khái niệm “Tín dụng” theo pháp luật ngân hàng Việt Nam ghi nhận rằng: “Tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả. Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ từ người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định trả lại với một lượng lớn hơn”.
Tín dụng có 3 đặc điểm cơ bản và nếu thiếu một trong 3 đặc điểm sau thì sẽ không còn phạm trù tín dụng nữa: - Có sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người này sang người khác; - Sự chuyển giao này mang tính chất tạm thời; - Khi hoàn trả lượng giá trị đã chuyển giao cho người sở hữu phải kèm theo một lượng giá trị dôi thêm gọi là lợi tức. Tín dụng ngân hàng là một hình thức phát triển cao của tín dụng, tuy nhiên nó vẫn giữ nguyên được những bản chất ban đầu của quan hệ tín dụng. Tín dụng ngân hàng được hiểu là quan hệ vay mượn lẫn nhau theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi theo một thời gian nhất định, giữa một bên là NHTM và một bên là các cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức tín dụng, các NHTM khác. Nguyễn Thị Thu Hà đã viết trong giáo trình Ngân hàng thương mại, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân (2013), Hoạt động tín dụng của NHTM dựa trên một số nguyên tắc nhất định nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời.
Các nguyên tắc cơ bản của tín dụng: - Khách hàng phải cam kết hoàn trả nợ gốc và lãi vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. 7 - Khách hàng phải cam kết sử dụng vốn vay theo đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Mục tiêu của NHTM luôn đặt ra khi cấp tín dụng là thu hồi được gốc, lãi vay và phí (nếu có) theo thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Quan hệ tín dụng sẽ kết thúc khi ngân hàng thu hồi hết nợ gốc, lãi vay và các khoản phí (nếu có).
Một số trường hợp khách hàng đã không hoàn trả hoặc hoàn trả không đầy đủ hoặc đúng hạn thì ngân hàng xem xét tìm ra nguyên nhân là rất quan trọng để giúp ngân hàng kịp thời đưa ra các quyết định mới liên quan đến tính an toàn của khoản tín dụng. Ở nước ta, khái niệm rủi ro tín dụng được phản ánh qua thông tư 02/2013/TT-NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết ”. Rủi ro tín dụng còn được xem xét trên cơ sở danh mục tín dụng của ngân hàng và được hiểu là khả năng xảy ra tổn thất của ngân hàng khi không thu hồi đầy đủ số tiền gốc và lãi của danh mục như dự kiến. Danh mục tín dụng sẽ có nguy cơ bị tổn thất cao nếu ngân hàng quá tập trung cho vay một ngành, lĩnh vực, hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định, hay cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao Các định nghĩa khá đa dạng nhưng tựu chung lại chúng ta có thể rút ra các nội dung cơ bản của rủi ro tín dụng: - Rủi ro tín dụng khi người vay sai hẹn thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng bao gồm vốn vay hoặc lãi vay.
Sự sai hẹn có thể là trễ hạn hoặc không thanh toán. - Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn. Trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ hoặc ở mức độ cao hơn là phá sản. 8 - Đối với các nước đang phát triển (như Việt Nam), các ngân hàng thiếu đa dạng trong kinh doanh các dịch vụ tài chính, các sản phẩm dịch vụ còn nghèo nàn, vì vậy tín dụng được coi là dịch vụ sinh lời chủ yếu và thậm chí gần như duy nhất, đặc biệt đối với các ngân hàng nhỏ.
Vì vậy rủi ro tín dụng cao hay thấp sẽ quyết định hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. - Mặt khác, rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng của ngân hàng là hai đại lượng đồng biến với nhau trong một phạm vi nhất định (lợi nhuận kỳ vọng càng cao thì rủi ro tiềm ẩn càng lớn). - Rủi ro là một yếu tố khách quan cho nên rủi ro không thể loại trừ mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện và tác hại do chúng gây ra. Tuy nhiên, chúng ta cần hiểu rủi ro tín dụng theo nghĩa xác suất, là khả năng, do đó có thể xảy ra hoặc không xảy ra tổn thất.
Điều này có nghĩa là một khoản vay dù chưa quá hạn nhưng vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tổn thất, một ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn thấp nhưng nguy cơ rủi ro tín dụng sẽ rất cao nếu danh mục đầu tư tín dụng tập trung vào một nhóm khách hàng, ngành hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Cách hiểu này sẽ giúp cho hoạt động quản trị rủi ro tín dụng được chủ động trong phòng ngừa, trích lập dự phòng, đảm bảo chống đỡ và bù đắp tổn thất khi xảy ra rủi ro. Rủi ro tín dụng là yếu tố nội tại trong hoạt động tín dụng nên không thể loại trừ hoàn toàn. Vì vậy chấp nhận rủi ro và thực hiện quản trị rủi ro là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của NHTM.