Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIEN CUA DE TAI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài Từ lâu. giáo dục đóng vai trò rất quan trong trong sự phát trién của một dat nước kỉ nguyên 4.0 hiện nay, đối mới và cải cách giáo dục đã trở thành xu hướng chung của thế giới. Tuy ngành giáo dục ở mỗi nước có những đặc diém riêng biệt, nhưng chúng déu chia sẻ với nhau một mục tiêu chung là giúp người học làm chủ kiến thức phô thông, vận dụng hiệu quả kiến thức, ki năng đã học vào đời sông và tự học suốt đời: xây dựng.
phát trién hài hoà các mối quan hệ xã hội, có tính cá nhân và đời sống tỉnh thần phong phú. Tất cả những điều trên sẽ giúp người học hiểu được ý nghĩa cuộc song, có động thái đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại. Từ đây, thiết kế và thực hiện các chiến lược giáo dục và phương pháp day học đề đáp ứng được mục tiêu trên là việc rất cần thiết. Trong quá trình đổi mới giáo dục tại Việt Nam hiện nay, việc nghiên cứu và vận dụng những phương pháp day học mới vào giảng day dé giúp kích thích học sinh tự phát trién và hoàn thiện bản than, là một trong những mục tiêu được chú trọng hang đầu trong giáo đục nước ta.
Bên cạnh những mô hình day học tích cực như mô hình STEM, STEAM, 5E, 7E dang được nghiên cứu và được áp dụng tại Việt Nam, mô hình day học VESTED cũng là một mô hình day học tích cực mới can được tìm hiểu và thực nghiệm. Sau đây là một sé công trình nghiên cứu liên quan đến mô hình day học VESTED: Công trình Van dung mô hình VESTED trong day học Sinh học 10 Trung học pho thông nghiên cứu về tiềm năng của việc sử dụng mô hình VESTED trong dạy học bộ môn Sinh học 10 và đã đặt nền móng cho việc sử dụng m6 hình này vào day học tại Việt Nam do Lê Thị Phượng. Nguyễn Thị Bích Dậu thực hiện năm 2019. Công trình Li luận dạy học hiện đại - Cơ sở đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học đã dé cập đến các chủ dé cơ bản của lí luận day học đại cương và những kiến thức lí luận dạy học hiện đại do Bernd Meier - Nguyễn Văn Cường thực hiện năm 2016.
10 Công trình Dạy học phát triển năng lực Sinh học Trung học phổ thông, đã đưa ra những thông tin, hướng dẫn xây dựng các kế hoạch dạy học theo hướng chú trọng phat triển năng lực Sinh học phù hợp với đổi mới chương trình giáo đục phd thông 2019-2020 do Dinh Quang Báo (Chủ biên), Phan Thị Thanh Hội. Nguyễn Thị Việt Nga biên soạn năm 2019, Công trình Dạy và học tích cực một số phương pháp và kĩ thuật dạy học, đã cung cấp những thông tin về một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực. Đồng thời đã chinh sửa, bỗ sung, cập nhật nội dung so với phiên bản năm 2010 đo Nguyễn Lang Binh (Chủ biên), Đỗ Hương Tra, Nguyễn Phương Hồng. Cao Thi Thăng thực hiện năm 2015.
Công trình Thiết kế côn ø cụ đánh giá lớp học trong dạy học sinh học trung học pho thông, đã nghiên cứu về việc vận dụng linh hoạt, đa dang các phương pháp đánh giá dé đánh giá lớp học trong việc day học sinh ở trường phô thông do Phan Thị Thanh Hội, Đỗ Thị Hoài Thu thực hiện năm 2018. Công trình Nâng cao tính tích cực học tập trong dạy học sinh học pho thông bằng phương pháp sử dung câu hỏi, đã chứng minh được việc sử dụng câu hỏi, bai tập trong quá trình day học bộ môn Sinh học giúp học sinh ghi nhớ khái niệm một cách sâu sac hơn va phát triển năng lực tư duy do Nguyễn Đình Nhâm, Trần Ái Huế thực hiện năm 2011. Công trình Phát triển nội dung day học dựa trên mô hình biéu diễn trí thức Knowledge Graph, đã phân tích những lí luận về việc gắn kết tính sư phạm vào trong nội dung day học và trình bày các quy trình, thủ tục dé xây dựng nội dung day học. Bên cạnh đó, bài bảo cũng trình bảy một khuôn mẫu rõ ràng dé xây dựng nội dung đạy học trực tuyến đo Lê Đức Long thực hiện năm 2015.
Công trình Phát triển năng lực tìm tòi, khám phá cho học sinh thông qua dạy học khám phá theo mô hình Se trong dạy học chương “sinh san” (Sinh học 10), đã đưa ra quy trình và ví dụ VỀ ViỆc sử dụng mô hình day học SE cho một bài dạy “sinh sản” lớp 11 do Ninh Thị Bạch Diệp thực hiện năm 2020. 11 Tóm lại, trên the giới hiện chỉ ghi nhận được mồ hình dạy học phát triển năng lực VESTED được sáng lập bởi tác giả Cynthia Cardenas-Kolak vào năm 2006. Cô đã tô chức các khoá học hướng dẫn các giáo viên vận đụng mô hình này vào trong dạy học. Tiếp đến, tiến sĩ về ngành giáo dục học Michael E.
Baldwin đã tìm hiéu mối liên hệ giữa mô hình SE và mô hình VESTED, thông qua đó hướng dẫn cách sử dụng phối hợp hài hoà giữa 2 mô hình. Trong nước, vào năm 2019, người đầu tiên áp dụng mô hình VESTED trong dạy học môn Sinh học 10 là tác giả Lê Thị Phượng và đến năm 2020 tác giả Nguyễn Thị Bích Dậu đã vận dụng và tiếp nối những thành công đó dé hoàn thành luận văn thạc sĩ. Tuy đã có các công trình nghiên cứu vẻ lĩnh vực nay nhưng ở khu vực nghiên cứu và phạm ví nghiên cứu vẫn còn rất hạn chế. Vì vậy, chúng tôi có thé khang định dé tài này không bị trùng lập và có tinh mới.
Cơ sở lí luận của đề tài 1. Năng lực và day học phát triển năng lực 1. Năng lực Năng lực được xét trong khía cạnh về tâm lí, giáo dục học. Với mỗi cách hiểu có những khái niệm tương ứng: Trích dẫn trong The Québec program - MOE Cannada — 2004, “Nang lực có thé được định nghĩa như là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự có gắng dựa trên nhiều nguồn lực”.
Trích từ điển tâm lí học (Vũ Dũng, 2000): “Nang lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chat của tâm lí cá nhân, đóng vai trò điều khiến bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định". Một số chuyên gia khác như Weinert (2000), De Ketele (1995) cùng đưa ra khái niệm về năng lực. John Erpenbeck với khái niệm: “năng lực được sử dụng như khả năng được quy định bởi giá trị. được tăng cường qua kinh nghiệm và được thực hiện hoá qua chủ định”; Xavier Roegiers lại cho rằng năng lực: năng lực là sự tích hợp các kĩ năng tác động một cách tự nhiên lên các nội dung trong một loạt tình huồng cho trước dé giải quyết những van đề do những tình huéng này đặt ra.
Như vậy, có rất nhiều khái niệm khác nhau về năng lực, nhưng tựu chung đều nói đến năng lực là phải nói đến kha năng thực hiện, là phải biết làm, chứ không chỉ biết và hiểu. Từ các định nghĩa năng lực trên, khái quất lại, 12 Chương trình giáo dục phô thông tổng thé của Việt Nam (2018) đã xác định “năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành. phát triển nhờ tố chat sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tông hợp các kiến thức, kĩ năng va các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loạt hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong điều kiện cụ the” 1.
Năng lực của học sinh Năng lực của học sinh là khả nang lĩnh hội kiến thức, làm chủ kĩ năng và có thái độ phù hợp với lứa tuổi và kết hợp chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập. giải quyết hiệu quả những van dé trong cuộc sống thực tế. Năng lực của học sinh có các dau hiệu quan trọng can chú ý sau: — Là khả năng ứng dụng/vận dụng tri thức và kĩ nang học được dé giải quyết những van dé của cuộc sống đang đặt ra. — Là sự kết hợp của kiến thức, kĩ năng và thái độ, thẻ hiện ở kha năng hành động hiệu quả.
muốn hành động và sẵn sàng hành động đạt mục đích đề ra (gồm động cơ, ý trí, sự tự tin và trách nhiệm xã hội,. — Được hình thành, phát triển trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập ở trong lớp và ở ngoài lớp học như nhà trường, gia đình, cộng đồng,. Chương trình giáo dục tông thé của Việt Nam ban hành ngày 26/12/2018 đã xác định những năng lực chung và năng lực đặc thù hình thành và phát triển cho học sinh. Trong đó năng lực chung là những năng lực được hình thành và phát triển thông qua tất ca các môn học và hoạt động giáo dục, nang lực đặc thù là những nang lực chỉ được hình thành.
phát triển thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định. Bên cạnh đó cân phát hiện và bôi dưỡng năng khiếu của HS. Day học phát triển năng lực Dạy học phát triển năng lực hướng đến việc thông qua những hoạt động cụ thê HS sử dụng những tri thức học được dé giải quyết những tình huéng do cuộc sống đặt ra. Từ những năm 90 của thé ki trước đã nêu lên hai cách tiếp cận chính: tiếp cận dựa vào nội dung và tiếp cận dựa vào kết quả dau ra hay tiếp cận nang lực, trong đó: Dạy học theo định hướng nội dung lấy kiến thức, kĩ năng làm mục tiêu hướng tới; do 13 đó càng cung cấp nhiều nội dung, HS biết càng nhiều càng tốt, Cách day học này không quan tâm nhiều đến việc vận dụng những kiến thức đã biết và hiểu vào thực hành, liên hệ và ứng dụng vào các tình hudng của đời sóng.
Hệ quả là HS có thẻ biết rất nhiều nhưng làm thì không được bao nhiêu; kiến thức rất uyên bác nhưng thực hành rất lúng túng, vụng vẻ. Dạy học phát triển năng lực vì thé quan tâm không chỉ đến các chất liệu (kiến thức, ki năng, thái độ.) mà rất cần chú ý đến cách thức, phương pháp. Sau mỗi giờ học theo định hướng này, HS không chi được mở mang về tri thức mà còn hiểu và biết cách tìm ra tri thức đó; biết trí thức đó giúp được gì cho mình trong cuộc sông hang ngày va dé đi xa hơn trong tương lai.