Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Quản lý Giáo dục của tác giả Hồ Ngọc Kiều, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Huỳnh Văn Sơn (Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, năm 2012), tiếp cận hoạt động tự học trong bối cảnh bùng nổ thông tin toàn cầu và yêu cầu chuyển dịch trọng tâm giáo dục từ "truyền đạt tri thức" sang "dạy cách học", giúp người học tự chiếm lĩnh tri thức. Vấn đề tự học tại Việt Nam đã được thể chế hóa qua nhiều chủ trương chính sách như Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (tháng 2/1993) khẳng định yêu cầu "khuyến khích tự học", Chỉ thị số 15 ngày 20/4/1999 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm tích cực hóa hoạt động học tập, phát huy năng lực tự học của học sinh, sinh viên, cũng như quy định của Luật Giáo dục về phương pháp giáo dục phổ thông nhằm bồi dưỡng phương pháp tự học và rèn luyện kỹ năng vận dụng tri thức vào thực tiễn.

Mặc dù chương trình giáo dục trung học phổ thông đã được điều chỉnh theo hướng giảm tính lý thuyết, tăng thực hành, giảm thời lượng trên lớp và tăng thời lượng tự học, thực tế triển khai vẫn bộc lộ nhiều điểm hạn chế: giáo viên còn chậm đổi mới phương pháp dạy học, học sinh còn hạn chế về nhận thức, thái độ và kỹ năng tự học, công tác quản lý trong nhà trường chưa đồng bộ. Tại tỉnh Long An, dù Tỉnh ủy và Sở Giáo dục và Đào tạo đã có nhiều định hướng khuyến khích tự học, nhưng công tác quản lý hoạt động tự học tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn vẫn gặp nhiều vướng mắc.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là khảo sát thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học của học sinh trung học phổ thông tại tỉnh Long An, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động này.

Khóa luận xác định các nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu cụ thể như sau:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tự học và công tác quản lý hoạt động tự học của học sinh trung học phổ thông.
  2. Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học của học sinh trung học phổ thông tại tỉnh Long An.
  3. Đề xuất và khảo sát tính khả thi của các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động tự học của học sinh trung học phổ thông tại địa phương.
  • Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý hoạt động dạy học tại các trường trung học phổ thông tỉnh Long An.
  • Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học của học sinh trung học phổ thông tại tỉnh Long An.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát tập trung tại bốn trường trung học phổ thông gồm: Trường THPT Tân An (thành phố Tân An), Trường THPT Tân Thạnh (huyện Tân Thạnh), Trường THPT Thạnh Hóa (huyện Thạnh Hóa) và Trường THPT Đức Hòa (huyện Đức Hòa). Nghiên cứu xem xét trên bình diện các chức năng quản lý hoạt động tự học với chủ thể quản lý chính là Ban Giám hiệu và Tổ trưởng chuyên môn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống lý luận dựa trên việc kế thừa các quan niệm về quản lý, quản lý giáo dục và tự học trong khoa học giáo dục. Về lý luận quản lý giáo dục, tác giả tổng hợp quan điểm của Taylor, Fayol, Trần Kiểm, Nguyễn Bá Sơn và các tài liệu chuyên ngành để chuẩn hóa khái niệm quản lý giáo dục ở hai cấp độ vĩ mô và vi mô, đồng thời vận hành bốn chức năng quản lý cơ bản: kế hoạch hóa, tổ chức (dựa trên mô hình quy trình 5 bước của Ernest Dale), chỉ đạo và kiểm tra (thực hiện theo chu trình so sánh kết quả thực tế với tiêu chuẩn, xác định sai lệch, phân tích nguyên nhân và điều chỉnh).

Về lý luận tự học, khóa luận tổng thuật các định nghĩa của N. Rubakin, Võ Quang Phúc, Nguyễn Cảnh Toàn, Phạm Quang Bảo, Lê Thanh Tú và xác định tự học trong nghiên cứu này là dạng "tự học trong hoạt động dạy học", diễn ra dưới sự hướng dẫn trực tiếp hoặc gián tiếp của người thầy. Nghiên cứu hệ thống hóa năm nguyên tắc đảm bảo việc tự học: bảo đảm tính tự giáo dục, bảo đảm tính khoa học, bảo đảm học đi đôi với hành, nâng cao dần đến mức tự giác tích cực và bảo đảm nâng cao, củng cố dần kỹ năng, kỹ xảo. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tự học được phân loại gồm: động cơ học tập, nội dung dạy học, phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá, điều kiện môi trường học tập và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu được triển khai đồng bộ:

  • Quan điểm tiếp cận phương pháp luận: Quan điểm hệ thống - cấu trúc (nghiên cứu toàn diện các bộ phận cấu thành của công tác quản lý trong một chỉnh thể); Quan điểm lịch sử - logic (xem xét sự hình thành, phát triển của đối tượng gắn với bối cảnh cụ thể của tỉnh Long An); Quan điểm thực tiễn (xuất phát từ việc giải quyết vấn đề quản lý thực tế tại địa phương).
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập, phân tích, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa các văn kiện, công trình khoa học, sách báo, chiến lược giáo dục.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Sử dụng bốn mẫu phiếu hỏi gồm Mẫu 1 (dành cho Ban Giám hiệu và Tổ trưởng chuyên môn), Mẫu 2 (dành cho giáo viên THPT), Mẫu 3 (dành cho học sinh THPT) và Mẫu 4 (khảo sát tính khả thi của các biện pháp đề xuất trên nhóm khách thể Ban Giám hiệu và Tổ trưởng chuyên môn).
    • Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn sâu các nhóm đối tượng nhằm làm rõ thực trạng quản lý và tự học.
    • Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến các nhà quản lý giáo dục giàu kinh nghiệm để thẩm định tính khả thi của các giải pháp.
  • Phương pháp thống kê toán học: Xử lý số liệu khảo sát từ các bảng hỏi bằng phần mềm SPSS phiên bản 16 để tính điểm trung bình (ĐTB), xếp hạng thứ bậc và so sánh các tương quan thực trạng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận về công tác quản lý hoạt động tự học của học sinh trung học phổ thông

Chương này dành cho việc tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề trên thế giới và tại Việt Nam. Về lịch sử quốc tế, đề tài điểm qua tư tưởng của Khổng Tử (quan điểm học kết hợp suy nghĩ), J. A. Comenxki (dạy học lấy người học làm trung tâm, giáo viên dạy ít đi để học sinh học nhiều hơn), N. Rubakin (phương pháp tự đặt câu hỏi và tự tìm câu trả lời qua đọc sách), J. Dewey (giáo dục là quá trình học suy nghĩ thông qua giải quyết vấn đề), S. Rassekh, A. S. Makarenko, R. Retzke, T. Makiguchi, cùng mô hình MASTER của Gordon Dryden và Jeannette Vos. Tại Việt Nam, tác giả lược thuật tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh ("lấy tự học làm cốt"), chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, các công trình của GS. Nguyễn Cảnh Toàn, GS. Tạ Quang Bửu, và phân tích các luận văn thạc sĩ đi trước (Lê Thanh Tú khảo sát tại huyện Thốt Nốt - Cần Thơ; Phạm Quang Bảo nghiên cứu Trường Văn Hóa I - Bộ Công An; Trần Bá Khiêm nghiên cứu Trường Sĩ quan Lục quân II; Đặng Ngọc Thái nghiên cứu tại huyện Long Điền - Bà Rịa Vũng Tàu; Lê Khắc Mỹ Phượng).

Tiếp đó, chương 1 chuẩn hóa các khái niệm công cụ và làm rõ hai nội dung cốt lõi của công tác quản lý hoạt động tự học:

  1. Quản lý hoạt động tự học thông qua hoạt động dạy của giáo viên: Gồm quản lý khâu chuẩn bị kế hoạch bài dạy; quản lý thực hiện kế hoạch bài dạy (dự giờ định kỳ, đột xuất, thao giảng, xây dựng thang đánh giá); quản lý đổi mới phương pháp dạy học; quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp; quản lý công tác chủ nhiệm lớp; quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả tự học (phối hợp lực lượng, thiết lập ngân hàng đề, chuẩn hóa tiêu chí đánh giá).
  2. Quản lý việc hướng dẫn học sinh tự học: Tập trung vào hình thành động cơ tự học, hướng dẫn học sinh lập kế hoạch, xác định nội dung tự học, rèn luyện kỹ năng và phương pháp học tập độc lập.

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học của học sinh trung học phổ thông tại tỉnh Long An

Chương 2 trình bày bức tranh tổng thể về tình hình giáo dục THPT tỉnh Long An thông qua các số liệu thống kê về quy mô giáo viên, tình hình học lực và hạnh kiểm của học sinh tại địa phương (Bảng 2.1 và Bảng 2.2). Dựa trên mẫu khảo sát (Bảng 2.3) và quy ước tính điểm của bảng hỏi (Bảng 2.4), tác giả phân tích thực trạng theo ba bình diện chính:

  • Thực trạng nhận thức và hoạt động tự học của học sinh: Phân tích nhận thức của học sinh về vai trò, biểu hiện và các yếu tố tác động đến tự học (Bảng 2.5, Bảng 2.6, Bảng 2.7). Đánh giá mức độ tự học (Bảng 2.8), các nhóm kỹ năng tự học đã đạt được (Bảng 2.9), cùng hệ thống thói quen tiêu cực (Bảng 2.10) và tích cực (Bảng 2.11) của học sinh THPT Long An trong quá trình tự học.
  • Thực trạng công tác quản lý của Ban Giám hiệu và Tổ trưởng chuyên môn: Đo lường thái độ và mức độ quan tâm của đội ngũ quản lý (Bảng 2.12, Bảng 2.13); đánh giá mức độ triển khai các nội dung quản lý hoạt động tự học (Bảng 2.14). Phân tích chi tiết mức độ thực hiện bốn chức năng quản lý: kế hoạch hóa (Bảng 2.16), tổ chức (Bảng 2.17), chỉ đạo (Bảng 2.18) và kiểm tra đánh giá (Bảng 2.19).
  • Thực trạng hoạt động quản lý hướng dẫn và hỗ trợ học sinh tự học: Khảo sát thực trạng quản lý việc hình thành động cơ tự học (Bảng 2.20), hướng dẫn xây dựng kế hoạch tự học (Bảng 2.21), hướng dẫn nội dung tự học (Bảng 2.22), hướng dẫn kỹ năng và phương pháp tự học (Bảng 2.23); đánh giá mức độ giáo viên giúp đỡ (Bảng 2.24) và kích thích học sinh tự học (Bảng 2.25).
  • Những khó khăn và đề xuất thực tiễn: Tổng kết các trở ngại chính trong công tác quản lý tại cơ sở (Bảng 2.26) và phân tích các ý kiến đề xuất từ đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên (Bảng 2.27).

Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh trung học phổ thông tại tỉnh Long An

Trên cơ sở phân tích thực trạng ở chương 2, tác giả đề xuất hệ thống biện pháp quản lý gồm bốn nhóm và kiểm chứng tính khả thi thông qua khảo sát cán bộ quản lý:

  • Nguyên tắc đề xuất và cách tính điểm: Xác lập các nguyên tắc khoa học, phù hợp thực tiễn trường THPT tại tỉnh Long An; quy ước tính điểm đánh giá tính khả thi theo thang đo điểm trung bình (Bảng 3.1).
  • Bốn nhóm biện pháp quản lý đề xuất:
    1. Nhóm biện pháp về quản lý việc hướng dẫn học sinh tự học: Tập trung chỉ đạo giáo viên hình thành động cơ, định hướng mục tiêu, rèn luyện kỹ năng lập kế hoạch, phương pháp đọc sách, ghi chép và tự kiểm tra tri thức cho học sinh.
    2. Nhóm biện pháp về quản lý hoạt động tự học thông qua hoạt động dạy: Tăng cường quản lý việc soạn giáo án theo hướng phát huy tính tích cực; đổi mới phương pháp giảng dạy trên lớp gắn với giao nhiệm vụ tự học; đổi mới khâu kiểm tra, đánh giá theo hướng đo lường năng lực tự học; kết hợp chặt chẽ với hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và công tác chủ nhiệm.
    3. Nhóm biện pháp về điều chỉnh công tác quản lý hoạt động tự học của học sinh: Hoàn thiện quy trình thực hiện bốn chức năng quản lý; phân định rõ trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa Ban Giám hiệu, Tổ trưởng chuyên môn, giáo viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm; xây dựng nề nếp kiểm tra, rút kinh nghiệm định kỳ.
    4. Nhóm biện pháp về hoàn thiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học phục vụ cho hoạt động tự học: Nâng cấp thư viện trường học, bổ sung sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, cải thiện phòng thí nghiệm và ứng dụng công nghệ thông tin tạo môi trường thuận lợi cho học sinh tự học.
  • Đánh giá tính khả thi: Tác giả trình bày kết quả lấy ý kiến của Ban Giám hiệu và Tổ trưởng chuyên môn về tính khả thi của từng nhóm biện pháp thông qua Bảng 3.2, Bảng 3.3, Bảng 3.4 và Bảng 3.5, khẳng định sự đồng thuận cao của đội ngũ quản lý cơ sở đối với các giải pháp được đề xuất.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã khái quát hóa và đo lường định lượng các khía cạnh quản lý hoạt động tự học tại các trường THPT tỉnh Long An:

Nhóm nội dung khảo sát Khách thể và công cụ Kết quả phân tích chính trong khóa luận
Thực trạng hoạt động tự học của học sinh Học sinh THPT (Mẫu 3, xử lý qua SPSS 16) Phản ánh đầy đủ nhận thức của học sinh về vai trò của tự học; chỉ rõ khoảng cách giữa nhận thức và mức độ thực hiện kỹ năng tự học; nhận diện các thói quen tiêu cực và tích cực phổ biến trong tự học.
Thực trạng công tác quản lý của BGH và TTCM BGH và TTCM, Giáo viên (Mẫu 1 và 2) Khẳng định mức độ nhận thức cao về tầm quan trọng của tự học, nhưng việc thực hiện các chức năng quản lý (đặc biệt là khâu kế hoạch hóa và kiểm tra đánh giá hoạt động tự học) còn thiếu tính thường xuyên, đồng bộ.
Các yếu tố và khó khăn quản lý BGH, TTCM, Giáo viên, Học sinh Làm rõ các lực cản gồm: áp lực thi cử, thiếu tài liệu hướng dẫn tự học chuyên biệt, giáo viên chậm đổi mới phương pháp, điều kiện cơ sở vật chất và thư viện chưa đáp ứng tối đa nhu cầu tự nghiên cứu.
Thẩm định tính khả thi của các biện pháp đề xuất BGH và TTCM (Mẫu 4, Bảng 3.2 đến Bảng 3.5) Cả bốn nhóm biện pháp (quản lý hướng dẫn tự học, quản lý thông qua hoạt động dạy, điều chỉnh bộ máy quản lý, hoàn thiện CSVC) đều đạt mức điểm khả thi cao theo đánh giá của các nhà quản lý trường học.

Về mặt đóng góp khoa học, tác giả tự chỉ rõ sự khác biệt của đề tài: các nghiên cứu trước đó của Lê Thanh Tú, Lê Khắc Mỹ Phượng, Đặng Ngọc Thái chủ yếu xem xét thẩm quyền quản lý đơn lẻ của vị trí Hiệu trưởng, hoặc nghiên cứu trên các mô hình trường chuyên biệt có kỷ luật quân sự/công an (như công trình của Phạm Quang Bảo tại Trường Văn Hóa I hay Trần Bá Khiêm tại Trường Sĩ quan Lục quân II). Công trình này là nghiên cứu khảo sát quản lý hoạt động tự học của học sinh THPT trên địa bàn một tỉnh (Long An) với chủ thể quản lý đồng thời là Ban Giám hiệu và Tổ trưởng chuyên môn – hai mắt xích chỉ đạo sư phạm trực tiếp nhất trong trường phổ thông.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu:
    • Khảo sát thực tiễn chỉ giới hạn trong phạm vi bốn trường trung học phổ thông đại diện cho một số khu vực của tỉnh Long An (THPT Tân An, THPT Tân Thạnh, THPT Thạnh Hóa, THPT Đức Hòa), chưa thể bao quát toàn bộ hệ thống các trường THPT trên toàn địa bàn tỉnh.
    • Chủ thể nghiên cứu quản lý tập trung chủ yếu vào Ban Giám hiệu và Tổ trưởng chuyên môn, chưa khảo sát sâu trách nhiệm và sự phối hợp của các tổ chức đoàn thể xã hội và phụ huynh học sinh ngoài nhà trường.
    • Đánh giá giải pháp mới dừng lại ở việc khảo sát mức độ khả thi thông qua bảng hỏi lấy ý kiến chuyên gia và cán bộ quản lý (Mẫu 4), chưa tiến hành thực nghiệm sư phạm triển khai giải pháp trong thực tế một năm học hoàn chỉnh để đo lường định lượng sự cải thiện kết quả học tập của học sinh.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng quy mô điều tra trên toàn bộ các trường THPT trên địa bàn tỉnh Long An và các tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
    • Triển khai thực nghiệm sư phạm ứng dụng một hoặc một số nhóm biện pháp quản lý để so sánh đối chứng trước và sau tác động.
    • Nghiên cứu cơ chế phối hợp ba môi trường giáo dục (nhà trường - gia đình - xã hội) trong việc giám sát và hỗ trợ học sinh THPT tự học ngoài giờ lên lớp.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Quản lý Giáo dục và Tâm lý - Giáo dục học: Cung cấp khung cơ sở lý thuyết chuẩn hóa về bốn chức năng quản lý giáo dục ứng dụng trực tiếp vào quản lý hoạt động học tập của học sinh; cung cấp cấu trúc đề cương nghiên cứu thực trạng và hệ thống hóa tài liệu tổng thuật lịch sử vấn đề tự học.
  • Cán bộ quản lý trường THPT (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, Tổ trưởng chuyên môn): Tham khảo trực tiếp bốn nhóm biện pháp quản lý tại Chương 3 để vận dụng vào công tác xây dựng kế hoạch chỉ đạo chuyên môn, đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn, dự giờ giáo viên và chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát huy tính độc lập học tập của học sinh.
  • Các nhà nghiên cứu khảo sát thực trạng giáo dục phổ thông: Có thể tái sử dụng hoặc hiệu chỉnh hệ thống bốn mẫu bảng hỏi điều tra (BGH-TTCM, GV, HS và mẫu khảo sát tính khả thi) cùng phương pháp xử lý dữ liệu khảo sát bằng phần mềm SPSS đã được thiết lập trong luận văn.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận này khảo sát thực trạng công tác quản lý tại những trường THPT nào?

Khóa luận thực hiện khảo sát tại bốn trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Long An, gồm: Trường THPT Tân An (thành phố Tân An), Trường THPT Tân Thạnh (huyện Tân Thạnh), Trường THPT Thạnh Hóa (huyện Thạnh Hóa) và Trường THPT Đức Hòa (huyện Đức Hòa).

2. Chủ thể quản lý được xác định trọng tâm trong đề tài là những vị trí nào?

Khác với nhiều công trình chỉ nghiên cứu vai trò của Hiệu trưởng, chủ thể quản lý được xác định trọng tâm trong khóa luận này là Ban Giám hiệu (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng) và Tổ trưởng chuyên môn tại các trường trung học phổ thông.

3. Tác giả đã sử dụng những công cụ và phương pháp xử lý dữ liệu nào để nghiên cứu thực trạng?

Nghiên cứu sử dụng bốn mẫu bảng hỏi điều tra: Mẫu 1 (dành cho Ban Giám hiệu và Tổ trưởng chuyên môn), Mẫu 2 (dành cho giáo viên THPT), Mẫu 3 (dành cho học sinh THPT) và Mẫu 4 (khảo sát tính khả thi của các biện pháp). Toàn bộ dữ liệu định lượng thu được từ các bảng hỏi được nhập và phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS phiên bản 16.

4. Tác giả đề xuất bao nhiêu nhóm biện pháp quản lý hoạt động tự học cho học sinh THPT Long An?

Tác giả đề xuất bốn nhóm biện pháp quản lý chính tại Chương 3:

  1. Nhóm biện pháp về quản lý việc hướng dẫn học sinh tự học.
  2. Nhóm biện pháp về quản lý hoạt động tự học thông qua hoạt động dạy.
  3. Nhóm biện pháp về điều chỉnh công tác quản lý hoạt động tự học của học sinh.
  4. Nhóm biện pháp về hoàn thiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học phục vụ cho hoạt động tự học.

5. Khóa luận tự xác định điểm mới và không trùng lặp so với các đề tài đi trước ở điểm nào?

Tác giả nêu rõ các nghiên cứu trước đây chỉ khảo sát công tác quản lý của cá nhân Hiệu trưởng (như đề tài của Lê Thanh Tú, Lê Khắc Mỹ Phượng, Đặng Ngọc Thái) hoặc khảo sát trên các mô hình trường chuyên biệt đặc thù (như đề tài của Phạm Quang Bảo, Trần Bá Khiêm). Đề tài này là công trình khảo sát quản lý hoạt động tự học của học sinh THPT trên bình diện địa bàn một tỉnh với chủ thể quản lý kết hợp đồng bộ giữa Ban Giám hiệu và Tổ trưởng chuyên môn.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hồ Ngọc Kiều đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về tự học và công tác quản lý hoạt động tự học của học sinh THPT theo các chức năng quản lý giáo dục. Thông qua khảo sát thực tiễn tại bốn trường THPT trên địa bàn tỉnh Long An bằng phần mềm SPSS 16, công trình đã chỉ rõ thực trạng nhận thức, kỹ năng tự học của học sinh và những khoảng trống trong việc chỉ đạo, kiểm tra của đội ngũ cán bộ quản lý. Bốn nhóm biện pháp quản lý do tác giả đề xuất đã được kiểm chứng tính khả thi qua đánh giá của Ban Giám hiệu và Tổ trưởng chuyên môn, tạo lập căn cứ khoa học thiết thực cho công tác chỉ đạo chuyên môn tại các trường phổ thông.