MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Ngày ngay, trước sự phát triển của ngành công nghiệp nói chung và tập trung vào phát triển các ngành mũi nhọn nói riêng đề hội nhập với nên kinh tế thế giới với mục tiêu đưa Việt Nam từ một nước đang phát triển trở thành nước phát triển. Trong đó, ngành chế biến gỗ đã có những bước phát triển trong những năm gần đây. Việt Nam là một trong 10 người xuất khâu sản phẩm gỗ lớn nhất thế giới. Theo Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - NNPTNT), năm 2021, 5⁄5 chỉ tiêu của ngành lâm nghiệp đều đạt và vượt mục tiêu đề ra.
Đặc biệt, trị giá xuất khâu gỗ và lâm sản đạt 15,87 tỉ USD, tăng 20% so với kế hoạch và tăng 20% so với năm 2020 (riêng gỗ và sản pham gỗ đạt 14,72 ti USD); xuất siêu cả năm ước đạt 12,94 tỉ USD, tăng 21,2% so với năm trước. Việt nam xuất khâu đồ gỗ nội thất cho 120 quốc gia và cùng lãnh thổ , trong đó có Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Anh là các thị trường nhập khâu lớn nhất. Tuy nhiên, ngành chế biến gỗ Việt Nam cũng đối mặt nhiều khó khăn. Một trong những khó khăn lớn nhất đó là sự phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu và giá trị giá tăng thấp làm cho lợi nhuận từ xuất khâu gỗ vẫn ở mức thấp.
Bên cạnh các doanh nghiệp chế biến gỗ lớn, vấn còn các doanh nghiệp có quy mô sản xuất nhỏ và trang bị công nghệ lac hay hầu hết chi sản xuất các sản phâm phôi gỗ thô dé xuất khẩu, chi phí cao, khả năng thiết kế hạn chế và huy động nguồn vốn thi gặp nhiều khó khăn là một trong những lý do khiến giá trị gia tăng của sản phẩm gỗ thấp. Một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu hiện nay của các nhà máy chế biến gỗ là phải làm sao vừa phải đáp ứng nhu cầu sử dụng gỗ của con người mà vừa phải biết tiết kiệm nguồn nguyên liệu, giảm chỉ phí sản xuất, không ngừng nâng cao chât lượng sản phâm, đó là mục tiêu mà các doanh nghiệp đêu mong muôn hướng tới và dé làm được điều đó thì cần có những dây chuyên thiệt bị hiện đại, công nghệ tiên tiên được nhập khâu từ các nước phát triên cùng với xây dựng đội ngũ kiên thức chuyên môn có tay nghề tốt, quy trình sản xuất sản phẩm từ gỗ hoàn chỉnh. Nhận thấy tầm quan trọng của vẫn đề và được sự phân công của Khoa Lâm Nghiệp trường ĐH Nông Lâm TP.HCM, dưới sự hướng dẫn tận tình của giảng viên TS. Bùi Thị Thiên Kim và được sự cho phép, giúp đỡ và tạo điều kiện, môi trường thực tập tốt nhất của Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ HHLDecor, tôi đã thực hiện được đề tài “Khảo sát quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm ghế Bar LF13 tại công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ HHLDecor” với mong muốn tìm ra nhiều sản phẩm phù hợp với người tiêu dùng, nhiều mẫu mã đa dạng, chất lượng tốt đề cạnh tranh với nhiều đòng sản phẩm khác trên thị trường.2 Mục đích nghiên cứu Khảo sát quy trình công nghệ sản xuất ghế Bar LF13 tại Công ty TNHH sản xuất thương mại dịch vụ HHLDecor nhằm xác định được ưu nhược điểm trong quá trình sản xuất dé từ đó đề xuất các giải pháp công nghệ hợp lý, hoàn thiện hơn quy trình công nghệ sản xuất ra sản phẩm góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, tỷ lệ lợi dụng gỗ và năng suất công ty.3 Mục tiêu nghiên cứu Đề đạt được mục đích trên trong quá trình thực hiện đề tài cần tiễn hành thực hiện các mục tiêu sau: e Khảo sát nguyên liệu liệu được sử dụng dé hoàn thành sản pham.
e Khảo sát sản phẩm. e Khảo sát quy trình công nghệ dé sản xuất sản phẩm. e Khảo sát, tính toán tỷ lệ lợi dung gỗ trong quá trình sản xuất. e Khảo sát ty lệ khuyết tật, phế phẩm qua từng công đoạn sản xuất sản phẩm và xác định nguyên nhân gây ra.
e Phân tích và đánh giá ưu nhược điểm và đề suất hoàn thiện quy trình công nghệ.4 Giới hạn đề tài 1.1 Ý nghĩa khoa học - thực tiễn 1.1 Ý nghĩa khoa học Khảo sát các sản phẩm mộc, đặc biệt là các sản phẩm mộc hiện đại đã không còn đơn giản, các sản phẩm chỉ mang tích sử dụng tượng trưng. Sản phẩm mộc đòi hỏi đáp ứng các yêu cầu nhân trắc trắc học, đồng thời phù hợp với môi trường và không gian sử dụng. Bên cạnh sự sáng tạo, người làm ra chúng cần nắm bắt được mức độ tỉnh tế của sản phẩm, làm cho sản phẩm mộc trở thành sản phẩm công nghiệp có tính khoa học cao, có thế áp dụng vào trong quá trình gia công sản xuất sau này.2 Ý nghĩa thực tiễn Hiện nay, tiết kiệm nguyên liệu và các chỉ phí trong sản xuất đang là vấn đề cấp thiết đối với các nhà sản xuất và trong thời điểm khủng hoảng kinh tế vấn đề này trở nên đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với mỗi doang nghiệp. Doanh nghiệp chế biến gỗ luôn mong muốn giảm chỉ phí sản xuất mức thấp nhất cho một đơn vị sản phẩm.
Yêu cầu đặt ra là phải sử dụng hợp lý nguồn nguyên liệu, tính toán sao tỷ lệ lợi dụng gỗ đạt được là cao nhất. Đây cũng chính là vấn đề mà ngành công nghiệp chế biến gỗ đang phải hướng tới. Đạt được tỷ lệ lợi dụng gỗ sẽ góp phần tăng cường hiệu quả và tính bền vững trong quản lý, sử dụng nguồn nguyên liệu gỗ từ khai thác rừng bền vững trong nước. CHƯƠNG 2 TỎNG QUAN 2.1 Tổng quan về ngành chế biến gỗ ở Việt Nam Ngành công nghiệp chế biến gỗ đã trở thành ngành hàng xuất khẩu chủ lực xếp thứ 5 của Việt Nam chi đứng sau dầu thô, dét may, giày dép và thủy sản.
Cùng với đó, Việt Nam đã thành một nước xuất khẩu đồ gỗ đứng đầu Đông Nam A. Chat lượng đồ gỗ Việt Nam luôn được cải tiễn, có khả năng cạnh tranh cao với các nước trong khu vực. Hiện nay, nước ta có khoảng 3.500 công ty chế biến gỗ, 340 làng nghề gỗ và lượng lớn các hộ gia đình sản xuất kinh doanh đồ gỗ. Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông Thôn thì những co sở chế biến gỗ thường có quy mô nhỏ.Theo nguồn gốc vốn thì có 5% doanh nghiệp thuộc sở hữu quốc gia, 95% còn lại là thuộc khu vực bốn nhân, và có 16% có vốn đầu tứ nước ngoai (FDI).
Về lao động, ngành công nghiệp chế biến gỗ có khoảng 250. Trong đó, 10% lao động có trình độ đại học trở lên; 45-50% lao động thường xuyên được dao tạo, cuối cùng là 35-40% lao động theo mùa vu. Song di có số lượng lao động lớn nhưng đa phần công nhân chưa được đào tạo bài bản, thiếu chuyên nghiệp. Sự phân công lao động không hợp lý, giảm sát, điều hành vẫn còn thiếu hiệu quả đang là những vấn đề nỗi cộm hiện giờ.
Năng suất lao động trong ngành chế biến gỗ ở Việt Nam còn thấp: bằng 50% của Philippines, 40% năng suất của Trung Quốc và chỉ bằng 20% năng suất lao động của Châu Âu (EU). Với tình trạng này, vân đê đào tạo và bô sung nguôn nhân công có tai nghê cao, có khả năng dùng tốt các kỹ thuật hiện đại trong sản xuất là vấn đề khác lạ quan trọng đối với ngành hàng chế biến gỗ. Về công nghệ sản xuất, cac doanh nghiệp gỗ Việt Nam được phân theo 4 cấp độ: nhóm các công ty FDI và các doanh nghiệp to và vừa sản xuất tác phẩm xuất khâu, nhóm các tổ chức sinh sản ván nhân tạo, nhóm những tổ chức chế biến đồ gỗ mỹ nghệ. Nhìn phổ biến trong thời kì qua những tổ chức chế biến gỗ đã có một số có găng trong cải tiến công nghệ sử dụng trong chế biến gỗ.
rộng rãi khoa học mới, hiện đại như khoa học xử lý biến tính 26, tạo những vat liệu composite gỗ cũng đã được đầu tứ tại Việt Nam. Nguyên liệu của ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam hiện có nhiều khó khăn, chủ yếu từ hai nguồn cơ bản: Nguồn nguyên liệu gỗ trong nước (gỗ tự nhiên và gỗ rừng trồng) và nguồn gỗ nguyên liệu nhập khâu. Về nguồn vật liệu gỗ trong nước thì tính từ lúc năm 2014 Chính phủ quyết định đóng cửa rừng tự nhiên, do vậy nguôn nguyên liệu go nội địa chỉ còn trông mong vảo go rừng trông. Nguyên liệu gỗ rừng trồng hiện đạt khoảng 3,2 triệu ha, với trữ lượng gỗ dat khoảng 60 triệu m3.
Sản lượng gỗ rừng đạt trên 5 triệu m3/năm, sản lượng gỗ này cốt yêu là keo và khuynh diệp. Các doanh nghiệp Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn khi xuất sang hai thị trường là Châu Âu và Hoa Kỳ đều bắt buộc phải dùng 70% vật liệu có chứng chỉ FSC, 30% còn lại là gỗ có nguồn gốc. Từ tháng 3/2013, công ty xuất khẩu gỗ vào EU còn phải gánh thêm đạo luật FLEGT đòi hỏi những lô đồ gỗ nhập vào EU phải sáng tỏ, rõ ràng về cội nguồn gỗ vật liệu mới cho nhập khẩu. Bên cạnh đó, nguồn gỗ trong nước không đáp ứng với nhu cầu sản xuất đồ gỗ xuất khẩu và cũng chưa có chứng chỉ FSC.
Hiện nay, trên địa bàn cả nước thế hệ có khoảng 20.000 ha rừng được cấp chứng chỉ, trong đó có 9.900 ha là vùng vật liệu để đáp ứng nhà máy giấy của Nhật tại Quy Nhơn, trên 10 nghìn ha là nguyên liệu của công ty giấy Bãi Bằng. Nguồn nguyên liệu gỗ của Việt Nam bi tác động đáng ké từ gỗ nhập khẩu. Lượng gỗ nhập khẩu khá to chiếm 30-50%. Kim ngạch nhập khâu gỗ nguyên liệu bằng 30% kim ngạch xuất khâu công trình gỗ.
Về thị trường nhập khẩu, Việt Nam đang nhập khẩu từ trên 100 nhà nước và vùng lãnh thổ. Nguyên liệu gỗ được nhập cảng từ Lào và Campuchia nhưng nguồn cung này đang hết sạch. Diễn ra từ năm 2005 đến nay, Malaysia và Indonesia đã đóng cửa mặt hàng gỗ bổ, gây phô thông gian truân cho các tổ chức vừa và bé. Giá gỗ bình quân từ 5% — 7%, đặc biệt là gỗ cứng đã tăng từ 30% — 40%, khiến cho phô biến tô chức Việt Nam rơi vào trạng thái khó khăn.
Những nguồn lâm sản ngoài gỗ như tre, mía, song, mây, keo. rất phong phú. Bên cạnh đó, để phục vụ cho lĩnh vực công nghiệp chế biến gỗ chỉ có có tre nứa và song mây là hai nguồn vật liệu căn bản.