Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHAP LY VE TO CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CUA HOI DONG NHÂN DAN CAP HUYỆN 1. Khái quát về Hội đồng nhân dân cấp huyện 1. Khái niệm Hội đồng nhân dân huyện Hội đồng nhân dân xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1946, cùng với sự ra đời của Quốc hội khoá I. HĐND được cấu thành từ những đại biểu ưu tú đại diện cho giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức, các dân tộc, tôn giáo, thành phần xã hội.
ở địa phương được cử tri địa phương tín nhiệm bau ra theo các nguyên tắc phổ thông, bình đăng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. HĐND trong nhà nước là những tô chức chính quyền gần gũi dân nhất, hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng và yêu cầu của nhân dân, nắm vững những đặc điểm của địa phương. Như vậy: Theo Khoản 1 Điều 6 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, sửa đối b6 sung năm 2019: “HPND gồm các đại biểu HĐND do cử tri ở địa phương bau ra, là cơ quan quyên lực nhà nước ở địa phương, đại điện cho ý chỉ, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dan địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên”. HĐND bao gồm: Đại biểu HĐND là thuật ngữ pháp lí dùng để chỉ một cá nhân công dân được bau cử vào HĐND (các cấp).
Đại biểu HĐND là đại diện cho nhân dân trong don vị hành chính - lãnh thé mà Hội đồng là người đại diện, có các quyền hạn và trách nhiệm được quy định cụ thê trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Thuật ngữ Đại biểu HĐND có nguồn gốc từ các thuật ngữ tương đương được sử dụng từ thời kì đầu thành lập nước Việt Nam dân chu cộng hoa (8. Từ khi Luật tổ chức HĐND và UBND các cấp năm 1962 được ban hành, thuật ngữ này chính thức được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật. “Đại biểu HĐND là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địa phương; liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát cua cử tri, thực hiện chê độ tiếp xúc, báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của HĐND, trả lời những yêu cầu, kiến nghị của cử tri; xem xét, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Đại biểu HĐND có nhiệm vu vận động Nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật, chính sách của Nhà nước, nghị quyết của HĐND, động viên Nhân dân tham gia quản ly nhà nước.” “Đại biểu HĐND chịu trách nhiệm trước cử tri địa phương và trước HĐND về việc thực hiện nhiệm vụ, quyên hạn đại biểu của mình. Đại biểu HĐND bình dang trong thao luận va quyét định các vấn dé thuộc nhiệm vu, quyên hạn của HĐND ”” - Thường trực HĐND là cơ quan thường trực của HĐND, có vai trò quan trọng trong việc điều hòa, phối hợp hoạt động giữa các ban của Hội đồng nhân dan và các đại biểu HĐND. Thường trực HĐND có cả ở 3 cấp là xã, huyện, tỉnh. Thường trực HĐND có nhiệm vụ triệu tập va chủ tọa các ki hop của HĐND, giám sát việc thực hiện Hiến pháp và luật tại địa phương, trình HĐND về việc bỏ phiếu bất tín nhiệm với người giữ trọng trách do HĐND bầu ra, tổ chức tiếp dân, giữ mỗi quan hệ với Ban thường vụ Mặt trận tổ quốc Việt Nam, điều hòa hoạt động của các ban thuộc HĐND và tập hợp các chất vấn của đại biểu trình HĐND.
Thành viên của Thường trực HĐND không thể đồng thời là thành viên của UBND cùng cấp”. Các ban của HĐND: Trước năm 2016, các Ban HĐND được thành lập ở 2 cấp là tỉnh và huyện; Từ Nhiệm kỳ 2016-2021, chính thức thành lập Ban Pháp chế và Ban Kinh tế - Xã hội cấp xã theo quy định tại Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015. Các ban bao gồm trưởng ban và các thành viên do HĐND bau ra và phải là đại biểu của HĐND. Các ban có nhiệm vụ giúp thường trực Hội đồng nhân dân chuẩn bị kì họp, thâm tra các báo cáo do HĐND hay thường trực HĐND giao cho, giúp thường trực HĐND giám sát hoạt động của ' Khoản 1, Điều 115, Hiến pháp 2013 ? Khoản 2, Điều 6, Luật Tô chức Chính quyền địa phương năm 2015, sửa đối bố sung năm 2019 > Khoản 3, Điều 6, Luật Tô chức Chính quyền địa phương năm 2015, sửa đôi bé sung năm 2019 * Khoản 3, Điều 32, Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2019 8 cơ quan nhà nước, tổ chức chức kinh tế, xã hội và các lực lượng vũ trang Nhân dân thực hiện Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND cùng cấp.
“Ban của HIDND là cơ quan của HPND, có nhiệm vu thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án trước khi trình HĐND, giám sát, kiến nghị về những vấn đề thuộc lĩnh vực Ban phụ trách; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HDND ”” * Đặc điểm của Hội đồng nhân dân HĐND là tô chức có tính chất quần chúng, bao gồm đại biểu mọi tầng lớp nhân dân, các dân tộc, các tôn giáo. HĐND là một trong hai yếu tố của chính quyền địa phương, được xác định là cơ quan quyền lực ở địa phương: HĐND được thành lập theo nhiệm kỳ của Quốc hội và là cơ quan địa biểu dân cử ở địa phương; HĐND tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc lãnh đạo tập thé kết hợp với cá nhân người đứng dau, quyết định những van dé quan trọng co bản ở địa phương; HĐND được thiết kế theo ba cấp chính quyền tại địa phương. Như vậy, HĐND là tổ chức nhà nước vừa có tính chất chính quyền vừa có tính chất quần chúng, vừa là trường học quản lý nhà nước, quản lý xã hội ở địa phương. e HĐND huyện là cơ quan quyền quyên lực cấp trung gian giữa HĐND cấp tỉnh và HĐND cấp xã, bởi vậy HĐND huyện mang day đủ những đặc điểm của HĐND các cấp.
Tuy nhiên chúng ta có thể nhận diện HĐND huyên ở những đặc điểm sau: Thứ nhất: HĐND huyện là cơ quan đại biểu dân cử cấp huyện chịu trách nhiệm trước nhân dân cấp huyện và chịu trách nhiệm trước chính quyền cấp tỉnh; > Khoản 4, Điều 6, Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015, sửa đổi b6 sung năm 2019 9 Thứ hai: HĐND huyện thực hiện việc chỉ đạo quản lý theo chỉ đạo của HĐND tỉnh đồng thời chịu trách nhiệm chỉ đạo đối với chính quyền cấp xã; Thứ ba: HĐND huyện là cơ quan quyền lực thuộc cấp chính quyền trung gian chịu trách nhiệm gián tiếp đối với Chính phủ; e C6 thé quan niệm về HĐND huyện như sau: “HPND huyện là cơ quan đại biểu dân cử cấp huyện; do nhân dân huyện bau, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo nguyên tac phổ thông, bình dang trực tiếp và bỏ phiếu kin; là cơ quan quyên lực cấp huyện cùng với HĐND xã; HĐND tỉnh và Quốc hội tạo nên cơ quan quyên lực nhà nước, thay mặt nhân dân trên dia bàn huyện sử dụng quyên lực nhà nước và là gốc của chính quyên địa phương trên địa bàn huyện” 1. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân cấp huyện a) Vị trí của HĐND cấp huyện Sau khi cách mạng thang 8 thành công, Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ký Sắc lệnh số 63/SL ngày 23/11/1945 về tổ chức HĐND và Ủy ban hành chính (UBHC). Theo quy định tại hai sắc lệnh này, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBHC. Sắc lệnh cũng quy định cụ thê về tô chức, quyền hạn, cách làm việc của HĐND và UBHC các cấp trong đó ghi rõ: “HĐND do nhân dân bầu ra theo lối phố thông và trực tiếp đầu phiếu và là cơ quan đại diện cho nhân dân.
UBHC do HĐND bầu ra và là cơ quan hành chính vừa thay mặt cho nhân dân, vừa đại diện cho Chính phủ”. Ngày 09/11/1946 Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thông qua Hiến pháp đầu tiên. Theo quy định của Hiến pháp năm 1946, HĐND do nhân dân bầu ra ở cấp tỉnh, thành phó, thị xã; ở các cấp bộ và huyện chỉ có UBHC. Đến năm 1958 Quốc hội mới ban hành Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
Lần đầu tiên Luật xác định HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, nhiệm kỳ HĐND cấp tỉnh là 3 năm, các cấp khác 2 năm. Trong giai đoạn này chưa có Thường trực HĐND. Năm 1959 Quốc hội ban hành Hiến pháp, năm 1962 ban hành Luật tô 10 chức HĐND và UBHC các cấp. Ở cấp độ Hiến pháp, đây là lần đầu tiên xác định HĐND là co quan quyên lực nhà nước ở địa phương.
Sau khi đất nước thống nhất, Quốc hội ban hành Hiến pháp năm 1980, Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1983. Hiến pháp và Luật xác định vi tri, vai trò HĐND là co quan quyền lực nhà nước ở địa phương, do nhân dân địa phương bầu, chịu trách nhiệm trước nhân dân và chính quyền cấp trên. Nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND các cấp được Hién pháp và Luật quy định cụ thé theo các lĩnh vực. Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, Quốc hội đã sửa đổi Hiến pháp 1980, ngày 30/6/1989 Quốc hội ban hành Luật tổ chức HĐND và UBND mới thay thế Luật 1983.
Về vị trí, vai tro của HĐND không thay đổi, tuy nhiên Luật quy định cụ thể hơn về nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND; xác định rõ hơn hai chức năng của HĐND đó là quyết định các van dé quan trọng và giám sát việc thi hành Hiến pháp và pháp luật. Dé tạo cơ sở pháp ly cho công cuộc đổi mới, Quốc hội ban hành Hiến pháp năm 1992, tiếp tục khang định HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Ngày 21/6/1994 Quốc hội ban hành Luật Tổ chức HĐND và UBND thay thế Luật 1989. Đề tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương, ngày 26/01/2003, Quốc hội thông qua Luật tổ chức HĐND và UBND thay thế Luật 1994.
Theo luật này vi trí, tính chat, nguyén tắc tô chức, hoạt động của HĐND cơ bản không thay đổi nhưng đã làm rõ hơn hai chức năng quyết định và giám sát. Sau hơn 10 năm thực hiện Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003, HĐND và UBND các cấp đã không ngừng được củng cố và hoàn thiện, co bản thực hiện tốt nhiệm vụ và quyền hạn trên tất cả các lĩnh vực của đời song xã hội của địa phương theo quy định của pháp luật.