Chương 1: Cơ sở lý luận Chương nay cung cấp tông quan về lý thuyết học tập trải nghiệm và học tập trong môi trường công nghệ thông tin. Đông thời, chương này cũng đề cập đến hai năng lực đặc thù trong môn Toán: năng lực tư duy và lập luận toán học, và năng lực sử dụng công cu, phương tiện học toán. Những năng lực nay rat quan trọng trong việc hình thành và phát triển kỹ năng toán học cho học sinh. Chương 2: Phân tích chương trình Giáo dục Phô thông 2018 và các sách giáo khoa hiện hành Chương nay phân tích sự tích hợp của các hoạt động thực hành va trải nghiệm trong chương trình giáo dục phô thông 2018 và cách các sách giáo khoa hiện hanh tô chức những hoạt động này.
Phân tích cho thấy các sách giáo khoa hiện tại chưa hiệu quả trong việc tô chức các hoạt động này nhằm phát triển năng lực toán học, đặc biệt là trong dạy học đỗ thị va tính chất của ham số sin. Chương 3: Nghiên cứu thực nghiệm Từ những phân tích ở chương trước, chương này đề xuất một tình huồng thực hành và trải nghiệm vé đỗ thị và các tính chat của ham số sin thông qua ứng dụng Google Sheets trên điện thoại đi động. Mục tiêu là bồi đưỡng năng lực tư duy và lập luận toán học cũng như năng lực sử dụng công cụ. phương tiện học toán, đánh gia hiệu quả thông qua các bài kiểm tra và phản hỏi từ học sinh.
Kết luận sư phạm Dé tai nhắn mạnh tim quan trong của việc tích hợp công nghệ va hoạt động thực hành trải nghiệm vào chương trình day học, không chi dé cải thiện kỹ năng toán học mà còn đề chuan bị cho học sinh trong việc ứng phó với các thách thức của thé gidi hién dai. 13 CHUONG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Khái niệm về “thực hành và trải nghiệm Toán” 1. Khái niệm “thực hành” Thực hành được xem là con đường quan trọng trong quá trình trưởng thành của một con người.
Chủ tịch Hồ Chí Minh (2011) cũng dạy: “Học với hành phải đi đôi. Học mà không hành thì vô ích”. Lave và Wenger (1991) định nghĩa "thực hành" là quá trình tham gia hoạt động thực tế, đóng góp vả tương tác với cộng đồng dé học tập. Qua đó, người học trở thành một phần của cộng đồng học tập và xây dựng kiến thức thông qua trải nghiệm thực tế.
Carr (1993) cũng cho rằng thực hành là một hanh động được thực hiện nhằm chiếm lĩnh một khả năng hoặc kĩ năng nhất định thông qua đó. Dai từ điển tiếng việt (1998) đưa ra định nghĩa, thực hành là “4p dụng lí thuyết vao thực tế”. “làm cho trở thành cái có thật bằng hoạt động cụ thê”. Gou (2012) cho rằng trong giáo dục, thực hành là việc học sinh, đưới sự dan đắt của giáo viên, nhận thức va trải nghiệm thé giới khách quan bang cách sử dụng kiến thức của mình với mục đích xác định, tập trung vào các van dé và phân tích, giải quyết các van dé thực tiễn dựa trên quá trình học tập hoạt động đa dang.
Theo đó, chương trình giáo dục phô thông — chương trình tông thẻ (2018, tr. 32) ghi rõ: thực hành là “ứng dụng những điều đã học dé phát hiện và giải quyết những van đề có thực trong đời sông”. Thực hành đóng vai trò không thê thiểu trong các hoạt động học từ học một kĩ năng mới đến một tri thức mới. Thực hành được biết đến với hai khía cạnh phô biến như sau: - Hoạt động áp dụng kiến thức đã học thực hiện một hành động đẻ giải quyết các van đẻ thực tế trong đời sông.
- Hoạt động có mục dich, tập trung phân tích, giải quyết các van dé nhằm chiếm lĩnh kĩ nang, tri thức nao đó. Tuy có nhiều ý kiến vẻ khái niệm “thực hành”, song trong bài nghiên cứu này tôi giới hạn nghĩa của “thực hành” trong dạy học là những hoạt động thực hiện bởi học sinh, dưới sự dẫn dắt của giáo viên. Với mục đích phân tích và giải quyết các van dé thực tế cụ thể, nhằm thông qua đó chiếm lĩnh một khả năng, một trí thức nao đó. Khái niệm “trải nghiệm” Ly thuyết học tập trải nghiệm được biết đến với cái tên viết tắt là ELT - Experiential Learning Theory, được Kolb (1984, tr.41) định nghĩa là “qua trình trong đó kiến thức được tạo ra thông qua việc chuyển đối kinh nghiệm.
Kiến thức là kết quả của sự kết hợp giữa nắm bắt và chuyên hóa kinh nghiệm”. Tư tưởng giáo dục về “học đi đôi với hành" đã nhen nhóm xuất hiện đâu đó trên thé giới từ thời cô đại, điểm qua một số tư tưởng của các nhà hiền triết như Không Tử (551 — 479 TCN) rằng: “Những gi tôi nghe, tôi sẽ quên. Những gi tôi thấy, tôi sẽ nhớ. Những gì tôi làm, tôi sẽ hiểu." Hay nhà Triết học Hy Lap, Socrates (470 — 399 TCN) cũng cho rằng con người phải học bằng cách làm một việc gì đó, bởi những điều theo lý thuyết ta nghĩ là mình biết nhưng nó sẽ không chắc chắn khi ta chưa thực hiện được.
Các nha Tâm lý hoc, Giáo dục học trên thé giới đã bat đầu nghiên cứu, đào sâu và hệ thống Học tập trải nghiệm (HTTN) theo các khía cạnh khác nhau như: John Dewey (1859 — 1952), Kurt Lewin (1868 — 1933), Jean Piaget (1896 — 1980), Lev Vygotsky (1896 — 1987) và nhiều nha nghiên cứu khoa học khác. Năm 1971, David Kolb chính thức công bố nghiên cứu vẻ lý thuyết học tập trai nghiệm là sự kế thừa và phát triển lý thuyết học tập liên quan đến những nghiên cứu kẻ trên. Nghiên cứu của Kolb được xem là một lý thuyết tương đối toàn diện về một phương pháp học tập thông qua việc chuyên hóa kinh nghiệm. Kẻ từ lần xuất bản đầu tiên vào năm 1971, đã có nhiều nghiên cứu và phát triển lý thuyết HTTN của Kolb và các nhà khoa học khác ở những lĩnh vực khác nhau như Giáo dục đại học, Học tập cho người trưởng thành, Quản lý, Khoa học máy tinh, Thông tin/ Dữ liệu, Tâm lý học, Y học, Kế toán, Kinh tế và Luật.
Ngày nay lý thuyết HTTN đã và đang trở thành xu hướng không chỉ ở các nước phương Tay ma còn ở nhiêu nước trên thê giới. Chương trình giáo dục phô thông - Chương trình tông thẻ (2018, tr.30) cũng có dé cập: Hoạt động trai nghiệm là hoạt động giáo duc do nhà giao dục định hướng, thiết kẻ và hướng dan thực hiện tạo cơ hội cho học tiếp cận thực tế, thể nghiệm các cảm xúc tích cực, khai thác những kinh nghiệm đã có và huy động tổng hợp kiển thức, kĩ nắng của các mon học khác nhau để thực hiện những nhiệm vụ được giao hoặc giải quyết những vấn đẻ của thực tiên đời sống nhà trường, gia đình, xã hội phù hợp với lứa tuổi; thông qua đó, chuyền 15 hóa những kinh nghiệm đã trải qua thành tri thức mới, ki năng mới góp phan phát huy tiềm năng sáng tạo và kha năng thích ứng với cuộc song, môi trường và nghé nghiệp tương lại. Nhiều tác giả Việt Nam cũng đưa ra định nghĩa về “Học tập trải nghiệm”, như: Học tập trải nghiệm là một quá trình hoạt động ma ở đó, tri thức được tạo ra thông qua sự biên đôi, chuyên hóa kinh nghiệm. Thông qua hành động, người học chủ động tiếp nhận những khái niệm mới trong sự phản ánh cái cũ thông qua von kinh nghiệm vả thử nghiệm (Vũ Ngọc Hoa vả cộng sự, 2023).
Hay theo Lẻ Thị Hoai Thương (2019), hoạt động trải nghiệm là một trong những con đường quan trọng dé giúp người học không những được trang bị kiên thức mà còn được phát triên toàn điện năng lực và phẩm chất cá nhân, tính chủ động sáng tạo của mỗi học sinh, ý thức và nhân cách công dân, ý thức và khả năng tự học, khả năng lựa chọn nghé nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, khả năng thích ứng với các thay đôi của xã hội và cách mạng công nghiệp mới. Học từ trải nghiệm và bằng trải nghiệm mang lại hiệu quả cao, phù hợp với xu thế phát triển của giáo dục và đào tạo trong thời kì hội nhập toàn câu. Cao Cự Giác va đông sự (2017) khang định rằng học thông qua trải nghiệm đại diện cho một chiến lược giáo dục then chốt phù hợp với các mục tiêu của mô hình giáo dục the ky 21, thúc day sự tham gia tích cực, tư duy phê phan va ứng dụng thực tiễn kiến thức trong việc giải quyết các thách thức thực tế. Asad và cộng sự (2021) công bó một nghiên cứu về việc sử dung công nghệ thực tế ảo (VR) day học trải nghiệm.
các tác giả kêu gọi nhiều hơn các nghiên cứu thực nghiệm về mô hình học thông qua trải nghiệm. Họ chỉ ra ring việc học thông qua trai nghiệm với VR cải thiện chất lượng giảng day va tự tin của học sinh ma còn làm cho giáo dục trở nên linh hoạt, tương tác và hướng tới học sinh. Kong (2021) kết luận rằng việc triển khai lý thuyết HTTN một cách hiệu quả có thé cải thiện đáng kẻ kết qua học của học sinh. Đồng thời, kêu gọi thêm nghiên cứu thực nghiệm dé kiêm tra mô hình học thông qua trai nghiệm được sửa đôi trong các bối cánh giáo dục khác nhau, nhằm hiểu rõ hơn cách lý thuyết HTTN có thê được sử dụng một cách hiệu quả nhất như một công cụ giảng đạy đề mang lại lợi ích cho kết quá học tập của học sinh.
Nghiên cứu của Vũ Ngọc Hòa và cộng sự (2023) cho rằng hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Toán ở trường trung học phô thông nói chung, lớp 10 nói riêng là quá trình học sinh được tự mình trực tiếp mo mam vả phat hiện các tri thức toán hoc dựa trên các kinh nghiệm sẵn có, từng bước chuyên hóa kinh nghiệm học tập dưới sự định hướng, hỗ trợ phù 16 hợp của giáo viên nhăm đạt được mục tiêu của bài học. Nhóm tác giả cũng nhân mạnh. Bên cạnh những wu điểm không thể phú nhận của day học trai nghiệm. việc sử dụng dạy học trải nghiệm cũng có một sé hạn chế nhất định.
Thứ nhất, dạy học trải nghiệm cân nhiều thời gian chuẩn bị của cả giáo viên va học sinh. giáo viên cần có kiến thức sâu sắc cả vẻ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm để có thé giải quyết các tình huống phát sinh trong quả trinh day hoc nhát là các nội dung liền môn tích hợp. Thứ ba, yêu câu về cơ sở vật chất, phương tiện day học cũng cao hơn so với các cách day học truyền thong khác.