Chương I: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào day họcc licch sử Chương H: Tìm hiểu thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Lịch sử tại một số trường THPT trên địa bàn nội thànhTP. Hồ Chí Minh hiện nay. Chương III: Dé xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT vào dạy học Lịch sử A. PHAN KET LUẬN Trang 15 KHÓA LUAN TOT NGHIỆP BỘ MON LY LUẬN VA PHƯƠNG PHAP DẠY HỌC LICH SỬ” PHAN NOI DUNG CHUONG I: CƠ SỜ LÍ LUẬN VA CO SỞ THỰC TIEN CUA VIỆC UNG DUNG CÔNG NGHỆ THONG TIN VÀO DẠY HQC LICH SU I.
lich sir và đặc trưng của bộ môn lịch sử ở nhà trường phê thông. 11 Khai niệm lịch sir > Thuật ngữ “lich sử” có từ lâu, được sử dụng rat phổ biến, hang ngảy. xong để hiểu đúng nội dung của thuật ngữ này không phải đơn giản. Về nguồn gốc, thuật ngữ “lich sử” có nghĩa la: “sy việc đã xảy ra” và “được ghi lai”.
O Trung Quốc thời nhà Chu, chữ “siz” đầu tiên được dùng để chỉ một chức quan có nhiệm vụ chủ yếu là ghi chép “sự việc đã xảy ra”. Trong tập Thuyét văn giải tự. từ “sử" được giải thích như sau: “Sir là người ghi chép sự việc, cằm bút ghi chép lên thẻ tre (sách) một cách công bằng, ngay thing”. Ở Hi Lap, từ nguyên của lịch sử là: “hitoria” có nghĩa là kể lại, thuật lại, ghi chép những điều đã xảy ra mà mình đã nghe, được ké lại, hoặc được tham gia chứng Từ nghĩa ban đầu như vậy, khái niệm “lich siz” có rất nhiều nghĩa khác nhau: - “lịch sử" đồng nghĩa với quá khứ, tức là những sự việc đã xảy ra không tái hiện, không lặp lại.
- “lịch sử” là sự ghi chép quá khứ, cong gọi là “sử kí”. - “lich sử” là một “câu chuyện”. - “lich sie” còn nói về toàn bộ hay một phan tư liệu về quá khứ của dân tộc. hoặc một sự kiện.
- “lich sử” còn nói về một khoa học- khoa học lịch sử hay sử học. - “lich sư” chỉ một môn học ở nhà trường. qua đây ta thấy được trong thuật ngữ “lich sử”, có hai phần nghĩa chinh: * Phan Ngọc Liên (chú biên), Nhập môn sử học, Nxb Giáo đục, trang 8, trang 9. Trang 16 KHOA LUẬN TOT NGHIỆP BỘ MON LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HOC LICH SU Thử nhất: lịch sử dùng dé chi lịch sử khách quan xảy ra trong xã hội loải người.
D6 là hiện thực khách quan tổn tại độc lập với ý muốn. nguyện vọng của con người. Thứ hai: lịch sử là sự hiểu biết của con người vẻ những gi đã xảy ra, được truyền lại bằng lời nói. qua các câu chuyện dân gian hay được ghi lại bằng văn tự.
Hai nghĩa này có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó hiện thực lịch sử là cái có trước, nhận thức lich sử là cái có sau. phản ánh hiện thực. Nhận thức lịch sử chỉ đúng khi nào phản ánh đúng hiện thực lịch sử.2 Đặc trưng của bộ môn lịch sử ở trường phổ thông. Từ chỗ nhận thức đúng về bộ môn lịch sử ta xác định được những đặc trưng của môn học nay như sau: Tén tại & trường phê thông với tính cách là một khoa học, bộ môn lịch sử ở trường pho thông khỏng phải là toàn bộ khoa học lịch sử ma chi bao gom những kién thức cơ sở của khoa học lịch sử.
Bang những nội dung được chọn lọc vả cấu tạo theo yêu cầu của từng cap học. bộ môn lịch sử khôi phục lại cho học sinh những kiến thức lịch sử, bức tranh lich sử gần đúng như nó đã từng tồn tại trong qúa khứ. Tính khoa học của bộ môn đòi hỏi kiến thức lịch sử không chỉ cung cắp cho việc miêu tả vẻ bể ngoài của sự kiện, mà còn phải giải thích chúng, chỉ ra bản chat của sự kiện, hiện tượng lịch sử. Trên cơ sở những sự kiện lịch sử cụ thể, bộ môn lịch sử khái quát sự thật lịch sử để hình thành cho học sinh các khái niệm lịch sử, từ đó giúp các em ngày cảng đi sâu hơn vào bản chất của sự kiện lịch sử, theo đúng con đường nhận thức lịch sử.
Tuy nhiên, đo đối tượng học tập của bộ môn lịch sử thuộc về quá khứ, cho nên thời gian cảng lùi xa thì việc nhận thức bản chất của sự kiện và hiểu sâu vẻ sự kiện lịch sử càng khó. Thêm vào đó, HS không thể trực tiếp quan sát “trực quan sinh động” đối tượng nghiên cứu như các môn khoa học tự nhiên. GV cũng không thé tiến hành các thí nghiệm làm sống lại, xây dựng lại các nhân vật lịch sử như đã từng tổn tại trong qúa khứ, nhất là những sự kiện. hiện tượng đã xảy ra cách ngảy nay Trang Ì7 KHÓA LUAN TOT NGHIỆP BỘ MÔN LÝ LUAN VA PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC LICH SỬ hàng triệu năm, thậm chi những sự kiện cách đây vài chục năm.
Ví dụ: Khi day về tinh hình nước ta sau Cách mạng tháng Tám, GV không thé dựng lại hình anh đất nước trong tỉnh hình khó khăn, nguy hiểm ma người ta từng ví như: “Ngan cân treo sợi tóc” để cho học sinh có thể quan sát, có thẻ trực tiếp (“trực quan sinh động”) được. Ngoài ra, trong việc học tập lịch sử ở trường pho thông, học sinh không chỉ biết mà còn phải Aiéu lịch sử để có thé rút ra bai học kinh nghiệm cho hoạt động thực tién. Cũng như các môn học khác ở trường phố thông. học tập lịch sử là một quá trình nhận thức, việc nhận thức của học sinh là một quá trình phức tạp, mang tính đặc thù với ba đặc điểm chủ yếu: tính gián tiếp, được hướng dẫn và tính giáo dục.
- Tinh gián tiếp: Tức là đỗi tượng của sự nhận thức va phương thức nhận thức của HS chủ yếu thông qua kiến thức đã được các khoa học cơ bản phát hiện, khẳng định. chứ không phải tim ra cái mới trong nghiên cửu khoa học. Ở đây, HS sẽ tiếp nhận kiến thức, kinh nghiệm của người khác một cách gián tiếp thông qua các nguồn tài liệu và GV. - Được hướng dẫn: Là nỏi đến việc nhận thức của học sinh điển ra dưới sự tổ chức, giảng dạy của người thầy.
Trong quá trình học tập, học sinh không thé tự mình tìm hiểu, nghiên cứu kiến thức độc lập nếu như không có sự hướng dẫn, điều khiến, tô chức của giáo viên. Và néu trong một vài trường hợp nào đó, HS tự minh tìm hiểu kiến thức không có sự điều khiến. tổ chức của GV thì kết quả đạt được sẽ không đi đúng hướng, không hoàn thành mục tiêu học tập. Vì thế, quá trình dạy học lịch sử ở trường phế thông chính là quá trình thống nhất biện chứng giữa hoạt động của thầy và hoạt động của trỏ.
Thầy không chỉ “dạy học” (hướng dẫn học sinh tiếp thu kiến thức khoa học, có tính giáo dục). mà còn “day học trò cách học”, day các em biết sử dụng những phương pháp nào trong học tập thì hiệu quả nhất. Mặc dù, HS là chủ thể của hoạt động học chịu sự chỉ đạo của việc đạy (từ người thầy), nhưng cách học của các em luôn mang tính sáng tạo, chủ động, chứ không bị động trong tiếp nhận kiến thức. Trang 18 KHOA LUAN TOT NGHIỆP BQ MON LY LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HOC LICH SU - Tinh gido due: Vite là nói đến quá trình HS nhận thức, tiếp thu sự gido dục tử người thầy dé phát triển toản điện vẻ đức, trí, thé, mĩ, lao động.
Trong quá trình day học. đồng thời với việc giảng day của thay, học sinh tiến hành nhận thức, ảnh hưởng việc giảng dạy của thay và sự biến đổi về mặt giáo dục và phát triển của HS là điều tắt nhiên vả rõ rệt. Đó chính là quy luật của tính giáo dục trong dạy học. song cũng không nên coi tính thống nhất giữ trí thức, năng lực và tư tưởng là một sự thống nhất tự phát.
Tính giáo dục trong dạy học phải được định hướng, phải được kết hợp chặt chẽ nội dung cụ thé của hoạt động dạy học. dựa vào những nguyên tắc tư tướng xã hội chủ nghĩa dé tự giác tiền hành giáo dục trén mọi mat, mọi khâu của hoạt động đó. Bên cạnh đó do chức năng, nội dung của bộ môn mà quá trình dạy học lịch sử cũng có những đặc điểm riêng. Căn cứ vao mục tiêu, nội dung giờ học mà chúng ta có những hình thức dạy học khác nhau.
Hình thức dạy học cũng có thẻ thay đổi theo những tình huống khác nhau, người thay khác nhau va học sinh khác nhau. Do đó, từ những đặc điểm của tri thức lịch sử : Tính quá khứ, tính không lặp lại, tính cụ thé, tính hệ thống, tính thống nhất giữa sử và luận.Nên sự nhận thức của các em không thé bắt đầu từ “trye quan sinh động” sự kiện, hiện tượng giống như các môn khoa học tự nhiên. Nói khác đi, học sinh không thé bắt đầu việc học bằng “cảm giác” thông qua các giác quan theo kiểu sờ mó, ngửi. quá khứ, ma phải "nằm vững các sự kiện lịch sử cụ thể để tạo nên những biểu tượng lịch sử chân thực”.
Chúng ta có thé hình dung ra sơ đồ con đường hình thành kiến thức lịch sử cho học sinh ở trường THPT qua sơ đồ: Con đường hình thành kiến thức Lịch sử cho HS ở trường THPT: THU VIỆN Trưỡng Hei-Hoc Su-Pnan - TP HO-CHI-MINH _—— | Trang 19 Con đường hình thành kiến thức LS cho HS ớ trường THPT Phải được tiến hành dưới sự hướng din, chỉ đạo và tổ chức của GV Sơ đô trên cho thay, quá trình nhận thức của học sinh trong học tập lịch sử là một quá trình nhận thức “dac thủ”. Chính sự nhận thức "đặc thi” ay nén cac em gap không ít khó khăn khi ghi nhớ và tim cách nhớ lâu dai kiến thức. Thực tién cho thấy, để phi nhớ và phản ánh được thế giới khách quan vào bộ óc của mình một cách tốt nhất. bao giờ quá trình nhận thức của con người cũng di từ “gần đến xa”.
cái gì xảy ra càng gan với ching ta thì cảng nhớ lâu, cảng xa thi cảng nhanh quên. Thế nhưng. chương trình lịch sử ở trường phé thông từ bậc THCS đến THPT lại được xây dựng theo nguyên tắc “đồng tâm kết hợp với đường thing”.