Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nông nghiệp giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong việc cung cấp lương thực, thực phẩm nuôi sống xã hội và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp. Tại Việt Nam, phát triển nông nghiệp và nông thôn tiếp tục được xác định là nhiệm vụ mang tầm chiến lược. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (ngày 25/4/2006) đã nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, hướng đến xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa lớn, đa dạng, bền vững, có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao.

Tỉnh Long An là địa bàn trọng điểm sản xuất lương thực - thực phẩm ở phía Nam, nổi tiếng với các nông sản truyền thống như gạo Tài Nguyên, gạo Nàng Thơm Chợ Đào (Cần Đước), dưa hấu Long Trì, dứa Bến Lức, đậu phộng Đức Hòa, mía Thủ Thừa và rượu Đế Gò Đen. Dù đã bước đầu hình thành các vùng quy hoạch chuyên canh lúa và cây trồng giá trị cao (thanh long, chanh), quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn còn mang tính tự phát, hiệu quả kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng, gây lãng phí nguồn lực lao động và vốn đầu tư. Đề tài khóa luận "Hiện trạng và định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Long An" do sinh viên Trần Thị Hương thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Phạm Thị Xuân Thọ (Khoa Địa lý, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, năm 2012) tập trung giải quyết các vấn đề trên.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Long An giai đoạn 2001 – 2009, làm rõ các thành tựu, hạn chế và nguyên nhân; từ đó xác định định hướng chuyển dịch đến năm 2020 và đề xuất hệ thống giải pháp thực hiện.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể gồm 5 nội dung:

  1. Đánh giá điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của tỉnh Long An đối với phát triển nông nghiệp.
  2. Thu thập thông tin về tình hình sản xuất nông nghiệp của tỉnh Long An, căn cứ vào đó phân tích sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp của tỉnh.
  3. Đưa ra những nhận xét, đánh giá về những thuận lợi và khó khăn trong quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp.
  4. Dự báo xu hướng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp đến năm 2020.
  5. Đề ra các định hướng nhằm thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp mạnh mẽ hơn, đúng hướng hơn và những giải pháp cụ thể thực hiện định hướng đó.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo ngành và theo lãnh thổ dưới góc độ Địa lý Kinh tế - Xã hội.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ ranh giới hành chính tỉnh Long An, bao gồm TP. Tân An và 13 huyện (Bến Lức, Cần Đước, Cần Giuộc, Châu Thành, Đức Hòa, Đức Huệ, Mộc Hóa, Tân Thạnh, Thủ Thừa, Tân Trụ, Thạnh Hóa, Vĩnh Hưng, Tân Hưng).
  • Phạm vi thời gian: Phân tích hiện trạng giai đoạn 2001 – 2009 và xây dựng định hướng phát triển đến năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận đối tượng nghiên cứu thông qua hệ thống khái niệm chuẩn mực của Địa lý kinh tế:

  • Nông nghiệp và cơ cấu kinh tế nông nghiệp: Nông nghiệp theo nghĩa rộng gồm ba ngành: nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi), lâm nghiệp (trồng và khai thác rừng) và ngư nghiệp (khai thác và nuôi trồng thủy hải sản). Cơ cấu kinh tế nông nghiệp biểu thị tỷ lệ cân đối giữa các ngành trong toàn bộ khu vực sản xuất này.
  • Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp: Sự biến đổi tỷ trọng giá trị sản xuất và diện tích giữa nông nghiệp - lâm nghiệp - thủy sản, giữa trồng trọt - chăn nuôi, hoặc nội bộ từng nhóm sản phẩm theo hướng nâng cao giá trị hàng hóa.
  • Hệ thống nhân tố ảnh hưởng: Tác giả phân chia thành hai nhóm nhân tố chính: nhóm nhân tố tự nhiên (đất đai, khí hậu, thủy văn, sinh vật, địa hình) đóng vai trò là tiền đề sinh thái; nhóm nhân tố kinh tế - xã hội (dân cư - lao động, tiến bộ khoa học kỹ thuật, vốn đầu tư, thị trường tiêu thụ) đóng vai trò quyết định đến tốc độ và chiều hướng chuyển dịch.

Nghiên cứu quán triệt 5 quan điểm địa lý cơ bản:

  • Quan điểm lãnh thổ: Xem xét mối liên hệ nội tại và liên vùng của không gian địa lý tỉnh Long An.
  • Quan điểm tổng hợp: Đánh giá mối tương tác đa chiều giữa tự nhiên và kinh tế - xã hội.
  • Quan điểm hệ thống: Đặt ngành nông nghiệp Long An trong mối quan hệ hữu cơ với các ngành kinh tế khác và nền kinh tế cả nước.
  • Quan điểm lịch sử - viễn cảnh: Phân tích quá trình phát triển trong quá khứ và hiện tại để đưa ra dự báo khoa học cho tương lai.
  • Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững: Gắn chuyển dịch cơ cấu với việc bảo vệ tài nguyên đất, nước và cân bằng môi trường sinh thái.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa công tác trong phòng và thực địa:

  • Phương pháp thống kê tổng hợp: Xử lý và hệ thống hóa chuỗi dữ liệu thứ cấp.
  • Phương pháp phân tích, so sánh: Đối chiếu các chỉ tiêu nông nghiệp qua các năm và so sánh Long An với các địa phương khác trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
  • Phương pháp bản đồ - biểu đồ: Trực quan hóa hiện trạng phân bố không gian và cơ cấu sản xuất.
  • Phương pháp dự báo: Xác lập các kịch bản chuyển dịch đến năm 2020.
  • Phương pháp thực địa: Khảo sát thực tế địa bàn để kiểm chứng và bổ sung dữ liệu thống kê.

Nguồn dữ liệu của đề tài được trích xuất từ Niên giám Thống kê tỉnh Long An (Cục Thống kê tỉnh), Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam, Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông thôn, cùng các văn kiện chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội của Đảng bộ tỉnh Long An.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm nền tảng về nông nghiệp, cơ cấu kinh tế nông nghiệp và bản chất của chuyển dịch cơ cấu trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tác giả phân tích chi tiết tác động của từng nhân tố tự nhiên (đất đai, khí hậu nhiệt đới gió mùa, chế độ thủy văn sông ngòi, thảm thực vật) và nhân tố kinh tế - xã hội (dân số, chất lượng lao động, cơ giới hóa, vốn đầu tư và quy luật thị trường) tới sự phân hóa sản xuất nông nghiệp.

Về thực tiễn chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tại Việt Nam:

  • Tỷ trọng khu vực nông - lâm - thủy sản trong GDP cả nước luôn ở mức trên 30% giai đoạn 1986 – 1990 và giảm dần trong các giai đoạn sau.
  • Cơ cấu nội bộ ngành nông - lâm - ngư nghiệp chuyển dịch rõ rệt: năm 2000 nông nghiệp chiếm 79%, thủy sản 16%, lâm nghiệp 5%; đến năm 2009 nông nghiệp giảm xuống 74%, thủy sản tăng lên 23%, lâm nghiệp giảm còn 3%.
  • Trong nội bộ nông nghiệp, tỷ trọng trồng trọt giảm từ 79% (năm 1990) xuống 71% (năm 2009), tỷ trọng chăn nuôi tăng 9%.
  • Đến năm 2009, cả nước đã hình thành 135.437 trang trại (gồm 39.769 trang trại cây hàng năm, 23.880 trang trại cây lâu năm, 20.809 trang trại chăn nuôi và 35.489 trang trại thủy sản), tập trung nhiều nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Chương 2: Hiện trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Long An giai đoạn 2001 – 2009

Chương 2 đi sâu phân tích thực trạng tự nhiên, kinh tế - xã hội và cơ cấu nông nghiệp tỉnh Long An:

Khái quát địa bàn nghiên cứu:

  • Long An có diện tích tự nhiên 4.221 km² (chiếm 1,3% diện tích cả nước và 8,74% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long). Dân số năm 2009 là 1.438.469 người (thành thị chiếm 17,49%, nông thôn chiếm 82,51%), mật độ 320 người/km². Vùng Đồng Tháp Mười thuộc tỉnh rộng hơn 30.000 ha, chiếm trên 70% diện tích tự nhiên của tỉnh và 47% diện tích toàn vùng Đồng Tháp Mười.
  • Vị trí địa lý giáp TP. Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Tiền Giang, Đồng Tháp và Vương quốc Campuchia tạo lợi thế thị trường tiêu thụ và tiếp nhận tiến bộ kỹ thuật, song cũng tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm nguồn nước mặt và áp lực cạnh tranh lao động.

Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên:

  • Thổ nhưỡng có 7 nhóm đất với 16 loại đất. Đất có hạn chế canh tác chiếm 307.250 ha; trong đó diện tích đất phèn lớn nhất với 208.449 ha (46,11%), đất xám phù sa cổ 94.721 ha (21,09%), đất phù sa 74.099 ha (16,5%), đất mặn 4.080 ha và đất liếp xáo trộn 55.438 ha.
  • Khí hậu có nền nhiệt cao (trung bình 27,0°C – 27,9°C), tổng tích ôn khoảng 2.000°C/năm, thời gian chiếu sáng 6,8 – 7,5 giờ/ngày với 8 – 9 tháng nắng trong năm. Lượng mưa trung bình năm 1.550 mm, phân bố lệch mùa: mùa mưa kéo dài 156 – 164 ngày (từ giữa tháng 5 đến cuối tháng 10), tập trung 70% – 82% lượng mưa năm.
  • Thủy văn: Phụ thuộc vào hệ thống sông Đồng Nai (qua hồ Dầu Tiếng và sông Vàm Cỏ Đông) và sông Tiền. Hiện tượng xâm nhập mặn từ cửa sông Soài Rạp diễn ra từ tháng 1 đến tháng 6 với nồng độ 2 – 4 g/l. Vùng ngập lũ sâu (>100 cm, kéo dài >5 tháng) rộng 49.923 ha (chiếm 11,88% diện tích) tại các huyện Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Mộc Hóa, Tân Thạnh. Vùng ngập nông (60 – 100 cm) rộng 186.762 ha. Trận lũ năm 2000 làm ngập gần 300.000 ha tại 12/14 huyện, thị, gây thiệt hại vật chất gần 650 tỷ đồng.
  • Tài nguyên sinh vật: Thủy sản có 19 loài tôm và 153 loài cá (39 loài nguồn gốc biển, 38 loài nước lợ, 76 loài nước ngọt). Sản lượng khai thác thủy sản sụt giảm mạnh từ 17.500 tấn (năm 2001) xuống 10.364 tấn (năm 2009). Rừng tràm chiếm ưu thế thích nghi vùng đất chua phèn; tổng diện tích rừng trồng năm 2010 giảm còn 43.000 ha với trữ lượng 150.000 m³ gỗ bạch đàn và hơn 100 triệu cây tràm cừ.

Điều kiện kinh tế - xã hội và cơ sở hạ tầng:

  • Mất cân đối mật độ dân cư và đất đai: 4 huyện vùng hạ (Tân Trụ, Cần Giuộc, Châu Thành, Cần Đước) có bình quân đất nông nghiệp trên đầu người chỉ đạt 1.080 m²/người; trong khi 6 huyện vùng Đồng Tháp Mười đạt 7.701 m²/người (gấp 7,13 lần vùng hạ).
  • Nguồn lao động: Lao động nông - lâm - ngư nghiệp giảm từ 439.645 người (năm 2001) xuống 369.351 người (năm 2006), giảm 15,35%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo trong khu vực nông nghiệp giảm từ 2,56% (năm 2001) xuống 1,35% (năm 2006). Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo ở nông thôn năm 2006 lên tới 93,65%.
  • Thủy lợi và cơ giới hóa: Năng lực tưới của các công trình thủy lợi năm 2010 đạt 244.544 ha (đạt 85,53% diện tích đất trồng cây hàng năm). Long An dẫn đầu Đồng bằng sông Cửu Long về tỷ lệ cơ giới hóa thu hoạch lúa: năm 2009 sở hữu 1.578 máy gặt đập liên hợp (chiếm 53,64% toàn vùng) và 1.815 máy gặt xếp dãy (chiếm 55,95% toàn vùng).
  • Giao thông: Đường bộ có hơn 4.000 km với 4 tuyến quốc lộ huyết mạch (QL1A, QL50, QL62, N2); 174/190 xã có đường ô tô đến trung tâm (91,58%). Tuy nhiên, nhiều đoạn QL1A và QL50 xuống cấp, thiếu đồng bộ cầu đường.

Chương 3: Định hướng và những giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Long An đến năm 2020

Chương 3 trình bày các định hướng và phân vùng phát triển đến năm 2020:

  • Căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh, xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa đa dạng, nâng cao hiệu quả canh tác thích ứng với lũ và xâm nhập mặn.
  • Định hướng phân vùng sản xuất: Phân định không gian phát triển theo từng tiểu vùng sinh thái nông nghiệp (vùng lúa chất lượng cao Đồng Tháp Mười, vùng cây công nghiệp và cây ăn quả đặc sản Đức Hòa - Bến Lức - Châu Thành, vùng nuôi trồng thủy sản nước lợ Cần Đước - Cần Giuộc).
  • Định hướng phát triển từng phân ngành: Tăng tỷ trọng chăn nuôi và thủy sản nuôi trồng, chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả sang cây trồng có giá trị cao, phục hồi vốn rừng tràm sinh thái.
  • Hệ thống 7 nhóm giải pháp thực hiện:
    1. Giải pháp về vốn đầu tư: Đa dạng hóa nguồn vốn tín dụng cho nông dân và kinh tế trang trại.
    2. Giải pháp về khoa học công nghệ: Đẩy mạnh ứng dụng giống mới, công nghệ sinh học và quy trình sản xuất sạch.
    3. Giải pháp về kết cấu hạ tầng: Hoàn thiện hệ thống đê bao khép kín kiểm soát lũ, nạo vét kênh tạo nguồn và nâng cấp mạng lưới giao thông liên xã.
    4. Giải pháp về tổ chức sản xuất: Củng cố và phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp kiểu mới, mở rộng quy mô kinh tế trang trại.
    5. Giải pháp về thương hiệu hàng hóa và thị trường tiêu thụ: Xây dựng chỉ dẫn địa lý cho các nông sản đặc thù (gạo Nàng Thơm, thanh long), kết nối trực tiếp với thị trường tiêu thụ TP. Hồ Chí Minh.
    6. Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực: Nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề nông thôn.
    7. Giải pháp về quản lý nhà nước và chính sách: Tăng cường chỉ đạo từ các cấp chính quyền, hoàn thiện chính sách hỗ trợ cơ giới hóa và bảo vệ môi trường nông nghiệp.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và lượng hóa hiện trạng tài nguyên đất đai và sản xuất nông nghiệp tỉnh Long An qua các bảng dữ liệu thống kê:

Loại đất nông nghiệp Diện tích năm 2009 (ha) Tỷ lệ cơ cấu (%)
Đất sản xuất nông nghiệp 301.810,39 81,55
Đất lâm nghiệp 60.430,00 16,33
Đất nuôi trồng thủy sản 7.586,33 2,05
Đất nông nghiệp khác 227,54 0,06
Tổng diện tích đất nông nghiệp 370.054,26 100,00

Cơ cấu các nhóm đất chính hình thành nên điều kiện thổ nhưỡng của tỉnh:

Nhóm đất chính Diện tích năm 2003 (ha) Tỷ lệ (%)
Đất phèn 208.449,0 46,11
Đất xám phù sa cổ 94.721,0 21,09
Đất phù sa 74.099,0 16,50
Đất xáo trộn (đất liếp) 55.438,0 12,27
Đất mặn 4.080,0 0,90

Đóng góp của khóa luận:

  • Cung cấp bức tranh toàn diện, có căn cứ khoa học về hiện trạng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Long An giai đoạn 2001 – 2009 dưới góc nhìn Địa lý Kinh tế - Xã hội.
  • Chỉ rõ những mâu thuẫn nội tại trong phân bố nguồn lực: sự đối lập gay gắt về mật độ lao động và quỹ đất bình quân giữa 4 huyện vùng hạ (1.080 m²/người) và 6 huyện vùng Đồng Tháp Mười (7.701 m²/người).
  • Phản ánh trung thực các hạn chế về chất lượng lao động nông nghiệp (tỷ lệ chưa qua đào tạo chiếm 93,65%) và sự suy giảm nguồn lợi thủy sản tự nhiên (từ 17.500 tấn năm 2001 xuống 10.364 tấn năm 2009).
  • Đề xuất các định hướng phân vùng sản xuất nông - lâm - thủy sản và giải pháp chuyển dịch gắn với các mốc quy hoạch đến năm 2020.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài:

  • Chuỗi số liệu phân tích hiện trạng tập trung chủ yếu trong giai đoạn 2001 – 2009, chịu giới hạn về thời điểm công bố của các niên giám và báo cáo ngành tại thời điểm năm 2012.
  • Việc thu thập số liệu thống kê giữa các cơ quan ban ngành có những điểm lệch về mốc thời gian (số liệu thổ nhưỡng năm 2003, cơ giới hóa năm 2010, lao động năm 2006).
  • Tác giả chưa đi sâu phân tích chuỗi giá trị và hiệu quả thương mại của từng mặt hàng cụ thể do phạm vi nghiên cứu bao quát toàn tỉnh.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Bổ sung và cập nhật chuỗi số liệu giai đoạn 2010 – 2020 để đánh giá mức độ đạt được so với các chỉ tiêu định hướng trong quy hoạch.
  • Nghiên cứu sâu hơn tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, hiện tượng nước biển dâng và các công trình thủy điện thượng nguồn Mê Kông đối với tình trạng ngập lũ, xâm nhập mặn tại Long An.
  • Đánh giá chuyển đổi sử dụng đất nông nghiệp tại các vành đai tiếp giáp khu công nghiệp và đô thị hóa nhanh của vùng phụ cận TP. Hồ Chí Minh.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo cho sinh viên, giảng viên ngành Địa lý, Sư phạm Địa lý, Quản lý đất đai và Kinh tế nông nghiệp khi nghiên cứu về địa lý kinh tế địa phương. Tài liệu cung cấp phương pháp luận kết hợp phân tích điều kiện tự nhiên - tài nguyên với tổ chức không gian sản xuất kinh tế. Các cơ quan quản lý nông nghiệp, quy hoạch thủy lợi và phát triển nông thôn có thể tham khảo hệ thống số liệu chi tiết về thổ nhưỡng, phân bố ngập lũ và cơ giới hóa nông nghiệp tại tỉnh Long An trong thập niên 2000.


Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp của tỉnh Long An năm 2009 có đặc điểm gì nổi bật?
Năm 2009, tổng diện tích đất nông nghiệp của Long An là 370.054,26 ha. Trong đó, đất sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất với 301.810,39 ha (81,55%), đất lâm nghiệp có 60.430 ha (16,33%), đất nuôi trồng thủy sản chiếm diện tích khiêm tốn với 7.586,33 ha (2,05%) và đất nông nghiệp khác là 227,54 ha (0,06%).

2. Mức độ cơ giới hóa trong sản xuất lúa của tỉnh Long An so với toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời điểm 2009 – 2010 đạt mức nào?
Long An dẫn đầu toàn vùng về tỷ lệ cơ giới hóa thu hoạch lúa. Đến tháng 3/2009, tỉnh sở hữu 1.578 máy gặt đập liên hợp (chiếm 53,64% trong tổng số 2.942 máy của toàn ĐBSCL) và 1.815 máy gặt xếp dãy (chiếm 55,95% trong tổng số 3.244 máy của toàn vùng).

3. Tình trạng phân bố dân cư và diện tích đất nông nghiệp giữa các vùng trong tỉnh Long An có sự chênh lệch ra sao?
Mật độ dân số bình quân toàn tỉnh năm 2009 là 320 người/km², nhưng có sự phân hóa mạnh: TP. Tân An cao nhất với 1.626 người/km², trong khi huyện Tân Hưng thấp nhất với 90 người/km² (chênh lệch 16,42 lần). Bình quân đất nông nghiệp trên đầu người nông thôn ở 4 huyện vùng hạ (Tân Trụ, Cần Giuộc, Châu Thành, Cần Đước) chỉ đạt 1.080 m²/người, trong khi ở 6 huyện vùng Đồng Tháp Mười đạt tới 7.701 m²/người (gấp 7,13 lần vùng hạ).

4. Chế độ ngập lũ và xâm nhập mặn ảnh hưởng như thế nào đến sản xuất nông nghiệp của tỉnh?
Vùng ngập lũ sâu (>100 cm, kéo dài >5 tháng) chiếm 49.923 ha (11,88% diện tích) tại 4 huyện Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Mộc Hóa, Tân Thạnh. Vùng ngập nông (60 – 100 cm) rộng 186.762 ha. Đợt lũ lịch sử năm 2000 gây ngập gần 300.000 ha và thiệt hại gần 650 tỷ đồng. Về xâm nhập mặn, nồng độ mặn 2 – 4 g/l thường xuyên xâm nhập sâu từ sông Soài Rạp vào sông Vàm Cỏ Tây từ tháng 1 đến tháng 6 hàng năm.

5. Thực trạng chất lượng lao động nông nghiệp tỉnh Long An giai đoạn 2001 – 2006 được thể hiện qua các chỉ số nào?
Lao động nông - lâm - ngư nghiệp giảm từ 439.645 người năm 2001 xuống 369.351 người năm 2006 (giảm 15,35%). Tỷ lệ lao động nông nghiệp đã qua đào tạo giảm từ 2,56% (11.721 người) năm 2001 xuống còn 1,35% (5.232 người) năm 2006. Đến năm 2006, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo ở khu vực nông thôn của tỉnh lên tới 93,65%.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Thị Hương đã tái hiện chi tiết hiện trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Long An giai đoạn 2001 – 2009 thông qua hệ thống số liệu địa lý và kinh tế - xã hội phong phú. Nghiên cứu đã làm rõ các tiềm năng tự nhiên, thế mạnh kinh tế cận kề TP. Hồ Chí Minh cũng như các trở ngại về xâm nhập mặn, ngập lũ, chất lượng lao động và sự phân hóa đất đai giữa các vùng sinh thái. Các định hướng phân vùng và nhóm giải pháp được đề xuất đến năm 2020 cung cấp cơ sở khoa học thiết thực cho công tác quy hoạch phát triển nông nghiệp bền vững của địa phương.