Chương 1: Một số vấn dé chung về hoạf động bán hàng Mục tiêu của bước này là tiếp cận và thiết lập cuộc hẹn với khách hàng. Doanh nghiệp có nhiều cách thức dé gặp khách hàng thông qua các đối tác trung gian, email hay điện thoại. Đặc biệt, trước khi gặp khách hàng, nhân viên cần xác định rõ mục đích của cuộc gặp mặt, phải trong tâm thé chuẩn bị chu đáo các tài liệu liên quan và nội dung sắp trình bày một cách rõ ràng, mạch lac,.Nhan viên bán hàng cũng cần biết cách chào hỏi người mua dé có bước đầu cho mối quan hệ sau này. Bước tiếp cận khách hàng thành công thì quy trình bán hàng của doanh nghiệp đã hoàn thành 50%.
Bởi khi đó, khách hàng đã chịu lắng nghe nhân viên bán hàng nói và quan tâm đến sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp. Bước 4: Tìm kiếm cơ hội Đề có thể tìm kiếm cơ hội, khi giao tiếp với khách hàng nhân viên bán hàng cần phải có kỹ thuật đặt câu hỏi. Một trong những kỹ thuật đặt câu hồi phổ biến nhất là kỹ thuật S.LN của Neil Rachkham. S (Situation Question — Câu hỏi tình huống): hạn chế xã giao va tập trung vào từng chi tiết nhằm khái quát tình hình hiện tại của khách hàng.
P (Problem Question — Câu hỏi ứng dụng): Đặt câu hỏi dé khám phá khó khăn và nhu cầu hiện tại của khách hàng. I (Implication Question — Câu hỏi hiệu quả giải pháp): Sau khi tan công khách hàng bằng những hệ quả đáng lo ngại từ tình hình thực tế, nhân viên bán hàng sẽ đặt câu hỏi dé đưa ra cách giải quyết những khó khăn của khách hàng. Nếu đặt câu hỏi khéo léo, nhân viên bán hàng có thê khiến khách hàng đề nghị dùng sản phẩm hoặc dịch vụ mà công ty đang bán trước khi được giới thiệu. Bên cạnh việc đặt câu hỏi để lay thông tin, sau khi lay được các thông tin, nhân viên bán hàng cần tiến hành phân loại các nhóm khách hàng.
Khách hàng được chia ra làm hai nhóm như sau: - Nhóm khách hàng chủ động: Là những khách hàng đủ điều kiện dé mua sản pham hay dịch vụ của doanh nghiệp hoặc có nhu cầu mua rõ ràng. - _ Nhóm khách hàng thụ động: Là những khách hàng hội tủ đủ điều kiện dé mua sản phâm, dịch vụ nhưng chưa có nhu cầu rõ ràng. Bước 5: Phân tích nhu cầu khách hàng Khách hàng thường có năm loại nhu cầu cơ bản sau: - Nhu cầu về an toàn: Khách hàng thường sợ gặp rủi ro khi mua bat kì một sản phẩm nào. Vì vậy, họ sẽ tin tưởng hơn đối với sản phâm có các thông số kĩ thuật, nguồn gốc rõ ràng.
- Nhu cầu về tiện nghi: Yếu tố then chốt giúp khách hàng mua sản phẩm là học hi cần bỏ công sức tối thiêu nhưng lại được thỏa mãn tối đa. Lê Hồng Quyên — DI7QTDN 15 Khóa luận tốt nghiệp đại học Chương 1: Một số vấn dé chung về hoạf động bán hàng - _ Nhu cầu về tính mới lạ: Khách hàng thường có tính hiếu kì, luôn thích tính mới lạ, những điều chưa từng có ở những sản pham hoặc dich vụ trước đó. - Nhu cau về tính hãnh diện: Khách hàng mong muốn sử dụng sản phẩm sẽ thé hiện được quyền lực, đăng cấp của mình nỗi trội hơn so với người khác. - Nhu cầu về giá: Khách hàng luôn mong muốn có được sản phẩm hay dịch vụ tốt nhưng với giá cả thấp nhất.
Đặc biệt khi phân tích nhu cầu của khách hàng, nhân viên bán hàng cần xác định được khoảng trống nhu cầu của khách hàng và tìm cách lắp đầy khoảng trống đó bằng cách trả lời những câu hỏi: - _ Khách hang đã có những gi? - _ Khách hang chưa có những gi? - _ Khách hàng nên có những gi? - _ Khách hàng muốn có những gi? Bước 6: Đưa ra đề xuất, cung cấp các giải pháp phù hợp với nhu cầu của khách hàng. Khách hàng hầu như bao giờ cũng đưa ra ý kiến phản đối trong quá trình giới thiệu sản phẩm hay đề nghị dùng thử, đặt mua hàng. Đề xử lý những tình hướng phản đối này, nhân viên bán hàng luôn phải giữ thái độ vui vẻ và đưa ra những đề xuất giải pháp phù hợp. Doanh nghiệp đưa ra đề xuất và một số giải pháp phù hợp với yêu cầu của khách hàng bao gồm: - Bao giá; - Phuong thức thanh toán; - Thời gian, địa điểm và phương thức giao hang; - Bao hành, bảo trì sản phẩm; - Dich vụ kèm theo: dịch vụ kiểm tra, dịch vụ hậu mãi; - _ Các hỗ trợ khác: đào tạo cán bộ nhân viên; - Cac giải pháp kĩ thuật kèm theo.
Bước 7: Đàm phán, kí hợp đồng và kết thúc thương vụ Quá trình đàm phán nhằm đưa ra các bên đi đến thỏa thuận và chấp nhận một khu vực hop đồng có thé đáp ứng được mục tiêu của cả hai bên. Trước khi kí kết bat kỳ một loại hợp đồng kinh tế nào cũng cần phải xem xét kĩ các điều khoản về đơn giá, số lượng, thời gian, địa điểm, phương thức giao hàng và thanh toán, bảo hành, bảo trì, phạt hợp đồng, tranh chấp, hiệu lực hợp đồng. Sau khi xem xét một cách cân thận mới tiễn hàng kí kết hợp đồng và kết thúc thương vụ. Nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động bán hàng và tiêu thụ hàng hóa 1.
Các yếu tố chủ quan a. Chất lượng và giá cả sản phẩm Việc hiểu rõ đặc điểm cũng như giá trị cốt lõi của sản phẩm sẽ giúp doanh nghiệp lựa chọn những loại sản phâm phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của khách hang. Tất ca Lê Hồng Quyên — DI7QTDN 16 Khóa luận tốt nghiệp đại học Chương 1: Một số vấn dé chung về hoạf động bán hàng các khâu của quá trình thực hiện thực tế hướng tới mục đích duy nhất là đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng mà mang về lợi nhuận cho doanh nghiệp. Vì thế, dù chất lượng dich vụ hay phương thức bán hàng có tốt thế nào đi nữa mà sản phẩm không tốt về chất lượng hay giá cả không phù hợp thì cũng coi như doanh nghiệp bi phá sản.
Do vậy, mang lại giá trị đích thực cho khách hàng chính là chìa khóa thành công của công tác bán hàng. Dịch vụ và chăm sóc khách hàng Giai đoạn sau khi bán hàng cũng quan trọng không kém gì giai đoạn bán hàng. Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp đều triển khai và chú trọng hoạt động chăm sóc sau mua, không phải mua trao tay cho khách hàng là doanh nghiệp hết trách nhiệm với sản phẩm. Nhất là đối với sản phâm là phần mềm hay dịch vụ, doanh nghiệp sẽ có riêng một bộ phận chăm sóc khách hàng.
Bộ phận này sẽ chịu trách nhiệm chăm sóc khách hàng sau mua như hướng dẫn khách hàng sử dụng, bảo hành sản phẩm, gửi email, thư chúc những dịp lễ, tét,.dé tạo ấn tượng tốt cho khách hàng. Thực hiện hoạt động chăm sóc khách hàng tốt, doanh nghiệp sẽ có chỗ đứng vững chắc trên thị trường vì có sự tin tưởng của khách hàng. Tiêm lực doanh nghiệp Đây là một trong những yếu tố chủ yếu tạo ra hoặc giảm bớt khả năng bán hàng của các doanh nghiệp. Tiềm lực của doanh nghiệp bao gồm: tiềm lực tài chính (nguồn vốn, cơ cấu vốn, khả năng trả nợ, khả năng sinh 160i, ty lệ tái đầu tư.);› tiềm lực con người (lực lượng lao động với số lượng, chất lượng, quy mô, cơ cấu, trình độ, năng suất, chiến lược phát triển con người của doanh nghiệp), tiềm lực vô hình (hình ảnh, uy tín của doanh nghiệp, thương hiệu, quan hệ lãnh đạo với xã hội, công chúng), trình độ tô chức quản lý, điều hành, kiểm soát hoạt động bán hàng, trình độ trang thiết bi, bí quyết công nghệ, bí quyết kinh doanh, cơ sở vat chất,.
Các yếu tố này tạo lên lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp hoặc cũng có thể là trở ngại, gây cản trở hoạt động bán hàng của doanh nghiệp. Khách hàng Khách hàng chính là mục tiêu mà doanh nghiệp hướng đến do đó nhu cầu, hành vi tiêu dùng của họ sẽ ảnh hưởng đến sự thành bại của doanh nghiệp. Khách hàng có thể là cá nhân, tổ chức, chính phủ nhưng nếu xét dưới góc độ quy trình của hàng hoá từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ, khách hàng của doanh nghiệp lại bao gồm người tiêu dùng cuối cùng, các nhà phân phối và các doanh nghiệp khác. Khách hàng quyết định loại hình, cơ cấu, đặc tính,.của sản phẩm mà doanh nghiệp hướng đến.
Trong quan hệ mua bán, khách hàng có thé gây sức ép thông qua kha năng đàm phán đối với doanh nghiệp về mặt giá cả và chất lượng, và một vài yếu tố khác như điều kiện giao hàng, điều kiện thanh toán qua đó làm ảnh hưởng đến khả năng tìm kiếm lợi nhuận của doanh nghiệp. Thêm vào đó, thị hiéu cũng như nhu cầu của khách hàng luôn thay đổi. Rõ ràng, Lê Hồng Quyên — DI7QTDN 17 Khóa luận tốt nghiệp đại học Chương 1: Một số vấn dé chung về hoạf động bán hàng khách hang là yếu tổ bất định đối với doanh nghiệp. Nếu họ có thiện cảm với doanh nghiệp sẽ là cơ hội dé thu hút nhiều khách hàng hơn nữa của doanh nghiệp.
Do đó, một khi khách hàng đã đến doanh nghiệp thì doanh nghiệp cần phải tìm mọi cách dé giữ chân họ lại một cách thoải mái và vui vẻ nhất. Nhà cung cấp Họ là nơi cung cấp đầu vào cho doanh nghiệp như nguyên vật liệu, thiết bị, vốn, lao động, nhà cung cấp là đối tác của doanh nghiệp. Đối với các cấp quản lý của doanh nghiệp, họ sẽ nghiên cứu và tìm ra được nguồn đầu vào với chi phí hợp lý và giá thấp nhất có thể. Hoạt động của toàn doanh nghiệp có thé bị ảnh hưởng khi đầu vào gặp vấn đề hoặc trì hoãn sẽ khiến phát sinh chỉ phí, giảm lợi nhuận doanh nghiệp.
Vì là đối tác nên doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ lưỡng về nhiều mặt như uy tín, tài chính, hiệu qua,.Néu tim được nhà cung cấp phù hợp với mình, doanh nghiệp cần giữ chân họ lại trung thành với minh, dé làm được điều đó doanh nghiệp cần phải có các chế độ, chính sách, hoa hồng thỏa đáng, kích thích tinh thần hợp tác của họ. Các doanh nghiệp cũng cần thường xuyên nghiên cứu những biến động của thị trường dé đưa ra những quyết sách thêm bớt mạng lưới nhà cung cấp hoặc thay thế sao cho có hiệu quả. Đối thủ cạnh tranh Là những doanh nghiệp cùng chia sẻ thị phần với doanh nghiệp, họ có thê là các công ty cùng lĩnh vực hoặc khác lĩnh vực kinh doanh với doanh nghiệp.