MỞ ĐẦU |. Lý do dé tài: La một môn khoa học thực nghiệm - Hoá Hoe đòi hỏi lý thuyết phải di đối với thực hành. Chính vì vậy mà một học sinh giỏi Hoá không chi nấm vững lý thuyết ma côn phải biết vận dung lý thuyết để giải quyết các vấn dé trong thực tiễn, giải quyết các bai tap hoá học, Nhưng hiện nay học sinh trung học phổ thông phải học rất nhiều môn trong một tuần, nếu tính luôn tiết tăng thì môn Hoá lớp 10 được 3 tiết trong | tuần. Đây là điều bất lới cho học sinh khi học Hoá bai vì các em sẽ không có thời gian để tiêu hoá kiến thức mà giáo viên truyền đạt, chuyển chúng thành kiến thức của mình.
Mà cách sắm vững kiến thức tốt nhất Livan dung lý thuyết đã học vào giả: quyết các bài ip. Vì thể kỹ năng giả: bài tập hoá học của học sinh THPT hiện nay chưa cao, đồng thời tác dung của bài tân hoá học chưa được khai thác triệt để. Để thuân lợi cho việc thực nghiệm sư phạm và cũng mong muốn khai thác triệt để hơn tác dung của bài tập hoá học tôi đã chon dé tài : “ Rèn luyện kỹ năng giả: hài tập hoá học chương Oxi- Lưu huỳnh cho hoc sinh THPT ” Và cũng thông qua để tài này, tôi muốn cung cấp cho học sinh | số dang toán thường gap và cách giải từng dang ở chương Oxi- Lưu huỳnh, mong muốn góp mỗi phẩn nhỏ vào công cuộc giáo dục người học sinh giỏi toần diện cả lý thuyết lẫn thực hành. nghiên Muc dich ciêu: Rèn luyện kỹ nâng giải bài tập hoá học chương Oxi- Lưu huỳnh nhằm mục đích nắng cao chất lượng học tấp của học sinh đống thời góp phan tích cực thực hiện mục tiêu day tốt, học tốt môn hoá học ở trường phổ thong, LH nghiên Nhiệm vụ cứu: - Tổng kết lý thuyết chương Oxi- Lưu huỳnh và lý thuyết vẻ bài tập hoá học.
- Điều tra thực tế. - Xây đựng kế hoạch rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho học xinh, - Thưc nghiệm giáo án các bài lên lớp thuộc chương Oxi- Lưu huỳnh ở trường phổ thông. - Tổng kết các dang bài tập thường gap trong chương Oxi- Lưu huỳnh. - Thực nghiệm sư phạm.
IV Khách thể và đối tượng nghiên cứu: 1) Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học ở nhà trường phổ thông. 2) Đất tượng nghiên ciêu: Quá trình rèn luyén kỹ năng giải bài tập hoá hoc chương Oxi- Lưu huỳnh cho học xinh trung học phổ thông. Nếu việc rèn luyén kỹ năng giải bài tap hoá học chương Oxi - Lưu huỳnh cho hoc sinh được thực hiện một cách nghiêm túc, có hiệu quả sẽ nắng cao chất lượng học lap hoá hoe cua hoe sinh ở các trường THPT hiến nay mà đặc biết là nâng cao chất lượng học tap chương Oxi — Lưu huỳnh cho học sinh. SV TH: Hé Hải Quỳnh Trân 1 Luận vấn tốt nghiệp GVHD: Lê Trọng Tín VỊ.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa học - 1) Phương pháp luận : Dựa trên nến ting của triết học duy vat biện chứng vẻ phương pháp dạy học và quá trình nhân thức của học sinh, 2) Phương pháp nghiên cứu khoa học: - Phương pháp tổng kết lý thuyết. - Phương pháp trắc nghiệm, điều tra thực tế. - Phương pháp phỏng vấn, trao đổi. - Phương phái? thống kê toán học.
Giới hạn của dé tài: Vì thời gian có hạn, nên để tài chỉ tập trung nghiên cứu vấn dé trong pham vì sau: ~ Rèn luyện kỹ năng giải các dạng bài tập thường gấp và căn bản thuộc chương Oxi- Lưu huỳnh Hóa lớp L0. -_ Đối tượng thực nghiệm là học sinh trường THPT Nguyễn Du mà đặc biết là hoc xinh lớp 10C), - Các giáo án thực nghiệm gồm: + Giáo án bài học : gồm các bài S, H;S, Các oxit của S, H:SO, + Giáo án luyện tip: bài tập S- HS, luyén tip. SVM:T HO Hd Quynh ran Luận văn tốt aghiệp _GVHDĐ: Lé Trọng Tin CHUONG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VE PHƯƠNG PHAP DAY HỌC : 1.1 BÀI TẠP HÓA HOC: 1.1 Khái niệm về bài tập hoá học: “Bai tập là những bài ra cho học sinh để tập vận dung những diéu đã học "-từ điển Tiếng Việt đã định nghĩa. Sau khi nghe giáo viên giảng bài xong nếu học sinh nào giải được các bà! tập mà giáo viên đưa ra thì có thể xem như học sinh đó đã lĩnh hội được | cách tương đối nhừng kiến thức mà giáo viên truyền đạt.
Bài tập hóa học chính là các bài tap có nội dung liên quan đến hoá học. Nôi dung củu bài tập hoá học thông thường bao gồm những kiến thức chính yếu trong bai giảng. Bài tip hoá học có thể là những bà: tập lý thuyết đơn giản chỉ yêu cầu học sinh nhớ và nhấc lại các kiến thức vừa hoc hoặc đã học xong nhưng cũng có thể là những bài tập tính toán liên quan đến cả những kiến thức hoá học Mn toán học, đôi khi bài tập còn là những bài tập tổng hợp yêu cầu học sinh phải vận dung những kiến thức đã hoc từ trước kết hựp với những kiến thức vừa hoc để giải. Tuy từng mục dich của bài học ma bài tập có thể giải đưới nhiều hình thức và nhiều cách giải khác nhau.2 Tác dung của bài tập hoá học : Giải bai tập hoá học chính là một trong những phương pháp tích cực nhất để kiểm tra khả năng tiếp thu kiến thức của học sinh.
Thông thường qua hài tập, giáo viên có thể phát hiện những sai sót yếu kém của học xinh mà qua đó có kế hoạch rèn luyên kịp thời giúp học sinh vượt qua những khó khan trong việc giải bài tập hoá học. Vì vậy bài tập hoá học có những tác dụng lớn sau: thủng qua a ¡ Việt giải bài tập hoá bias hor sinh sinh sẽ2 hiểu sâu hơn các khái niệm, định nghĩa, định luật,. mà trước đây đa số học sinh đều học thuộc lòng là chính. Bài tập hoá học giúp học sinh nhớ lại tính chất các chất, các phương trình phản ứng, phân biệt được các phản ứng đặc biệt là phản ứng oxi hoá -khử.
© dụ: Ví Có bai tập như sau: a. Hãy cho biết tính chất hoá học của axit sunfuric loãng, mỗi tính chất cho một vi dụ mình họa? b. Trong các phản ứng hoá học trên: Phản ứng nào thuộc loại phản ứng oxi hoá- khử. Đối với bài tập này để giải được câu a học sinh phải nhớ lại tính chất hoá học đặc trưng của axit sunfuric loäng.
Và phải lựa chọn những phản ứng sao cho thich hợp nhất đối với mỗi tính chất. Đối với cầu b học học sinh cắn nhớ lại điểu kiện phản ứng oxi hoá-khử nếu phản ứng nào phù hợp với điều kiện là phản ứng oxi hoá-khử còn các phần ứng không phù hợp với điều kiến thì không phải là phản ứng oxi hoá-khử, + Cung cấp thêm các kiến thức mới và mử rộng sư hiểu biết mà không làm năng nề khối I kiến thức của học sinh. Ngoài tác dung củng cổ các kiến thức đã học, bài tập hoá học còn cung cấp các kiến thức mdi và mở rộng sự hiểu biết của học sinh một cách sinh động, phong phú mà SVTH: Hồ Hai Quỳnh Trân 3 Ludn văn tốt nghiệp GVHD: Lê Trọng Tín không làm nang nể khối lượng kiến thức của hoc sinh về các vấn để thực tiễn trong đời sống hằng ngày và trong công nghiệp sản xuất. Ví dụ - Khi học sinh học về công thức hóa hoc, có một bài tập như sau: Công thức của thuốc cắm Aspirin là CyHyOy, hợp chất này được tạo nên bởi bao nhiêu nguyên tế, đó là những nguyên tố nào? Nó thuộc hợp chất vô cơ hay hữu cơ? Tính phân tử lượng của Aspirin? Đốt với dang hài tấp này không đòi hỏi học sinh phải nhớ, phải thuộc ma chỉ cắn nhìn vào CTPT là có thể trả lời được, Ngoài ra nó còn làm cho học sinh cảm thấy Hóa học không phải là những khái niệm khó hiểu mà rất thiết thực trong cuộc sống.
® Hệ thống hoá các kiến thức đã học Đối với bài tập có tác dụng hệ thống hoá các kiến thức cấn đòi hỏi học sinh phải vận dụng tổng hợp các kiến thức và vốn hiểu biết có thể là các kiến thức vừa học hoặc có thể là các kiến thức đã học từ các bai trước, chương trước, lớp trước. Ví dụ: Đối với chương trình lớn 11 sau khi học xong chương hidrocacbon thom, có một bài tập sau: Viết các phản ứng biểu điển chuỗi biến hoá sau: CaCO, -> CaO -> CaCy -> Coy -> Cy CoHsBr C;H;NQ; C;H,Cl; CoHi2 Để giải bài tập này, học sinh cẩn vận dung cả kiến thức vô cơ lẫn hữu cơ. Đối với kiến thức hữu cơ, học sinh cắn phải nhớ được phản ứng điều chế CH), phản ứng điều chế CoH, và phải nhớ lại các tính chất hoá học của benzen. Như vậy sẽ viết được các phản ứng một cách dễ dàng.
Đây là một bài tập tổng hợp nhưng chỉ đòi hỏi kiến thức về hoá học. Ngoài ra còn có thể có các bài tập tổng hợp đòi hỏi học sinh phải vận dụng cả kiến thức vật lý và toán học mới giải được. củ - Lập công thức, cân bằng phương trình, tính toán theo công thức và theo phương trình. - Các phép tính toán như: tính toán đại số, đặt ẩn số, giải phản ứng bậc 1, bậc 2.
hoặc giải hệ phương trình. - Kỹ năng làm thí nghiệm. Trong quá trình giải các bài tập hoá học khác nhau, học sinh đã tự rèn luyện các kỹ năng kể trên và lâu đắn học sinh sẽ khấc sâu được các kỹ nắng đó, phát triển chúng thành kỹ xảo. + Giúp học sinh phát triển tư duy Khi giải một bài tập hoá học, học sinh thường vận dụng các thao tác tư duy cơ bản như: suy lý, quy nạp, điễn dịch hoặc loai suy hoặc phân tích, tổng hợp khái quát, trừu tượng.
và học sinh buộc phải nhớ lại các kiến thức đã học mà có liên hệ tới để bài, xác định mối liên hệ giữa những điểu kiện đã cho và yêu cầu của dé bài để tim ra cách giải tối ưu nhất. Qua đó tư đuy của học sinh được phát triển, tính tích cực độc lập của học sinh được nang cao và những kiến thức do chính học sinh tư tim hiểu phát hiện ra SVTH: Hé Hai Quỳnh Trân 4 Luận vấn tốt nghiệp _GVHD: Lê Trọng Tin thì học sinh sẽ khấc sâu, nhớ lâu hon dẫn đến chất lượng học tập của học sinh được nắng cao.