Chương I : Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn để nghiên cứu. Chương II : Các hình thức gắn nội dung chương trình hoá học với thực tế. Chương III : Quy trình rèn luyện kỹ năng gắn bài giảng với thực tế. Chương IV : Tư liệu gắn bài giảng với thực tế dùng để giảng dạy ở PTTH.
Luận văn này rất hay và thực sự bổ ích, nó có nhiều điểm đáng chú ý : - Gan bài giảng với thực tế là một trong những nguyên tắc dạy học. - Gan bài giảng với thực tế là một trong những biện pháp gây hứng thú học tập. - Gấn bài giảng với thực tế là một kỹ năng dạy học quan trọng cần rèn luyện cho SV. - Các hình thức gan nội dung chương trình hóa học với thực tế.
> Vận dụng kiến thức trong bài học để giải thích các hiện tượng xảy ra trong cuộc sống. > Minh hoạ nội dung trong bài học bằng những hình ảnh, ví dụ trong thực tế. > Đưa ra nhiều ví dụ về ứng dụng của các chất hóa học trong cuộc sống. >» Đưa vào bài học những thành tựu mới của khoa học ki thuật.
> Giải các bài tập có nội dung thực tẾ. 8 Lugn odn tốt nghiég Luu Hanh Dung v Xem các phim về hóa học. Tham quan các cơ sở sắn xuất hóa học. vVv Tổ chức cho HS thực hành, tham gia sản xuất.
Tổ chức các hoạt động ngoại khóa. - Ngoài ra tài liệu còn có cả một quy trình rèn luyện kỹ năng gan bài giảng với thực tế : * Thu thập va phân loại các tài liệu. = Viết sổ tay nghiệp vụ. s Nghiên cứu ki bài giẳng.
= Tìm các tư liệu liên quan, cân nhắc lựa chọn tư liệu thích hợp nhất. * Hoà nhập vào bài giảng. * Chuan bị kế hoạch cho cả nam học và từng chương. - Bên cạnh đó còn có 27 trang tư liệu gắn bài giảng hóa học với thực tế cuộc sống rất hay và cần thiết khi các bạn đi thực tập và đi dạy sau này, qua việc gắn hóa hoc với thực tế cuộc sống cho HS sẽ giúp các ban nâng cao tầm hiểu biết của mình đồng thời giúp HS thấy được vai trò to lớn của hóa học đối với cuộc sống, biết vận dụng kiến thức đã học vào các hiện tượng của cuộc sống, từ đó thêm yêu mến bộ môn và tránh xa được những thủ đoạn mê tín dị đoan của bọn người xấu.
Luan van tốt nghi¢p Luu Hanh Dung Chương II CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. ĐẶC TRUNG CUA PHUONG PHAP DẠY HOC HOA HỌC : 1. Định nghĩa phương pháp day hoc hóa học : Trong các tác phẩm vẻ lý luận day học hóa học, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều định nghĩa về phương pháp dạy học hóa học. Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang đã định nghĩa : Phương pháp dạy học hóa học có thể hiểu là cách thức hoạt động cộng tác có mục đích giữa GV và HS, trong đó thống nhất sự điểu khiển của GV với sự bị - tự điều khiển của HS nhằm chiếm lĩnh khái niệm hóa học.
Đặc trưng của phương pháp day học hóa học : Hóa học là một môn khoa học gắn liền lí thuyết với thực nghiệm. Phương pháp dạy học hóa học có những đặc trưng sau : L2. Đặc trưng thứ nhất : Kết hợp, thống nhất thực nghiệm với tư duy khái niệm. Quan hệ chặt chẽ giữa cấu tạo của chất và tính chất của chất đó.
Hóa học nghiên cứu về các chất và sự biến đổi từ chất này sang chất khác. Muốn hiểu về các chất thì phải tiếp xúc với chúng, thí nghiệm với chúng, vì vậy dạy và học hóa học phải gắn liền với thực nghiệm. Ví dụ : ở chương trình lớp 8, theo lý thuyết ta có định nghĩa hiện tượng vật lý ~ hiện tượng hóa học nhưng HS nắm một cách rất mơ hồ. Nhưng làm thí nghiệm với muối hoà tan trong nước : muối từ rin chuyển sang lỏng, đun lên lại thu được muối ăn tinh thể, diéu đó cho thấy không có chất mới tạo thành — đó là hiện tượng vật lý-„các em sẽ dé hiểu, phân biệt được muối tinh thể và nước muối qua hình dạng bên ngoài, màu sắc và vị mặn ; Còn khi đun đường ta thấy đường cháy đen thành than, như vậy là có chất mới sinh ra —>đó là hiện tượng hóa học.
Khi HS mới học về hóa thì việc HS được trực tiếp tri giác các chất, quan sắt hoặc tự làm các thí nghiệm đơn giản là cách tốt nhất để hình thành nên các khái niệm trừu tượng về hóa học. Khi học lên các lớp trên, mức độ tích luỹ kiến thức đã nhiều thì HS sẽ học hóa hoe trên cơ sở kết hợp tri giác thực nghiệm với tư duy khái niệm. Các học thuyết hóa học đều xây dựng trên cơ sở cấu tạo nguyên tử, phân tử, liên kết hóa học. Cho nên cần rèn luyện cho HS sử dụng khái niệm như một công cụ của tư duy đặc biệt là mối liên hệ nhân quả giữa cấu tạo với tính chất.
Đặc trưng thứ hai : Đối tượng của hóa học là những phân tử, nguyên tử, những ion, electron. đó là những phan tử vô cùng nhỏ bé không thể nhìn bằng mắt thường mà là những khái niệm rất trừu tượng. không thể dùng thực nghiệm để minh hoạ nên việc giảng dạy hóa học rất cẩn mô hình hóa. Dùng những mô hình cụ thể ở kích thước lớn để diễn tả cấu tao các chất và cơ chế các pứhh vốn tổn tại trong thế giới vi mô, mat thường không thấy được.
Ví dụ : Ở lớp 8, để diễn tả phản ứng : 10 Luan van tốt tgiiệp Lưu Hạnh Dung Cacbon + oxi —* khí cacbonic SGK đã dùng phương pháp mô hình hóa như sau : © œ ef & = — © @ ef €) 1. Các phương pháp day học hóa học : Có nhiều cách phân loại khác nhau. tuỳ theo cơ sở dùng để phân loại : a, Dựa vào mục đích day học : - Phương pháp dạy học khi nghiên cứu tài liệu mới. - _ Phương pháp day học khi hoàn thiện kiến thức.
Phương pháp dạy học kiểm tra kiến thức kĩ năng, kĩ xảo, b. Dựa vào tính chất của hoạt động nhân thức : ~ Phuong pháp minh hoạ. - Phudng pháp nghiên cứu. Dựa vào nguồn cung cấp kiến thức : e Phương pháp sử dụng ngôn ngữ : - Phương pháp thuyết trình.
-_ Phương pháp đàm thoại. - Phương pháp dùng SGK và các tài liệu khác. e Các phương pháp trực quan ( phương pháp có sử dụng phương tiện trực quan ) : - Phương pháp quan sát, tham quan. - Phương pháp trình bày trực quan.
- Phương pháp biểu diễn thí nghiệm. e Các phương pháp thực hành : - Phương pháp luyện tập. - Phương pháp thí nghiệm. - Phuong pháp trò chơi.
SỬ DỤNG CÂU HOI: H.Vai trò của việc sử dụng câu hỏi : Theo khuynh hướng đổi mới giáo dục hiện nay, xu hướng đổi mới phương pháp dạy học đang được chú ý nhất là : "Dạy học hướng tập trung vào HS, phát huy tính tích cực tự lực, chủ động sáng tạo của người học”.Để đạt hiệu quả tốt đối với việc đổi mới này, GV phải phát huy được tối đa năng lực tự lĩnh hội tri thức của HS bằng cách hướng HS tự mình tiến tới nắm bất kiến thức thông qua hệ thống câu hỏi của GV đặt ra. Luan oan tốt nghi¢p Luu Hanh Dung Đứng về phía GV, nhìn chung, ta thấy vai trò to lớn của người thay ở trên lớp học. Vì thầy là người đứng ra tổ chức, điều khiển quá trình học tập của HS, thây là chủ thể thực sự, hoạt động tích cực nhất hướng dẫn HS học tập. Thực chất quá trình dạy học là quá trình giao tiếp giữa GV và HS, trong đó phương tiện giao tiếp đặc biệt là phương tiện ngôn ngữ.
Phương tiện ngôn ngữ gốm có : - - Ngôn ngữ nói. - - Ngôn ngữ viết. Trong bài này ta chỉ xét chủ yếu là ngôn ngữ nói và phương pháp dạy học sử dụng ngôn ngữ nói là phương pháp thuyết trình và đàm thoại. + Trong phương pháp thuyết trình chủ yếu là sử dụng ngôn ngữ độc thoại : là hình thức nói của một người, những người khác chỉ nghe trong quá trình giao tiếp.
Thay giáo giảng bài, HS nghe. HS có hiểu bài, học tập ở trên lớp hay không phụ thuộc phần lớn vào cách diễn đạt của thầy. Phương pháp thuyết trình cho phép thấy truyền đạt những nội dung lý thuyết tương đối khó, phức tap, chứa đựng nhiều thông tin mà trò không dé dàng tự mình tìm hiểu lấy được. Về mặt tư tưởng và tình cảm, sự tiếp xúc trực tiếp và sức truyền cắm mạnh của ngôn ngữ của thấy cùng với toàn bộ nhân cách của thấy sẽ giúp trò hình thành những tư tưởng và tình cắm cao đẹp, lành mạnh, những niém tin và hoài bão.
Phương pháp này có tính kinh tế cao. Trong một khoảng thời gian hạn chế, thay có thể truyền dat một lượng thông tin lớn cùng một lúc cho nhiều HS. Tuy nhiên phương pháp thuyết trình có một số nhược điểm lớn là : e_ Nó chỉ đòi hỏi ở HS một quá trình nhận thức thụ động ( nghe, cùng tư duy, cùng kết luận để hiểu và tái hiện ). © Nó không giúp HS tích cực phát triển ngôn ngữ nói ( trò chỉ nghe là chủ yếu).
œ® N6 chỉ cho phép trò đạt tới trình độ tái hiện của sự lĩnh hội. Lí luận day học khẳng định rằng phương pháp thuyết trình vẫn sẽ tiếp tục là một phương pháp dạy học thông dụng vì những ưu điểm của nó. Nhưng hiệu quả của nó sẽ tăng lên rõ rệt nếu ta thay đổi tính chất thông báo - tái hiện của nó bằng tính chất nêu vấn để — tìm tòi - phát hiện. +Trong phương pháp đàm thoại chủ yếu sử dụng ngôn ngữ đối thoại : thực chất của ngôn ngữ đối thoại trong dạy học là : thấy cô hỏi, HS trả lời, hoặc ngược lại HS hỏi, thay cô trả lời.
Đàm thoại thực chất là phương pháp mà trong đó thẩy đặt ra một hệ thống câu hỏi để trò lần lượt trả lời. đồng thời có thể trao đổi qua lại dưới sự chỉ đạo của thay. Qua hệ thống câu hỏi — lời đáp trò lĩnh hội được nội dung bài hoc. Theo xu hướng giáo dục hiện nay : “ Dạy học hướng tập trung vào HS, dạy học phát huy tính tích cực, chủ động.
sáng tạo của HS” thì việc dạy học dùng ngôn ngữ đối thoại đóng vai trò quan trọng hơn hẳn việc dạy học chỉ sử dụng ngôn ngữ độc thoại.