Chương 1 TÔNG QUAN TÓNG QUAN 1. DAC DIEM THỰC VAT CÂY CHUM NGÂY “*! Chi Chim ngây là chi duy nhất trong ho Cham ngây (Moringaceae) bao gồm 13 loài và loài phô biến nhất là Chùm ngây. Tên thông dụng: Chùm ngây (Việt Nam), Drumstick tree (Mỹ), Horseradish tree, Behen. Drumstick Tree, Indian Horseradish, Noix de Bahen.
Tên Khoa hoc: Moringa oleifera Lam, Moringa pterygosperma Gaertn thuộc ho Moringaceae.1 Thực vật hoc”: Vị trí trong hệ thông phân loại thực vật Giới thực là bậc cao Ngành Ngọc lan | Lớp Ngọc lan | Bồ cải | Họ Chùm ngây (Moringaceae) Chi (Moringa) | Loài (Moringa oleifera L. Vị trí cây Chùm ngây trong bảng hệ thống phân loại thực vật 1. Mô tả chung”: Cây gỗ nhỏ. cao 8 — 10 m, phân nhánh nhiêu, thân có tiết diện tròn, thân non màu xanh có lông, thân già màu xám nốt sản, trồng lâu năm có thể cao đến 12m, đường kính thân cây 20 - 40cm.
Lá kép lông chim 3 lần lẻ, mọc cách. Gan lá hình lông chim, nổi rõ mặt dưới. Cuéng lá đài 18 - 25cm. Hoa không đều lưỡng tinh, màu trắng hơi vàng, mùi thơm, cuống hoa đài 1-2 cm.
Quả mọc treo, có 3 cạnh, dai 25 — 30cm, hơi gỗ lên ở chỗ có hạt, khía rãnh đọc. Hạt màu đen, to bằng đậu Ha Lan, tròn có cạnh và 3 cánh màu trắng dang màng. Cây ra hoa vào tháng 1 - 2. Vùng phân bố và thu hái”! Cây Chùm ngây vốn được coi có vùng bản địa là vùng tây bắc Án Độ và Pakistan, sau đó được trồng rong rãi ở An Độ và các nước Đông Nam Á khác.
Hiện nay vẫn con tồn tại quần thé Chùm ngây mọc hoang đại ở cận Hymalaya, từ vùng Chenab phía đông của Sarda (An Độ). Õ Việt Nam, cây Chim ngây được trồng rải rác ở các tỉnh phía Nam, từ Quảng Nam trở vào, đặc biệt là các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Phú Quốc. Cây ưa sáng và khí hậu nhiệt đới nóng âm; có thé sông và phát triển tốt trên nhiều loại dat, từ dat đỏ bazan ở Tây Nguyên đến đất sét pha cát hoặc trên đất cát vùng ven biên. Cây trồng bằng hat hay bằng cành, sau 2 năm bắt đầu có hoa.
Cây trồng ở miền Nam thường ra hoa quả một vụ trong năm. Ở vùng nam An Độ. hang năm có 2 vụ hoa quả thậm chí có hoa quả rải rác quanh năm. Người ta thu hái qua non sau 5Š — 77 ngày ké từ ngày hoa nở vả quả chín sau 100 — 115 ngày.
CÔNG DỤNG CỦA CÂY CHÙM NGÂY Theo lương y Nguyễn Công Đức - giảng viên khoa y học cô truyền (Dai học Y dược Tp.HCM), Chùm ngây đã được biết đến và dùng hơn nghìn năm nay ở các nước có nên văn minh cô như Hy Lạp, An Độ. Đây là loài cây đa tác dụng, vì vậy ở nhiều nơi trên thế giới nó được xem la nguồn tải nguyên vô giá; giúp chéng nạn thiểu dinh dưỡng, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và phòng hộ giảm nhẹ thiên tai. Ngoài ra, các bộ phận của cây còn có dược tính phd rộng, được dùng dé điều trị rất nhiều loại bệnh khác nhau. Về giá trị đinh dưỡng” Lá cây được dùng lảm rau ăn (lá, choi, cảnh non va cả cây con được dùng trộn dau dam ăn thay rau diép), làm bột cả ri, ủ chua làm gia vi, làm trà giải khát.
Ở châu Phi, nó được ding dé chống suy đỉnh đưỡng cho trẻ em. Lá Chùm ngây chứa rat nhiều vitamin và muỗi khoáng với hàm lượng cao: vitamin C cao gấp 7 lần trong cam, provitamin A cao gấp 4 lần trong cà rốt, calcium cao gap 4 lần trong sữa, potassium cao gấp 3 lần trong chuối, sắt cao gap 3 lần trong rau điệp va ngay cả protein cũng cao gấp 2 lần trong sữa. Ngoài ra, lá còn chứa nhiêu vitamin B và E , khoáng chat và các axit amin như methionine, cystein, leucine, isoleucine, valine, phenylalanine,. Thanh phan các amino axit (g/100g protein) có trong cây Chùm ngây!” Amino acids Moringa oleifera Lysine 3.37 Hoa Chùm ngây có thé dùng làm rau ăn hoặc lam trả (nhiều nước phương Tây sản xuất trà hoa chủm ngây bán ngoài thị trường).
Nó cũng là nguôn cung cấp nguyên liệu rất tốt cho người nuôi ong. Quả non của nó có thể chiên xào để ăn với hương vị như măng tây. Hạt Chùm ngây chứa nhiều dau, lượng dầu chiếm đến 30 — 40% trọng lượng hạt.7% acid oleic, 9,3% acid palmitic, 7,4% acid stearic và 8,6% acid behenic. Ở Malaysia, hạt được dùng để ăn như đậu phụng.
Dầu Chùm ngây ăn được và còn được dùng dé bôi trơn máy móc, dùng cho công nghệ mỹ pham, xả phòng. Theo y học cổ truyền “! Chùm ngây là một trong những cây thuốc rất thông dụng tại Án D6. Nhiều bộ phận trên cây được dùng làm thuốc chữa nhiêu bệnh khác nhau. Trong hoa và rễ cây có pterygospermin (60) - chất này được nhóm các nhà nghiên cứu đại học Bombay, đại học Travancore và khoa hóa sinh Viện khoa học An Độ phát hiện cuối thập niên 1940, đầu những năm 1950 và chứng minh là một trụ sinh (antibiotic) rất mạnh, ăn thường xuyên sẽ giảm được nhiễm trùng do tạp khuẩn của môi trường !°“Ì.
Ngoài ra, cây Chùm ngây còn cung cấp những hợp chất quý hiểm như Zeatin, Quercetin, a — sitosterol, Caffeoylquinic acid và Kaempferol. Lá dùng dé chữa trị chứng ha huyết áp va vò xát vào vùng thái dương dé trị chứng nhức đầu. Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy rằng lá Chùm ngây có tính chất như một kháng sinh chỗng các viêm nhiễm nhỏ. Lá còn được dùng để điều trị các vết cắt ở đa, vết tray sướt, sưng tay, nỗi man ngứa hay các đấu hiệu lão hóa ở da.
Dịch chiết từ lá có tác dụng duy tri ôn định huyết áp, trị chứng ban than, chỗng nhiễm trùng đa, điều khiến lượng đường máu trong trường hợp bị bệnh tiêu đường. Dịch chiết từ lá có thêm nước cả rốt là một thức uống lợi tiêu. Lá cũng được dùng chữa sốt. viêm phé quản, viêm nhiễm mắt và tai, viêm màng cơ, diét giun sán và làm thuốc tây xổ.
Ở Philippines, lá được chỉ định dùng chống thiểu máu, do chứa sắt cao. Còn tai Pakistan, lá giã nát đắp lên vết thương, trị sung và nhot, đắp và bong dịch hoàn dé tri sưng và sa: trộn với mật ong đắp lên mắt đẻ trị mắt sưng đỏ. Hoa Chim ngây như một chất kích thích, kích duc, tác nhân gây say thai: dùng để chữa viêm, trị những bệnh về cơ, hội chứng rối loạn phân ly, khối u, sự phình to của lách, làm giảm cholesterol huyết thanh, phospholipid, tricgliceride trong máu, tỉ lệ VLDL, LDL cholesterol thành phospholipid và làm giảm chỉ số xơ vữa động mach, giảm thành phân lipid trong gan, tìm và động mạch chủ vả giảm sự thải ra các cặn cholesterol. Vỏ thân được dùng trị nóng sốt, đau đạ dày, đau bụng khi có kinh, sâu răng, làm thuốc thoa trị hói tóc; trị đau trong cô họng (dùng chung với hoa của cây nghệ, hạt tiêu đen, ré củ); trị kinh phong; trị đau quanh cô; trị tiêu ra máu; trị bệnh tả hoa, dùng làm thuốc bổ, lợi tiểu.
Hạt dùng trị bệnh viêm dạ dày, trị trướng bụng. Hạt Chùm ngây có hoạt tính kháng sinh, có khả năng ức chế sự phát triển của nhiều loải vi khuân và nắm. Có thể dùng hạt Chùm ngây dé lọc nước. Dùng hat Chùm ngây làm chat tạo tram lắng và kết tụ, đưa đến kết quả rất tốt.
Phương pháp lọc này rất có ích tại các vùng nông thôn của các nước nghéo. Dầu hạt được dùng ngoài đề trị nam da. Trường Đại học San Carlos ở Guatemala đã tìm ra một loại khang sinh có tac dụng như neomycin có kha năng bảo vệ da khỏi sự viêm nhiễm do Staphylococcus aureus. Tại Trung Mỹ hat Chùm ngây được dùng trị táo bón, mụn cóc và giun san, Dau từ hạt dé trị phong thấp.
Hạt có tác dụng làm giảm đau. Nhựa tử thân cũng có tác dung làm dịu đau. Tuy nhiên dùng liều quá cao có thé gây ra buôn nôn, chóng mặt và ói mira. Liễu cho uống: Sgram/kg trọng lượng cơ thê.
Hoạt tính của rễ Chùm ngây trên soi thận loại oxalate đã được chứng minh tại An Độ. Chùm ngây làm giảm rõ rệt nòng độ oxalate trong nước tiểu bằng cách can thiệp vào sự tông hợp oxalate trong cơ thẻ. Sự kết đọng tạo sạn trong thận cũng giảm rat rõ. RE có vị đắng, được xem là vị thuốc bố cho cơ thé và phỗi, điều kinh, long đàm, lợi tiêu nhẹ, gây trung tiện, ức chế sự sinh sản, kháng viêm, chất kích thích trong các trường hợp liệt, thuốc kích thích tim và tuần hoàn.
O Nicaragua, nước sắc rễ được ding chữa bệnh phù thing. Dịch rễ được dùng ngoài dé trị chứng man ngứa do dị ứng. Trong rễ và hạt cũng có chất kháng sinh pterygospermin. Nghiên cứu tại Án Độ cho thay rễ Chùm ngây có tác dụng ngừa thai.
Tại Việt Nam, rễ Chùm ngây được dùng dé giúp lưu thông máu huyết, giúp dé tiêu hóa, có tác dụng trên hệ thần kinh, làm dịu đau. Vỏ rễ dùng sắc lấy nước trị đau răng, đau tai. Rễ tươi của cây non dùng trị nóng sốt, phong thấp, thống phong (gout), sưng gan và lá lách. Không nên dùng rễ Chùm ngây cho phụ nữ có thai, vì có khả năng gây trụy thai.
Theo y học hiện dai: Ngoài nước: fTTác dụng của quả Chùm Ngây trên cholesterol và lipid trong máu"; Nghiên cứu tại ĐH Baroda, Kalabhavan, Gujarat (An Độ) về hoạt tính trên các thông số lipid của qua Chùm Ngây, thử trên thỏ, ghi nhận: Thỏ cho ăn Chùm Ngây (200mg/kg mỗi ngày) hay uống lovastatin (6mg/kg/ ngày) trộn trong một hỗn hợp thực phẩm có tính cách tạo cholesterol cao, thử nghiệm kéo dài 120 ngày. Kết quả cho thấy Chùm Ngây va Lovastatin có tac dụng gay ha cholesterol, phospholipid, triglyceride, VLDL, LDL hạ ty số cholesterol/ phospholipid trong máu so với thỏ trong nhóm đối chứng. Khi cho thỏ bình thường đùng Chùm Ngây hay Lovastatin: mức HDL lại giảm hạ nhưng nếu thỏ bị cao cholesterol thi mức HDL lại gia tăng. Riêng Chùm Ngây còn có thêm tác dụng làm tăng sự thải loại cholesterol qua phân (lournal of Ethnopharmacology Số 86-2003).
Dịch chiết từ lá Chùm ngây có tác dụng ồn định áp suất trong máu, Các hợp chat nitrile, glycoside thiocarbamate được phan lập từ lá Chùm ngây có tác dung ha huyết áp (Faizi và cộng sự, 1995) và hầu hết các hợp chat này rất hiểm trong tự nhiên. Năm 1994, Gilani và cộng sự đã tiến hành thử nghiệm sinh học trên chuột 4 hợp chất ly trích từ lá Cham ngây là Niazinin A (37), Niazinin B (37), Niazimicin (48), và Niazinin A + B (37) cho thấy chúng có tác đụng hạ huyết áp. oat tính kháng nam gây bệnh!:*!