Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Ngành chăn nuôi gia cầm tại Việt Nam giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp, hàng năm cung cấp khoảng 18 - 20% tổng sản lượng thịt các loại (đứng thứ hai sau thịt lợn chiếm 75 - 76%), đồng thời cung ứng nguồn trứng giàu giá trị dinh dưỡng. Trong bối cảnh hội nhập, việc nhập khẩu các giống gia cầm cao sản diễn ra phổ biến; tuy nhiên, các giống nhập ngoại thường có sức chống chịu bệnh tật kém khi gặp điều kiện thời tiết bất lợi và một số giống chưa thực sự phù hợp với thị hiếu tiêu dùng nội địa. Thực tế này thúc đẩy yêu cầu phục hồi, bảo tồn và phát triển các giống gia cầm bản địa thích nghi tốt với điều kiện sinh thái từng vùng.
Gà Lông Xước là giống gà bản địa phân bố tại các huyện vùng núi đá cao của tỉnh Hà Giang như Quản Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc và Yên Minh. Giống gà này sở hữu những đặc tính sinh học đặc trưng: toàn bộ lông xước ngược như lông nhím, vóc dáng thon nhỏ, hoạt động nhanh nhẹn, chất lượng thịt thơm ngon và có khả năng chống chịu điều kiện khí hậu núi cao khắc nghiệt. Theo ghi nhận thực tế, khối lượng tối đa của gà có thể đạt 4 - 5 kg và sản lượng trứng đạt khoảng 50 - 60 quả/mái/năm. Ngày 07 tháng 7 năm 2015, Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Giang đã ban hành Nghị quyết số 187/NQ-HĐND thông qua quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Hà Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, đưa giống gà Lông Xước vào danh mục nguồn gen động vật quý hiếm, đặc sản cần tập trung bảo tồn tại chỗ và chuyển chỗ. Trước đó, trong giai đoạn 2005 - 2009, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Mèo Vạc cũng đã bước đầu đánh giá kết quả mô hình bảo tồn giống gà này. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu về thực trạng chăn nuôi, đặc điểm ngoại hình và tính năng sản xuất của gà Lông Xước trên địa bàn tỉnh vẫn chưa được công bố đầy đủ. Khóa luận được thực hiện nhằm cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học ban đầu phục vụ công tác quản lý nguồn gen và định hướng khai thác giống.
Khóa luận xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Điều tra, đánh giá tình hình chăn nuôi, cơ cấu đàn giống, phương thức chăn nuôi, khả năng sản xuất và tình hình dịch bệnh của giống gà Lông Xước đang nuôi giữ tại các địa phương.
- Khảo sát sơ bộ về đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của giống gà Lông Xước nuôi tại các nông hộ.
Đối tượng nghiên cứu là đàn gà Lông Xước nuôi tại các hộ dân trên địa bàn 4 huyện thuộc tỉnh Hà Giang: Đồng Văn, Yên Minh, Quản Bạ và Mèo Vạc. Thời gian thực hiện đề tài diễn ra từ ngày 18/5/2017 đến ngày 18/11/2017.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận xây dựng nội dung dựa trên hệ thống cơ sở khoa học về di truyền học số lượng và sinh lý học gia cầm. Bản chất di truyền của các tính trạng sản xuất (sinh trưởng, sinh sản, khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo) được phân tích qua mô hình kiểu hình:
$$P = G + E = A + D + I + E_g + E_s$$
Trong đó, $P$ là giá trị kiểu hình; $G$ là giá trị kiểu gen cấu thành từ giá trị cộng gộp ($A$), sai lệch trội ($D$) và sai lệch tương tác gen ($I$); $E$ là sai lệch môi trường gồm sai lệch môi trường chung ($E_g$) và sai lệch môi trường riêng ($E_s$). Tác giả kế thừa các quan điểm của Lerner (1938), Khavecman (1972) và Nguyễn Văn Thiện (1995) về hệ số di truyền của sức sống gia cầm ($h^2$ dao động từ 0,13 đến 0,66) cùng sức kháng bệnh ($0,25$). Đồng thời, khóa luận vận dụng lý thuyết bảo tồn nguồn gen động vật của FAO và UNEP (1984) với hai phương thức chính: bảo tồn tại chỗ (in-situ) và bảo tồn ngoại vi (ex-situ).
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và điều tra thực địa bao gồm:
- Phương pháp điều tra xã hội học nông thôn: Sử dụng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) và phỏng vấn trực tiếp ngẫu nhiên nông hộ thông qua bộ phiếu điều tra in sẵn. Tổng số phiếu thực hiện là 216 phiếu, phân bổ đồng đều trên 4 huyện (mỗi huyện chọn 2 xã đại diện). Kết hợp thu thập số liệu thứ cấp từ báo cáo thống kê của các cơ quan quản lý nông nghiệp cấp tỉnh, huyện và xã.
- Phương pháp đánh giá ngoại hình: Khảo sát trực tiếp cá thể về kiểu mào (mào cờ, mào sít, kiểu mào khác); hình dáng mào (răng cưa, hoa hồng, hạt đậu, dâu tây); cấu trúc bộ lông (lông xước ngược, lông mượt, kiểu khác); màu sắc lông (trắng ngà, trắng nâu nhạt, vàng nhạt, đen đỏ/màu mận, lông cánh đen, pha tạp); màu sắc da (trắng, vàng); màu sắc chân (trắng, vàng, chì); màu sắc mỏ (trắng, vàng, đen, đen vàng); màu sắc mắt (vàng cam, nâu, đen, đỏ). Các chỉ tiêu này được theo dõi ở giai đoạn gà con (01 ngày tuổi) và giai đoạn trưởng thành (từ 5 tuần tuổi trở lên).
- Phương pháp đánh giá khả năng sản xuất: Cân khối lượng cá thể định kỳ theo tuần tuổi từ 5 đến 20 tuần tuổi; theo dõi các chỉ tiêu sinh sản gồm tuổi thành thục của gà trống và gà mái, tuổi đẻ trứng đầu, số lứa đẻ/năm, số trứng/lứa, khoảng cách lứa đẻ, thời gian ấp trứng và tỷ lệ nở.
- Phương pháp xử lý số liệu: Toàn bộ dữ liệu thu thập được quản lý và xử lý thống kê sinh học trên phần mềm Microsoft Excel theo phương pháp hướng dẫn của Nguyễn Văn Thiện (1997), xác định các tham số thống kê mô tả gồm giá trị trung bình (Mean) và độ lệch chuẩn (Sd).
Nội dung chính theo từng phần của khóa luận
Phần I: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của việc bảo tồn các giống gia cầm bản địa trong bối cảnh các giống gà công nghiệp nhập ngoại bộc lộ nhiều hạn chế về khả năng kháng bệnh và khả năng thích nghi sinh thái. Nội dung phần này giới thiệu sơ lược về sự phân bố của gà Lông Xước trên cao nguyên đá Hà Giang, căn cứ pháp lý theo Nghị quyết số 187/NQ-HĐND của tỉnh Hà Giang và đề xuất hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể của khóa luận.
Phần II: Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Phần tổng quan hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài:
- Trình bày cơ sở sinh học về ngoại hình, tốc độ mọc lông, cơ chế tích tụ sắc tố melanin và lipocrom tạo nên màu lông, da, mỏ, chân; mối liên hệ giữa cấu tạo mào tích với chức năng sinh dục và sức sản xuất.
- Phân tích cơ sở di truyền của các tính trạng sản xuất và sức sống, khả năng thích nghi của gia cầm trước các điều kiện stress môi trường.
- Đánh giá tổng quan chiến lược bảo tồn nguồn gen vật nuôi của FAO, kinh nghiệm bảo tồn của các tổ chức quốc tế (Rare Breeds Survival Trust, EAAP).
- Điểm luận tình hình nghiên cứu các giống gà nội của Việt Nam như gà Ri, gà Mía, gà Hồ, gà H'Mông (gà Mèo), gà Liên Minh, gà nhiều ngón Phú Thọ; nhận diện tình trạng xói mòn và lai tạp nguồn gen bản địa do phương thức chăn thả tự do thiếu quy hoạch.
Phần III: Đối tượng, nội dung và phương pháp điều tra
Tác giả xác định địa bàn nghiên cứu tại 8 xã thuộc 4 huyện của Hà Giang gồm: xã Cán Tỷ, Đông Hà (huyện Quản Bạ); xã Lao Và Chải, Mậu Duệ (huyện Yên Minh); xã Sà Phìn, Sủng Là (huyện Đồng Văn); xã Pải Lủng, Tả Lủng (huyện Mèo Vạc). Quy định quy trình điều tra 216 phiếu khảo sát, phương pháp đo đạc ngoại hình, quy trình cân theo dõi khối lượng cơ thể từ tuần 5 đến tuần 20, phương pháp ghi nhận các chỉ tiêu sinh sản và phương pháp phân tích thống kê mô tả.
Phần IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Đây là nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn bộ dữ liệu điều tra thực tế:
- Hiện trạng số lượng và cơ cấu đàn: Tổng số đàn điều tra đạt 1.185 con tại 216 hộ gia đình. Tỷ lệ phân bố cao nhất tại xã Sà Phìn (202 con, chiếm 17,05%) và thấp nhất tại xã Tả Lủng (119 con, chiếm 10,04%). Quy mô chăn nuôi bình quân đạt 5,48 con/hộ và 1,28 con/nhân khẩu. Cơ cấu tính biệt gồm: gà con dưới 4 tuần tuổi chiếm 9,00% (106 con); gà trống chiếm 26,49% (310 con); gà mái chiếm 64,52% (769 con).
- Đặc điểm ngoại hình giai đoạn 01 ngày tuổi (n=35): 100% gà con có thân hình nhỏ gọn, nhanh nhẹn, bộ lông bông xù kém mượt; 62,86% lông màu vàng tơ có sọc nâu dọc lưng; 25,71% lông màu nâu; 11,43% lông màu đen pha vàng. Mỏ có màu hồng chiếm 85,71%. Chân có màu hồng chiếm 65,71%, màu vàng chiếm 31,43% và màu đen chiếm 4,86%.
- Đặc điểm ngoại hình giai đoạn từ 5 tuần tuổi trở lên:
- Bộ lông: 100% cá thể điều tra (310 gà trống và 769 gà mái) mang đặc điểm lông xước ngược toàn thân. Màu lông gà trống chủ yếu là màu mận (96,02%); gà mái chủ yếu là màu lá chuối khô (94,02%).
- Mào: Gà trống chủ yếu mang mào cờ (96,02%) với hình dáng răng cưa (96,55%). Gà mái chủ yếu mang mào sít (97,47%) với hình dáng răng cưa (98,28%).
- Da, chân, mỏ, mắt: Tỷ lệ da trắng chiếm ưu thế tuyệt đối (98,41% ở gà trống và 93,53% ở gà mái). Màu chân chì chiếm tỷ lệ cao nhất (97,42% ở gà trống và 92,20% ở gà mái). Màu mỏ đen vàng chiếm đa số (96,44% ở gà trống và 97,66% ở gà mái). Màu mắt vàng cam chiếm 94,69% ở gà trống và 95,65% ở gà mái.
- Khả năng sinh trưởng: Khối lượng cơ thể ở tuần thứ 5 giữa trống và mái tương đương nhau (trống đạt 268,00 g/con; mái đạt 269,50 g/con). Sự phân hóa thể trọng rõ rệt dần theo tuổi: đến tuần thứ 10, trống đạt 1099,12 g so với mái đạt 809,98 g; đến tuần thứ 17, trống đạt 1649,86 g so với mái đạt 1374,74 g; đến tuần thứ 20, thể trọng trống đạt 1794,00 g và mái đạt 1558,77 g. Tác giả chỉ ra rằng tốc độ tích lũy khối lượng của gà Lông Xước chậm hơn một số giống gà nội khác do cấu trúc lông xước làm tiêu hao nhiều năng lượng duy trì thân nhiệt.
- Khả năng sinh sản: Tuổi thành thục của gà trống là 138,57 ± 1,91 ngày; gà mái là 141,09 ± 3,35 ngày; tuổi đẻ trứng đầu là 142,64 ± 3,02 ngày. Gà đẻ trung bình 6,15 ± 0,94 lứa/năm; số lượng trứng đạt 15,42 ± 1,12 quả/lứa; khoảng cách giữa các lứa đẻ là 88,26 ± 6,77 ngày; thời gian ấp trứng trung bình 21,73 ± 0,71 ngày; tỷ lệ nở đạt 76,50 ± 9,43%.
Phần V: Kết luận và đề nghị
Khóa luận tổng kết các chỉ số sinh học đặc trưng của giống gà Lông Xước, khẳng định đây là nguồn gen bản địa có giá trị thích nghi cao nhưng đang được nuôi phân tán với quy mô nhỏ. Tác giả kiến nghị chính quyền địa phương cần tạo điều kiện chuyển giao kỹ thuật chăn nuôi, phòng trừ dịch bệnh, xây dựng mô hình bảo tồn và tuyển chọn đàn hạt nhân thuần chủng.
Kết quả và đóng góp của nghiên cứu
Khóa luận đã định lượng hóa hiện trạng đàn gà Lông Xước tại 4 huyện vùng cao tỉnh Hà Giang thông qua các bảng số liệu chi tiết.
| Địa bàn khảo sát |
Số hộ điều tra (hộ) |
Tổng số gà (con) |
Tỷ lệ cơ cấu đàn (%) |
Bình quân gà/hộ (con) |
Bình quân gà/khẩu (con) |
| Huyện Quản Bạ (Cán Tỷ, Đông Hà) |
54 |
290 |
24,47 |
5,37 |
1,27 |
| Huyện Yên Minh (Lao Và Chải, Mậu Duệ) |
54 |
303 |
25,57 |
5,61 |
1,38 |
| Huyện Đồng Văn (Sà Phìn, Sủng Là) |
55 |
343 |
28,95 |
6,24 |
1,40 |
| Huyện Mèo Vạc (Pải Lủng, Tả Lủng) |
53 |
249 |
21,01 |
4,70 |
1,05 |
| Tổng số / Bình quân toàn tỉnh |
216 |
1.185 |
100,00 |
5,48 |
1,28 |
Khóa luận làm rõ các chỉ tiêu ngoại hình nhận dạng ổn định của giống gà Lông Xước ở giai đoạn thành thục:
| Chỉ tiêu ngoại hình |
Gà trống ($n = 310$) |
Gà mái ($n = 769$) |
| Cấu trúc lông |
100% lông xước ngược |
100% lông xước ngược |
| Kiểu mào ưu thế |
Mào cờ (96,02%) |
Mào sít (97,47%) |
| Hình dáng mào |
Răng cưa (96,55%) |
Răng cưa (98,28%) |
| Màu sắc lông chính |
Màu mận (96,02%) |
Màu lá chuối khô (94,02%) |
| Màu sắc da |
Da trắng (98,41%) |
Da trắng (93,53%) |
| Màu sắc chân |
Chân chì (97,42%) |
Chân chì (92,20%) |
| Màu sắc mỏ |
Đen vàng (96,44%) |
Đen vàng (97,66%) |
| Màu sắc mắt |
Vàng cam (94,69%) |
Vàng cam (95,65%) |
Các chỉ tiêu sinh trưởng và khả năng sinh sản của giống gà Lông Xước được tổng hợp cụ thể:
| Chỉ tiêu theo dõi |
Đơn vị tính |
Gà trống |
Gà mái / Toàn đàn |
| Khối lượng lúc 5 tuần tuổi |
g/con |
268,00 ± 39,15 |
269,50 ± 13,38 |
| Khối lượng lúc 10 tuần tuổi |
g/con |
1099,12 ± 41,76 |
809,98 ± 13,09 |
| Khối lượng lúc 15 tuần tuổi |
g/con |
1509,42 ± 15,65 |
1290,30 ± 16,34 |
| Khối lượng lúc 20 tuần tuổi |
g/con |
1794,00 ± 7,67 |
1558,77 ± 15,60 |
| Tuổi thành thục sinh dục |
ngày |
138,57 ± 1,91 |
141,09 ± 3,35 |
| Tuổi đẻ trứng đầu |
ngày |
— |
142,64 ± 3,02 |
| Số lứa đẻ trung bình |
lứa/năm |
— |
6,15 ± 0,94 |
| Số trứng trung bình |
quả/lứa |
— |
15,42 ± 1,12 |
| Khoảng cách giữa các lứa đẻ |
ngày |
— |
88,26 ± 6,77 |
| Thời gian ấp trứng |
ngày |
— |
21,73 ± 0,71 |
| Tỷ lệ trứng nở |
% |
— |
76,50 ± 9,43 |
Đóng góp mới của tác giả thể hiện ở việc cung cấp một bộ số liệu thực địa toàn diện và có hệ thống về giống gà Lông Xước tại Hà Giang. Trước khóa luận này, các tư liệu về giống chủ yếu mang tính ghi nhận hiện tượng hoặc nằm rải rác trong các báo cáo hành chính địa phương. Công trình đã xác lập được căn cứ thực nghiệm chứng minh đặc tính lông xước mọc ngược là tính trạng biểu hình cố định (tỷ lệ 100%), đồng thời chỉ ra bộ tiêu chí chọn lọc đàn hạt nhân chuẩn hóa dựa trên các chỉ tiêu ngoại hình ưu thế (mào cờ răng cưa, da trắng, chân chì, mỏ đen vàng, mắt vàng cam, lông màu mận ở con trống và màu lá chuối khô ở con mái).
Tác giả đề xuất các giải pháp kỹ thuật và quản lý bao gồm: hỗ trợ người dân kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng và tiêm phòng thú y; tổ chức bình tuyển, chọn lọc cá thể mang đặc điểm điển hình để xây dựng đàn hạt nhân; ban hành chính sách bảo tồn nguồn gen vật nuôi bản địa nhằm ngăn ngừa tình trạng lai tạp tự do.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
Khóa luận ghi nhận một số hạn chế gắn liền với điều kiện khảo sát thực tế:
- Phạm vi nghiên cứu dừng lại ở mức điều tra mô tả và khảo sát sơ bộ tại các hộ chăn nuôi phân tán, chưa bố trí được các thí nghiệm nuôi dưỡng can thiệp (như kiểm soát khẩu phần thức ăn, xác định mức tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng hay phân tích thân thịt sau giết mổ).
- Tỷ lệ nở của trứng đạt mức 76,50%, được tác giả nhận định là chưa cao do kỹ thuật chọn lọc giống và kỹ thuật ấp nở tự nhiên của các nông hộ vùng cao còn thô sơ.
- Hiện tượng lai tạp trong quần thể chăn thả tự do khiến một số đàn xuất hiện cá thể không mang đầy đủ tính trạng đặc trưng của giống.
Từ những hạn chế trên, hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung:
- Nghiên cứu sâu về cấu trúc di truyền phân tử để xác định chính xác kiểu gen quy định tính trạng lông xước ngược.
- Thực hiện các thí nghiệm nuôi dưỡng chuồng trại bán công nghiệp nhằm xác định tiêu tốn thức ăn, thành phần dinh dưỡng và phẩm chất thịt thương phẩm.
- Xây dựng mô hình nhân thuần đàn hạt nhân và hoàn thiện quy trình thú y phòng bệnh phù hợp với điều kiện sinh thái vùng núi cao.
Giá trị tham khảo của khóa luận
Bản khóa luận là tài liệu học thuật hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y, Bảo tồn đa dạng sinh học và Quản lý nguồn tài nguyên sinh vật.
Các nội dung có giá trị tham khảo ứng dụng cao gồm:
- Hệ thống dữ liệu điều tra số lượng và tính biệt: Cung cấp thông tin nền tảng về mật độ phân bố của giống gà Lông Xước tại 4 huyện vùng cao Hà Giang, phục vụ trực tiếp cho việc lập kế hoạch bảo tồn nguồn gen vật nuôi bản địa cấp tỉnh.
- Tiêu chuẩn nhận diện ngoại hình: Bộ chỉ tiêu chi tiết về mào, màu lông, màu da, màu chân, mỏ và mắt là tài liệu hướng dẫn kỹ thuật phục vụ việc chọn giống, bình tuyển đàn hạt nhân tại các cơ sở chăn nuôi thực nghiệm.
- Các thông số sinh học về sinh trưởng và sinh sản: Là cơ sở định lượng để các nhà nghiên cứu so sánh tính năng sản xuất của gà Lông Xước với các giống gà địa phương khác (như gà Ri, gà H'Mông, gà Mía, gà Hồ).
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ xuất hiện của đặc điểm lông xước ngược trên đàn gà khảo sát là bao nhiêu?
Kết quả khảo sát trên toàn bộ 310 gà trống và 769 gà mái từ 5 tuần tuổi trở lên tại 4 huyện thuộc tỉnh Hà Giang cho thấy 100% cá thể đều mang cấu trúc lông xước mọc ngược toàn thân, không ghi nhận trường hợp nào có lông mượt.
2. Gà Lông Xước thuần thục sinh dục và đẻ quả trứng đầu tiên ở độ tuổi nào?
Thời gian thành thục sinh dục trung bình của gà trống là 138,57 ± 1,91 ngày tuổi và gà mái là 141,09 ± 3,35 ngày tuổi. Tuổi đẻ trứng đầu tiên của gà mái đạt trung bình 142,64 ± 3,02 ngày tuổi.
3. Khối lượng cơ thể của gà Lông Xước ở tuần tuổi thứ 20 đạt bao nhiêu?
Ở thời điểm 20 tuần tuổi, khối lượng cơ thể trung bình của gà trống đạt 1794,00 ± 7,67 g/con và của gà mái đạt 1558,77 ± 15,60 g/con.
4. Quy mô chăn nuôi gà Lông Xước bình quân tại các hộ gia đình ở 4 huyện Hà Giang là bao nhiêu?
Khảo sát 216 hộ chăn nuôi cho thấy quy mô trung bình đạt 5,48 con gà/hộ (dao động từ 4,41 đến 6,73 con/hộ tùy theo xã) và mật độ bình quân đạt 1,28 con gà/nhân khẩu.
5. Tại sao tốc độ sinh trưởng tích lũy của gà Lông Xước lại thấp hơn các giống gà khác nuôi trên cùng địa bàn?
Tác giả lý giải rằng do cấu trúc lông xước ngược đặc thù bao phủ toàn thân, lớp lông không ôm sát cơ thể khiến gia cầm bị thoát nhiệt nhiều hơn, buộc cơ thể phải tiêu tốn nhiều năng lượng cho quá trình điều tiết thân nhiệt, từ đó làm giảm tốc độ tích lũy khối lượng.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lù Thị Thu Thảo đã hoàn thành việc điều tra, đánh giá toàn diện hiện trạng chăn nuôi, đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của giống gà Lông Xước tại 4 huyện vùng cao tỉnh Hà Giang. Kết quả nghiên cứu khẳng định gà Lông Xước là giống gà bản địa có những tính trạng ngoại hình nhận diện rất đặc thù (100% lông xước ngược, chân chì, mỏ đen vàng, mắt vàng cam) cùng khả năng sinh trưởng và sinh sản thích nghi tốt với điều kiện địa phương. Công trình cung cấp hệ thống số liệu khoa học tin cậy, làm cơ sở thực tiễn cho công tác bảo tồn quỹ gen vật nuôi quý hiếm và phục vụ định hướng phát triển chăn nuôi bền vững tại tỉnh Hà Giang.