MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Chăn nuôi gia cầm ở nước ta có truyền thống lâu đời, đã và đang góp phần quan trọng cải thiện kinh kế của hàng triệu nông dân. Hàng năm, ngành chăn nuôi gia cầm cung cấp 18 - 20% tổng khối lượng thịt các loại, đứng thứ hai sau thịt lợn (thịt lợn chiếm vị trí số 1 với tỷ lệ 75 - 76%), bên cạnh đó chăn nuôi gia cầm còn cung cấp nguồn thực phẩm có dinh dưỡng khá hoàn chỉnh đó là trứng gia cầm. Vốn có nhiều truyền thống trong chăn nuôi, song hành với tiến độ hội nhập của cả nước, ngành chăn nuôi gia cầm nói chung và chăn nuôi gà nói riêng ở Việt Nam ngày càng phát triển.
Tuy nhiên, với tình hình chăn nuôi diễn biến phức tạp, dịch bệnh nhiều, do yếu tố thích nghi nên một số giống gà nhập ngoại thường có sức chống chịu bệnh tật kém và một số chưa phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. Trong điều kiện đó một số giống gia cầm địa phương đang được chú trọng khôi phục và phát triển nhằm đáp ứng những yêu cầu đó. Gà Lông Xước là giống gà bản địa mới được phát hiện ở một số huyện như: Quản Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh - tỉnh Hà Giang. Giống gà này có đặc điểm: lông xước ngược toàn thân như lông nhím; hình dáng thon, nhỏ, nhanh nhen, chắc khỏe.
Chúng có chất lượng thịt ngon, có khả năng chịu đựng thời tiết khắc nghiệt ở vùng núi cao của tỉnh Hà Giang. Trọng lượng lớn nhất của gà Lông Xước là 4 - 5kg và mỗi năm một gà mái có thể đẻ 50 - 60 quả trứng. Tuy nhiên, cho đến nay ở Việt Nam vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu về giống gà này và chưa có công bố cụ thể về thực trạng của giống gà này ở tỉnh Hà Giang. Ngày 07 tháng 7 năm 2015, Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Giang đã có Nghị quyết số 187/NQ-HĐND về việc thông qua quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Hà Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, trong đó có tập trung bảo tồn tại chỗ và chuyển chỗ các nguồn gen 2 động vật quý hiếm, gen động vật đặc sản; gà Lông Xước nằm trong danh mục này.
Trong báo cáo kết quả thực hiện công tác bảo tồn quỹ gen vật nuôi ở Việt Nam giai đoạn 2005 - 2009 của tác giả Phạm Văn Vinh - Phòng NN&PTNT huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang đã đánh giá kết quả thực hiện mô hình bảo tồn giống gà Lông Xước tại Huyện Mèo Vạc - Hà Giang. Xuất phát từ thực tế trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Điều tra bổ sung, đánh giá hiện trạng tình hình chăn nuôi gà Lông Xước tại tỉnh Hà Giang” để bước đầu có cơ sở khoa học đánh giá về hiện trạng tình hình chăn nuôi gà Lông Xước của người dân tại tỉnh Hà Giang và có cơ sở để thực hiện các nghiên cứu về khai thác, phát triển giống gà này. Mục tiêu của đề tài - Điều tra đánh giá được tình hình chăn nuôi, cơ cấu đàn giống, phương thức chăn nuôi, khả năng sản xuất, tình hình dịch bệnh của giống gà Lông Xước, hiện đang được nuôi giữ tại các địa phương. - Khảo sát sơ bộ về đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của gà Lông Xước đang nuôi giữ tại các nông hộ.
3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Cơ sở nghiên cứu các đặc điểm ngoại hình và kích thước các chiều đo của gia cầm * Ngoại hình Các đặc điểm về ngoại hình của gia cầm là những biểu hiện đặc trưng cho phẩm giống, thể hiện khuynh hướng sản xuất và giá trị kinh tế của vật nuôi. Ngoại hình là một tính trạng chất lượng của gia cầm.
Đó là những đặc điểm bên ngoài của gia cầm có thể quan sát được như: màu lông, da, hình dáng, mào tích, … Các đặc điểm về ngoại hình của gia cầm đặc trưng cho giống, thể hiện khuynh hướng sản xuất và giá trị kinh tế của vật nuôi. Tính trạng ngoại hình - Sự phát triển của bộ lông: Lông là dẫn xuất của da, thể hiện đặc điểm di truyền của giống và có ý nghĩa quan trọng trong việc phân loại. Gà con mới nở có bộ lông tơ che phủ, trong quá trình phát triển lông tơ sẽ dần dần được thay thế bằng bộ lông cố định. - Tốc độ mọc lông: là sự biểu hiện khả năng mọc lông sớm hay muộn, có liên quan chặt chẽ tới tốc độ sinh trưởng của gia cầm.
(1978) [1]), những gia cầm lớn nhanh thì có tốc độ mọc lông nhanh. (1978) [35], những alen quy định tốc độ mọc lông nhanh phù hợp với khả năng tăng trọng cao. và cs (1970) [31], cho biết gà mái mọc lông đều hơn gà trống trong cùng một dòng và ảnh hưởng của hormone có tác dụng ngược với gen liên kết giới tính quy định tốc độ mọc lông. - Màu lông: là do một số gen quy định phụ thuộc vào sắc tố chứa trong bào tương của tế bào.
Đặng Hữu Lanh và cs (1999) [14] cho biết, màu sắc 4 lông, da là mã hiệu của giống, đó là những tín hiệu để nhận dạng con giống. Màu sắc lông da là những chỉ tiêu trong chọn lọc gia cầm. Các giống gia cầm khác nhau có bộ lông khác nhau, sự khác nhau về màu sắc lông là do mức độ oxy hóa các chất tiền sắc tố melanin (Melanogene) trong các tế bào lông, nếu các chất sắc tố là nhóm lipocrom (Carotinoit) thì lông có nâu đỏ, trắng pha nâu. Nếu không có chất sắc tố thì lông có màu nâu.
- Đầu: Cấu tạo của xương đầu được coi như có độ tin cậy cao nhất trong việc đánh giá đầu gia cầm. Da mặt và các phần phụ của đầu cho phép rút ra kết luận về sự phát triển của mô liên kết và mô đỡ. Gà trống có ngoại hình đầu giống gà mái sẽ có tính sinh dục kém, gà mái có ngoại hình đầu giống gà trống sẽ không cho năng suất cao, trứng thường có tỷ lệ phôi cao. - Mỏ và chân: + Mỏ: Là sản phẩm của da, được tạo thành từ lớp sừng (Stratumcorneum).
Mỏ phải ngắn và chắc chắn. Gà có mỏ dài và mảnh thì khả năng sản xuất không cao. Màu sắc của mỏ có nhiều loại: Vàng, đỏ, đen, hồng. Màu của mỏ thường phù hợp với màu của chân.
Những giống gà da vàng thì mỏ cũng vàng, tuy nhiên ở gà mái thì màu sắc này có thể bị nhạt đi vào cuối thời kỳ đẻ trứng. + Chân: Những gà giống tốt phải có chân chắc chắn nhưng không được thô. Chân gia cầm có 4 ngón, rất ít 5 ngón (Trần Kiên và Trần Hồng Việt, 1998) [13]. Chân thường có vảy sừng bao kín, cơ tiêu giảm chỉ còn gân và da.
Gà có chân hình chữ bát, các ngón chân cong, xương khuyết tật không nên sử dụng làm giống. Chân gà thường có vuốt và cựa, cựa có vai trò cạnh tranh và đấu tranh sinh tồn của loài. Gà có chân cao thường cho thịt thấp và phát dục chậm. - Mào và tích là đặc điểm sinh dục phụ thứ cấp nên có thể phân biệt trống mái.
Mào rất đa dạng về hình dạng, kích thước, màu sắc, có thể đặc trưng 5 cho từng giống gà. Mào là dẫn xuất của da. Dựa vào hình dạng, người ta phân ra các loại mào: mào đơn (mào cờ), mào hạt đậu, mào hoa hồng, mào nụ (mào sít)… (Nguyễn Mạnh Hùng và cs, 1994) [11]. Ở gà trống sự phát triển mào và tích phản ánh sự thành thục sinh dục sớm hay muộn, còn ở gà mái nếu mào, tích phát triển không rõ ràng là dấu hiệu có ảnh hưởng xấu tới khả năng sinh sản.
* Hình dáng và kích thước các chiều đo của cơ thể: Tùy mục đích sử dụng, các giống gia cầm được chia làm 3 loại thể hình: Hướng trứng, hướng thịt và kiêm dụng. Gà hướng thịt thường có hình dáng cân đối, ngực sâu, chân chắc, tiết diện hình vuông hay chữ nhật. Gà hướng trứng lại có kết cấu thanh gọn, tiết diện hình tam giác. Theo tài liệu của Chamber J.
(1990) [29] thì kích thước các chiều đo có tương quan với sức sản xuất của gà Broiler. Tác giả cũng cho biết độ lớn góc ngực, dài chân, dài đùi và đường kính ống chân có tương quan với khối lượng cơ thể. và Cs (1978) [35] cho biết tương quan giữa độ lớn góc ngực và khối lượng cơ thể từ 0,4 - 0,68 trung bình là 0,42. Cơ sở khoa học về sức sống và khả năng kháng bệnh Sức sống và khả năng kháng bệnh ở gia cầm là những tính trạng di truyền đặc trưng cho từng loài, giống, dòng, cá thể và được xác định bởi khả năng chống chịu những ảnh hưởng của dịch bệnh và ngoại cảnh môi trường, nó là yếu tố quan trọng giúp chăn nuôi đạt hiệu quả kinh tế cao.
Trong cùng một giống, sức sống của mỗi dòng khác nhau là khác nhau, các cá thể khác nhau thì khác nhau nhưng vẫn nằm trong giới hạn của phẩm giống. Theo Lê Viết Ly (1995) [18] cho biết, động vật thích nghi tốt thể hiện ở sự giảm khối lượng cơ thể thấp nhất khi bị stress, có sức sinh sản tốt, sức kháng bệnh cao, sống lâu và tỷ lệ chết thấp. Khavecman (1972) [12] cho biết, sức sống được thể hiện ở thể chất và được xác định bởi tính di truyền, có thể chống lại những ảnh hưởng bất lợi của 6 môi trường, cũng như ảnh hưởng khác của dịch bệnh. Sự giảm sức sống ở giai đoạn hậu phôi có thể do tác động của các gen nửa gây chết, nhưng chủ yếu là do tác động của môi trường (Brandsch H.
Sức sống của vật nuôi được xác định thông qua khả năng chống đỡ bệnh tật, khả năng thích nghi với điều kiện ngoại cảnh. Trong chăn nuôi người ta thường lấy tỷ lệ nuôi sống để đánh giá sức sống của vật nuôi trong giai đoạn khảo nghiệm, như giai đoạn nuôi từ sơ sinh đến khi giết mổ hoặc loại thải. (1990) [30] khi nghiên cứu về sức sống của gia cầm cho biết: sức sống được thể hện ở thể chất và được xác định trước hết bởi khả năng có tính di truyền ở cơ thể động vật chống lại những ảnh hưởng bất lợi của môi trường cũng như ảnh hưởng khác của dịch bệnh. Tỷ lệ nuôi sống phụ thuộc rất lớn vào yếu tố dinh dưỡng, giống, kỹ thuật, chăm sóc nuôi dưỡng, thời tiết khí hậu, mùa vụ,… Ngoài các yếu tố trên thì vấn đề nhiễm bệnh của gia cầm cũng là yếu tố cơ bản dẫn đến thất bại trong chăn nuôi.