CHƯƠNG I: CƠ SO LY LUẬN 1. Bản đề và bản đồ giáo khoa 1. Bản đồ học: Trong suốt quá trình phát triển của khoa học bản đỏ, đã có những quan niệm khác nhau về ban chất và nhiệm vụ của bản đồ học, vi thé nhiều định nghĩa vé khoa học bản dé và về bản đồ còn chưa hoàn toàn thống nhất. Tuy vậy, những nội dung cơ bản trong nhiều định nghĩa đó đã rất gần nhau.
Cho đến nay định nghĩa bản đồ được xem như day da, chặt chẽ va được nhiều người thừa nhận đo giáo sư K. Xalisev đưa ra: * Ban đồ học là khoa học về sự phản ánh và nghiên cứu sự phân bố không gian, sự phối hợp và môi liên kết nhau của các hiện tượng tự nhiên va xã hội ( va cả những thay đổi của chúng theo thời gian) bằng các mô hình ki hiệu hình tượng đặc biệt - biểu hiện bản 46”. Trong đó phổ biến nhất 14 bản đỗ địa li - bản đỏ các đối tượng và hiện tượng của Trái Đất. Bản đồ địa lí Bản đồ địa lí là hình ảnh thu nhỏ một bộ phận hoặc toàn bộ bẻ mat Trái Dat trên mặt phẳng như ban đồ thé giới, bản đổ châu lục, bản đồ quốc gia.nhưng nó phải được xây dựng theo những quy tắc toán học nhất định và có nhiệm vụ trình bảy một cách khoa học tinh trạng, sự phân bố, sự liên hệ và cả sự phát triển của các hiện tượng tự nhiên và kinh tế xã hội.
Bản đồ là phương tiện để nhin tổng quát các hiện tượng địa lí va so sánh các hiện tượng đó trong không gian. Bản dé giáo khoa Ban đồ giáo khoa là những bản đồ được xây đựng nhằm mục đích phục vụ cho việc dạy và học ở các trường theo chương trình đã quy định. Bản đồ giáo khoa là biểu hiện thu nhỏ của mặt đất lên mặt phẳng, theo một cơ sở toán học nhất định, bằng phương tiện đổ họa (ngôn ngữ bản đồ) để phản ánh có hệ thống những dấu hiệu cơ bản, đặc trưng nhất vả điển hình nhất của môi trường địa lí; thể hiện sự phân bế trang thái và mdi liên hệ lẫn nhau của khách thé tương Ung với mục đích, nội dung và phương pháp của môn học phù hợp với trình độ phát triển trí óc của lửa tuổi. Cũng như những bản đỏ khác, bản 46 giáo khoa có nhiều loại hình, mỗi thể loại mang một chức năng riêng với những đặc điểm riêng nhằm mục đích riêng để thỏa mãn những nhu cdu khác nhau trong quá trinh giảng day va học tập của thầy vả trỏ.2 Phân loại Bản 46 giáo khoa địa lí rit phong phú va đa dang ca vẻ không gian, nội dung, phương pháp phản ánh lẫn hình thức sử dung.
Tuy nhiên ở dang nao thi các sản phẩm bản đô giáo khoa cũng đều là những phương tiện nhận thức. nghiên cứu thực tế khách quan, trước hết là nhận thức quy luật phân bố va các môi liên hệ lẫn nhau của các đối tượng vả hiện tượng trong không gian. Các loại tải liệu bản đồ giáo khoa gồm: Bản đồ giáo khoa treo tường: là đồ dùng day học chính của các bài học địa lí để cả lớp cùng quan sát, cùng bàn luận các chủ dé với giáo viên. Ban 46 giáo khoa treo tường làm cho bài giảng trực quan, sinh động, giúp học sinh tiếp thu kiến thức dé dang.
Thêm nữa nó còn giúp giáo viên nêu van đẻ, kiểm tra, cũng cỗ kiến thức cho học sinh.Kich thước của bản đổ giáo khoa treo tường phải đảm bảo để nội dung chính được thấy rõ ở khoảng cách xa, dé phán biệt và nôi lên so với các nội dung phụ. Nói chung bản đồ treo tường có khả năng biểu hiện rất phong phú vẻ nội dung cũng như phạm vi lãnh thé. Atlat giáo khoa địa lí: là một tập hợp nhiều bản đỏ (nên còn gọi là tập đồ) có một cơ cấu chặt chẽ, cấu tao theo những mục tiêu định trước. Atlat là một bộ sưu tập có hệ thống hay là một tác phẩm về địa lí học gồm nhiều bản đồ được sắp xếp theo trình tự biện chứng, theo môi quan hệ hữu cơ vả bê sung cho nhau.
Atlat giáo khoa cũng là công cụ dé học sinh học tập ở lớp và ở nhà. Nội dung của Atlat giáo khoa đa dang gồm những bản dé, biểu đồ, tranh ảnh minh họa.Cỏ tập đỏ biểu hiện day đủ, chí tiết nội dung, các đối tượng địa li và cũng có tập đỏ chỉ biểu hiện những đường nét cơ bản và không có ghi chú, thuyết minh, những tập như vậy là những tập đỗ câm dùng cho học sinh theo dai bài giảng trên lớp, điền theo Thay những đối tượng địa lí được trình bảy, ngoài ra còn dùng để học sinh học bài, chuẩn bị bài ở nhà, kiểm tra. Các bản đồ trong sách giáo khoa: nhiều người cho rằng bản dé trong sách giáo khoa chỉ có tính minh họa cho bài viết. Thực tế trong mỗi quyển sách đều có kênh hình và kênh chữ.
Kênh hình có khi chỉ cỏ tác dụng minh họa cho kênh chữ song cũng có khi bổ sung những nội dung ma phan kênh chữ không thé trình bảy hết được. Môhình địa lí: tất cả những gì biểu thị toàn bộ bề mặt Trái Đất hay một phan của Trái Đất đưới dạng thu nhỏ nhưng giữ nguyên hình dang thuc, không thông qua một biện pháp trung gian dé thé hiện thì được gọi là mô hình địa li. Chẳng hạn như: qua địa cẩu. sa ban, mô hình thể hiện từng hiện tượng trong địa lí (núi lửa, băng ha.
Các loại tài liệu giáo khoa khác: gdm các loại bản đồ, sơ đồ khác nhau nhằm phục vụ việc kiểm tra bai, làm bài tập, rèn luyện kỹ năng biên vẽ và sử dụng ban đồ, luyện trí nhớ, luyện cách tìm đối tượng theo tọa 46.3 Tính chất của bản đồ giáo khoa địa lí Ngoai tinh chất chung cơ bản của một bản dé địa li: cơ sở toán học của bản đỗ, hệ thong ký hiệu ban đồ, sự tông quát hóa nội dung biếu hiện thì bản đổ giáo khoa còn có những tính chất riêng để xác định mục đích sử dụng của nó. Với chức năng là ,một nguồn tư liệu khoa học độc lập, một cuốn sách giáo khoa thứ hai nên tính chat đầu tiên của bản đổ giáo khoa là tính khoa học. Tinh khoa học được biểu thị ở độ chính xác tương ứng về mặt địa lí giữa bản đồ và thực dja, độ chính xác vẻ mặt toán học của cơ sở toán học bản dé va sự phù hợp giữa đặc điểm của hiện tượng được biểu hiện với nội dung của phương pháp biếu hiện bản đô. Tính khoa học của mỗi bản đồ còn được xác định bang lượng thông tin thích hợp.
Nhìn chung lượng thông tin trên mỗi bản đổ càng nhiều thi giá trị sử dung cảng cao, nhưng bên cạnh đó lượng thông tin của bản đồ còn tùy thuộc vào mục dich sử dụng, nội dung va tỉ lệ bản đồ. Sử dụng bản đô phải phù hợp với chương trình giảng dạy. Tuy nhiên ngoải việc trang bị cho học sinh kiến thức khoa học của bộ môn, giáo viên còn có nhiệm vụ đóng góp phẫn mình vào việc giáo dục và đảo tạo con người mới, những kiến thức học sinh nhận được phải trên quan điểm biện chứng của chủ nghĩa duy vật, đây cũng là một yêu cầu của tính khoa học. Trên ban dé cần có những tiền đề để qua đó hình thành cho học sinh thế giới quan duy vật và nhân sinh quan xã hội chủ nghĩa.
Tính chất thứ hai là tính trực quan. Tính chất nảy mâu thuần với tính khoa học nhưng nó lại là tính chất đặc trưng của bản đỗ giáo khoa. Tính trực quan của bản đồ được đánh giá bằng thời gian dùng để nhận biết và hiểu nôi dung bản đò. Những dấu hiệu trên bản đồ cần có màu sắc và hình dạng gần giống với thực tế được biểu thị trực quan thường vượt ra ngoài điều kiện cho phép của bản đồ bằng các kí hiệu phi tỷ lệ.
Trong một bài giảng nếu ding bản đồ như một dụng cụ trực quan thì bài giảng sẽ dễ hiểu hơn, có sức hấp dẫn đối với học sinh. Tuy nhiên đứng trên quan điểm toản diện của phương pháp giảng dạy địa lí thì chúng ta cũng phải thấy rằng không nên quá lạm dụng tính trực quan của bản 46. Nếu như mọi nội dung đều cỗ gắng thẻ hiện trực quan, dé hiểu thi lại gây tinh trạng hạn chế tư duy trừu tượng của học sinh làm cho học sinh lười suy nghĩ, do đó khó có điều kiện phát huy trí lực cho các em. Nói đến bản đỗ giáo khoa, chúng ta không thé không nhắc đến một tinh chất mang tính đặc thù - tinh sư phạm.
Một bản đồ dùng cho việc day học, đương nhiên phải mang trong đó tính sư phạm. Tinh chất này được biểu hiện trên nhiều mat nhưng nói chung đều thống nhất ở chỗ nội dung bản đồ phải sat va phù hợp với nội dung sách giáo khoa, phù hợp với chương trình dạy và học trong nhà trường, chính vì vậy cần phải có đầy đủ bản dé phục vụ cho từng bài dạy, thậm chí từng phần trong bài day. Tinh sư phạm còn thé hiện ở nội dung và hình thức bản đồ phai phù hợp với lửa tuổi, khả năng nhận thức của học sinh timg cap học khác nhau. Bản 46 phải có nội dung rõ rang, dé xem, dé nhớ và không nên đi sâu vào chỉ tiết; cần phải cưởng điệu một số nội dung, đổi tượng và cũng không nên đi sâu vào kỹ thuật bản do.
10 Cảng ở lớp dưới nội dung ban dé cảng phải đơn giản, cắn cường điệu những chí tiết quan trọng, phương pháp biểu hiện can sử dụng nhiều ky hiệu tượng trưng, mau sắc hài hóa, rd rang, hap dẫn. Một tính chất nữa của bản đỗ giáo khoa quyết định sự thu hút của học sinh, đó là tính thẩm mỹ, có ý kiến nói rằng: “Ban để học là nghệ thuật, khoa học và công nghệ, thành lập bản đỏ đồng thời với việc nghiên cứu sử dụng bản đô như những tải liệu khoa học hay những tác phẩm nghệ thuật”. Bản đỗ tuy không phải là bức tranh nhưng cần đảm bảo tính thẩm mỹ. Một ban đô đủ có nội dung, phương pháp đây đủ đến mắy nếu không đẹp thi cũng bị hạn chế rất nhiều.
Đối với học sinh phô thông, tính thâm mỹ của bản đồ cảng can được chú ý hơn vi chính nó có tác dụng thu hút, hắp dan, lôi cuốn sự tập trung theo doi của học sinh vào bài học. Tính thẳm mỹ được biểu hiện ở sự lựa chọn vả trình bảy các kí hiệu, chữ viết rõ ràng, màu sắc hai hòa, bé trí cân đôi.