Tổng quan nghiên cứu

Ngành du lịch tỉnh Tây Ninh trong giai đoạn 1995 – 2002 đã ghi nhận những bước chuyển mình mạnh mẽ, đóng vai trò quan trọng vào tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương. Số liệu thống kê thực tế cho thấy lượng khách du lịch đến tỉnh đã tăng trưởng vượt bậc từ khoảng 7.061 lượt người vào năm 1995 lên mức 1,5 triệu lượt người vào năm 2002. Cùng với sự bùng nổ về số lượng du khách, tổng doanh thu du lịch toàn tỉnh tăng từ 75,066 triệu đồng lên 16,5 tỷ đồng trong năm 2002, đạt mức tăng trưởng 27% so với cùng kỳ năm trước.

Mặc dù sở hữu vị trí địa kinh tế chiến lược với diện tích tự nhiên 4.030 km², đường biên giới dài gần 240 km tiếp giáp Vương quốc Campuchia cùng hai cửa khẩu quốc gia Mộc Bài và Xa Mát, du lịch Tây Ninh vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng sẵn có. Vấn đề cốt lõi nằm ở việc công tác quy hoạch đầu tư còn dàn trải, sản phẩm du lịch đơn điệu, cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ và chất lượng nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế.

Mục tiêu nghiên cứu tập trung đánh giá hiện trạng tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn, phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh lữ hành – lưu trú giai đoạn 1995 – 2002, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp và định hướng phát triển không gian du lịch bền vững đến năm 2010. Công trình mang ý nghĩa học thuật và thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học để nâng cao tỷ trọng ngành dịch vụ trong cơ cấu kinh tế tỉnh, đồng thời định vị Tây Ninh trở thành điểm đến hấp dẫn trên hành lang kinh tế Đông Tây và tuyến du lịch xuyên Á.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng của lý thuyết hệ thống lãnh thổ nghỉ ngơi du lịch và lý thuyết phát triển du lịch bền vững. Hệ thống lãnh thổ du lịch được nhìn nhận như một cấu trúc không gian hoàn chỉnh, bao gồm 4 phân hệ tương tác mật thiết: phân hệ du khách, phân hệ tổng thể tự nhiên – nhân văn, phân hệ công trình kỹ thuật hạ tầng và phân hệ tổ chức quản lý điều hành.

Công trình chuẩn hóa và vận dụng 4 khái niệm cốt lõi: tài nguyên du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch và sức chứa du lịch. Trong đó, hệ thống điểm du lịch được phân thành 4 nhóm chức năng chính gồm: điểm du lịch phụ thuộc nhân tố thiên nhiên, điểm du lịch nhân văn, điểm du lịch gắn với trung tâm kinh tế – chính trị và điểm du lịch dựa trên hạ tầng giao thông vận tải. Quy trình quy hoạch không gian du lịch được thực hiện tuần tự qua 7 bước khoa học từ khảo sát tiền khả thi, xác lập nguyên tắc bảo tồn đến lựa chọn phương án ưu tiên thực thi nhằm cân bằng giữa lợi ích kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái.

Phương pháp nghiên cứu

Cơ sở dữ liệu của nghiên cứu được tổng hợp từ nguồn số liệu thống kê chính thức của Cục Thống kê tỉnh Tây Ninh, Sở Văn hóa Thông tin, Công ty Du lịch Tây Ninh và Tổng cục Du lịch Việt Nam trong chuỗi thời gian 1995 – 2002. Cỡ mẫu khảo sát thực địa bao gồm 200 phiếu điều tra xã hội học đối với du khách và 15 cán bộ quản lý chuyên trách tại các trọng điểm du lịch như Quần thể Danh thắng Núi Bà Đen, Tòa Thánh Tây Ninh và Khu Di tích Căn cứ Trung ương Cục Miền Nam.

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng kết hợp phương pháp quan sát thực địa. Lý do lựa chọn cách tiếp cận này nhằm đảm bảo tính đại diện cao cho các luồng khách nội địa lẫn quốc tế, đồng thời phản ánh khách quan mức độ thỏa dụng của du khách đối với chất lượng dịch vụ. Các dữ liệu thu thập được xử lý thông qua phương pháp so sánh thống kê kinh tế, phương pháp tổng hợp lãnh thổ và phương pháp bản đồ học để trực quan hóa sự phân bố không gian của các tuyến điểm du lịch trên địa bàn 9 huyện, thị xã. Toàn bộ quá trình nghiên cứu và xử lý thực địa được hoàn thành trong giai đoạn 1999 – 2003.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, lượng khách du lịch đến Tây Ninh tăng trưởng với tốc độ ấn tượng nhưng có sự tập trung cục bộ rất cao về mặt không gian. Trong tổng số 1,5 triệu lượt khách đến tỉnh năm 2002, riêng Khu Di tích Lịch sử Văn hóa Núi Bà Đen đã thu hút 1,2 triệu lượt khách, chiếm đến 80% tổng dung lượng thị trường và tăng gấp 2 lần so với năm 1997. Lượng khách quốc tế lưu trú đạt 1.749 lượt vào năm 2001 và tăng lên 2.167 ngày khách vào năm 2002, chủ yếu đến từ các thị trường Trung Quốc, Đài Loan, Hoa Kỳ và một số quốc gia Tây Âu.

Thứ hai, vốn đầu tư vào cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch có bước đột phá mạnh mẽ trong giai đoạn 1998 – 2002 với 46 dự án có tổng kinh phí gần 70 tỷ đồng. Nổi bật nhất là hai dự án trọng điểm tại Khu di tích Núi Bà Đen gồm hệ thống xe điện cáp treo đầu tiên tại Việt Nam và công trình máng trượt mùa hè với tổng số vốn đầu tư trên 55 tỷ đồng. Riêng trong hai năm 2001 – 2002, tỉnh đã giải ngân 9,026 tỷ đồng cho cơ sở hạ tầng giao thông và 500 triệu đồng cho cơ sở lưu trú du lịch.

Thứ ba, nguồn tài nguyên du lịch văn hóa – lịch sử vô cùng phong phú nhưng mức độ thương mại hóa dịch vụ còn rất thấp. Toàn tỉnh có 19 di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng cấp quốc gia, trong đó có 11 di tích lịch sử cách mạng như Căn cứ Trung ương Cục Miền Nam, Di tích Tua Hai, Địa đạo An Thới và Căn cứ Bời Lời. Tuy nhiên, doanh thu từ các di tích này chỉ đóng góp tỷ trọng nhỏ trong tổng thu 16,5 tỷ đồng toàn ngành năm 2002.

Thứ tư, hệ thống cơ sở lưu trú và chất lượng nguồn nhân lực là điểm nghẽn nghiêm trọng kìm hãm sự phát triển. Toàn tỉnh chỉ có 1 khách sạn đạt chuẩn 2 sao là Khách sạn Hòa Bình với quy mô 155 phòng và 1 khách sạn đạt chuẩn 1 sao là Khách sạn Anh Đào. Lực lượng lao động trực tiếp trong ngành du lịch chỉ có 167 người, trong đó cán bộ có trình độ đại học chuyên ngành chiếm tỷ lệ rất thấp, phần lớn nhân lực phục vụ chưa qua đào tạo bài bản về nghiệp vụ lữ hành và ngoại ngữ.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh rõ nét sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Tây Ninh qua các mốc thời gian từ 1995 đến 2001. Khi biểu diễn dữ liệu cơ cấu GDP qua biểu đồ tròn, khu vực nông lâm thủy sản giảm dần tỷ trọng từ 52,18% năm 1996 xuống 41,65% năm 2001, trong khi khu vực công nghiệp – xây dựng và dịch vụ có xu hướng mở rộng bền vững. Biểu đồ cột biểu diễn lượng khách lưu trú và doanh thu du lịch giai đoạn 1995 – 2002 minh chứng cho xu thế tăng trưởng tích cực, tuy nhiên đường biểu diễn doanh thu bình quân trên mỗi lượt khách lại có độ dốc tương đối thấp.

Nguyên nhân căn bản của thực trạng trên là do tính chất mùa vụ sâu sắc của du lịch Tây Ninh. Khách du lịch hành hương dồn dập đổ về vào Hội Xuân Núi Bà trong tháng Giêng âm lịch và Đại lễ Hội Yến Diêu Trì Cung tại Tòa Thánh Cao Đài vào rằm tháng 8, sau đó giảm mạnh vào các tháng còn lại trong năm. Thời gian lưu trú trung bình của du khách chỉ đạt khoảng 1,1 – 1,2 ngày/khách do thiếu các dịch vụ giải trí về đêm và chuỗi cung ứng sản phẩm lưu niệm đặc trưng. So với các trung tâm du lịch lân cận trong vùng Đông Nam Bộ, Tây Ninh vẫn chưa khai thác hết lợi thế của trục hành lang kinh tế Quốc lộ 22B và tuyến đường Xuyên Á qua cửa khẩu Mộc Bài.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cấu trúc không gian và đa dạng hóa sản phẩm du lịch đặc thù. Sở Văn hóa – Thông tin phối hợp cùng Công ty Du lịch Tây Ninh cần thiết lập chuỗi sản phẩm liên hoàn kết hợp giữa du lịch tâm linh Núi Bà Đen – Tòa Thánh Cao Đài, du lịch sinh thái Hồ Dầu Tiếng diện tích 27.000 ha và du lịch về nguồn tại Căn cứ Trung ương Cục Miền Nam. Mục tiêu nâng thời gian lưu trú bình quân của khách từ 1,2 ngày lên 2,5 ngày và gia tăng mức chi tiêu bình quân thêm 35% trong giai đoạn 2004 – 2010.

Thứ hai, hoàn thiện mạng lưới giao thông kết nối và nâng cấp hạ tầng lưu trú. Ủy ban nhân dân tỉnh cùng Sở Giao thông Vận tải cần ưu tiên nguồn vốn hoàn thành nâng cấp Quốc lộ 22B, mở rộng các tuyến tỉnh lộ dẫn vào Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát diện tích 16.754 ha và cụm di tích lịch sử phía Bắc. Về hạ tầng lưu trú, phấn đấu thu hút vốn đầu tư xã hội hóa để nâng tổng số phòng đạt chuẩn du lịch lên 800 – 1.000 phòng vào năm 2010, trong đó có ít nhất 2 khách sạn đạt chuẩn 3 sao.

Thứ ba, khai thác triệt để tiềm năng kinh tế biên mậu gắn với du lịch cửa khẩu. Ban Quản lý Khu kinh tế Cửa khẩu Mộc Bài và Cà Tum cần xây dựng các trung tâm thương mại miễn thuế, đơn giản hóa quy trình thủ tục xuất nhập cảnh nhằm thu hút dòng khách quá cảnh từ Campuchia và Thái Lan. Chỉ tiêu đặt ra là gia tăng lượng khách quốc tế qua cửa khẩu đạt tốc độ tăng trưởng 15% – 20%/năm trong giai đoạn 2005 – 2010.

Thứ tư, chuẩn hóa và nâng cao năng lực đội ngũ nhân lực du lịch. Sở Văn hóa – Thông tin phối hợp với các cơ sở đào tạo chuyên ngành tại Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức các khóa bồi dưỡng nghiệp vụ quản trị lữ hành, buồng phòng và hướng dẫn viên cho toàn bộ 167 nhân sự hiện hữu. Mục tiêu đến năm 2010 có 100% nhân lực trực tiếp được chuẩn hóa chứng chỉ nghề và nâng tỷ lệ nhân lực có trình độ đại học, cao đẳng lên trên 45%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách cấp tỉnh gồm Sở Du lịch, Sở Kế hoạch và Đầu tư cùng Ủy ban nhân dân các huyện thị tại Tây Ninh. Luận văn cung cấp khung dữ liệu thực chứng và cơ sở khoa học xác đáng để xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội địa phương.

Nhóm thứ hai là các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, lưu trú và các nhà đầu tư bất động sản du lịch. Tài liệu mang lại bức tranh chi tiết về dung lượng thị trường, hành vi du khách và tiềm năng các quỹ đất du lịch quanh hồ Dầu Tiếng và quần thể Núi Bà Đen để xây dựng các dự án đầu tư sinh lời.

Nhóm thứ ba là các giảng viên, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành Địa lý du lịch, Quản trị dịch vụ du lịch và Kinh tế phát triển. Luận văn đóng vai trò là một case study điển hình về phương pháp phân tích tổ chức lãnh thổ du lịch cấp tỉnh.

Nhóm thứ tư là các nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa và bảo tồn di sản. Công trình hệ thống hóa chi tiết 19 di tích cấp quốc gia và các giá trị văn hóa phi vật thể độc bản như Đạo Cao Đài, giúp ích cho công tác bảo tồn gắn với phát triển du lịch bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn đóng góp mô hình phát triển không gian du lịch nào cho Tây Ninh?

Nghiên cứu đề xuất mô hình phân vùng du lịch 3 cụm trọng điểm gắn với tuyến hành lang Quốc lộ 22B và đường Xuyên Á. Cụm trung tâm gồm Thị xã Tây Ninh – Núi Bà Đen – Tòa Thánh; Cụm phía Bắc chuyên sâu về nguồn tại Căn cứ Trung ương Cục và sinh thái Lò Gò – Xa Mát; Cụm phía Đông Nam khai thác cảnh quan Hồ Dầu Tiếng và di tích Trảng Bàng.

Đâu là tài nguyên du lịch giữ vai trò hạt nhân thu hút khách của tỉnh?

Quần thể Di tích Lịch sử Văn hóa Danh thắng Núi Bà Đen cao 986m là hạt nhân du lịch số một của tỉnh. Địa danh này chiếm trên 80% lượng khách toàn tỉnh với 1,2 triệu lượt vào năm 2002 nhờ sự kết hợp hài hòa giữa cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, hệ thống chùa hang tâm linh và hạ tầng cáp treo hiện đại.

Rào cản lớn nhất của du lịch Tây Ninh trong giai đoạn nghiên cứu là gì?

Điểm nghẽn lớn nhất là tính chất mùa vụ sâu sắc và hệ thống cơ sở hạ tầng dịch vụ nghèo nàn. Toàn tỉnh chỉ có duy nhất 1 khách sạn đạt chuẩn 2 sao với 155 phòng và 167 lao động chuyên trách, khiến thời gian lưu trú bình quân của du khách chỉ đạt hơn 1 ngày và mức chi tiêu bình quân rất thấp.

Du lịch về nguồn tại Tây Ninh có những tiềm năng đặc biệt nào?

Tây Ninh sở hữu 11 di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia tiêu biểu như Căn cứ Trung ương Cục Miền Nam quy mô 70 ha, Căn cứ X40 Đồng Rùm, Địa đạo An Thới và Chiến thắng Tua Hai. Đây là kho tàng di sản vô giá để tổ chức các tour giáo dục truyền thống và tri ân chiến trường xưa.

Công trình hạ tầng nào tạo bước ngoặt phát triển cho du lịch Tây Ninh giai đoạn 1998 – 2002?

Dự án hệ thống xe điện cáp treo và máng trượt mùa hè tại Khu di tích Núi Bà Đen với tổng số vốn đầu tư trên 55 tỷ đồng là bước ngoặt lớn. Đây là công trình cáp treo du lịch đầu tiên tại Việt Nam, trực tiếp thúc đẩy lượng du khách đến núi tăng trưởng trên 17% mỗi năm.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện hiện trạng tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn trên địa bàn 9 huyện, thị xã với 19 di tích quốc gia và hồ thủy nông Dầu Tiếng 27.000 ha.
  • Phân tích chi tiết quy mô tăng trưởng du khách đạt mốc 1,5 triệu lượt và tổng doanh thu đạt 16,5 tỷ đồng vào năm 2002.
  • Nhận diện chính xác 4 điểm nghẽn căn bản về tính mùa vụ, sự đơn điệu của sản phẩm, hạ tầng lưu trú hạn chế và chất lượng nhân lực thấp với chỉ 167 lao động.
  • Xác lập cơ sở khoa học vững chắc cho việc phân vùng không gian du lịch 3 cụm động lực gắn với trục kinh tế Xuyên Á và cửa khẩu Mộc Bài.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao nhằm định hướng phát triển du lịch bền vững trở thành ngành kinh tế mũi nhọn đến năm 2010.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã vận dụng thành công lý thuyết hệ thống lãnh thổ du lịch vào thực tiễn một tỉnh biên giới Đông Nam Bộ, cung cấp luận cứ khoa học để quy hoạch tuyến điểm hoàn chỉnh. Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2004 đến 2010, các cấp quản lý cần đẩy mạnh kêu gọi vốn đầu tư ngoài ngân sách và hoàn thiện hạ tầng kết nối cửa khẩu. Độc giả quan tâm và các nhà đầu tư hãy khai thác ngay tài liệu nghiên cứu chuyên sâu này để nắm bắt trọn vẹn bức tranh tiềm năng và cơ hội phát triển du lịch Tây Ninh.