phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn gần ba chương Chương |: Một số vấn để về cơ sở lí luận Chương II: Hiện trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh Chương III: Định hướng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh đến năm 2010. SVTH: Trịnh Thị Huyền Trang: 4 4 “4 a a4 “ “ > .:+>—Yy-*tcex®=V©sv * Luận Văn Tốt Nghiệp — GVHD: TS. Phạm Xuân Hậu CHƯƠNG l: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CO BAN: 1.
Du lịch: Ngày nay, trên phạm vi toàn thế giới, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa — xã hội và hoạt động du lịch đang được phát triển một cách mạnh mẽ, trở thành ngành kinh tế quan trọng nhiều nước trên thế giới. Trong vòng hơn 6 thập kỷ vừa qua kể từ khi thành lập hiệp hội quốc tế các tổ chức du lịch IUƠTO năm 1925 tại Hà Lan khái niệm du lịch luôn được tranh luận. Đầu tiên, du lịch được hiểu là việc đi lại của từng cá nhân, nhóm người. Khi rời khỏi chổ ở của mình trong khoảang thời gian ngắn đến các vùng xung quanh để nghỉ ngơi giải trí hay chữa bệnh.
Ngày nay người ta đã thống nhất tất cả các hoạt động di chuyển trong và ngoài nước đểu mang tính chất du lịch. Nhưng nó không nhất thiết chỉ tạo sự vận động đi chuyển của hàng triệu người mà nó còn xảy ra nhiều hiện tượng kinh tế — xã hội gắn liền với nó. Trong điều kiện phát triển kinh tế du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức - văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên kinh tế và văn hóa. nguyên Tài du lịch: Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hóa lịch sử cùng các thành phan của chúng góp phan khôi phục và phát triển thé lực và trí lực của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ, những tài nguyên này được sử dung cho nhu cẩu trực tiếp và gián tiếp cho việc sản xuất dich vụ.
: SVTH: Trịnh Thị Huyền Trang: 5 Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: TS. Phạm Xuân Hậu 1. Điểm du lịch ~ tuyến du lich: e Điểm du lịch là nơi tập trung một loại tài nguyên nào đó (tự nhiên, văn hóa - lịch sử hoặc kinh tế - xã hội) hay một loại công trình riêng biệt phục vụ du lịch hoặc kết hợp cả hai ở qui mô nhỏ. Vì thế điểm du lịch có thể được phân thành 2 loại: điểm tài nguyên và điểm chức năng.
Tài nguyên du lịch chỉ trở thành điểm du lịch khi chúng mang tính chất kinh doanh du lịch với hệ thống cơ sở vật chất hạ tầng phục vụ du lịch như khách sạn, phương tiện giao thông liên lạc, cơ sở dịch vụ ăn uống và mua sắm các sản phẩm du lịch. Những điều kiện trên có thể đã có sẵn trước khi được coi là điểm du lịch thì được gọi là điểm du lịch tiểm năng. Các điểm du lịch được nối với nhau theo kiểu nào đó gọi là tuyến du lịch. Trong từng trường hợp cụ thể, các tuyến du lịch có thể là tuyến nội vùng (á vùng , tiểu vùng, trung tâm) hay tuyến liên vùng (giữa các vùng) Phân loại các điểm du lịch: Có thể chia du lịch thành 4 nhóm: Nhóm |: Bao gồm các điểm du lịch phụ thuộc vào các nhân tố thiên nhiên.
Nhóm này bao gồm các điểm du lịch: Điểm du lịch rừng núi Điểm du lịch ven biển Điểm du lịch đơn yếu tố Điểm du lịch thiên nhiên tổng hợp Nhóm 2: Các điểm du lịch phụ thuộc vào nhân tố nhân văn: Điểm du lịch cảnh quan thành phố Điểm du lịch liên quan đến phong tục tập quấn Điểm du lịch tôn giáo Điểm du lịch lịch sử cách mạng SVTH: Trịnh Thị Huyền Trang: 6 Luan Văn Tốt Nghiệp GVHD: TS. Pham Xuân Hậu Nhóm 3: Các điểm du lịch dựa trên các nhân tố kính tế = chính trị: Các trung tâm kinh tế du lịch Các trung tâm chính trị quốc gia của vùng Nhóm 4: Các điểm du lịch dựa trên yếu tố giao thông vận tải. Căn cứ để xác định vị trí của các điểm du lịch: e Điều kiện tự nhiên e© Khoảng cách giữa điểm du lịch và vùng thị trường e Khả năng của thị trường e Sự quyết định của chính quyền Các nguyên tắc quy hoạch điểm du lịch: e Nguyên tắc thị trường e Nguyên tắc hiệu quả và lợi ích e Nguyên tắc sắc thái đặc thù e Nguyên tắc bảo vệ e Nguyên tắc toàn cục Quy trình quy hoạch các điểm du lịch: « Bước |: Xác định nhiệm vụ, mục tiêu quy hoạch © Bước 2: Tổ chức diéu tra, nghiên cứu diéu kiện bên trong và bên trong và bên ngoài của điểm du lịch © Bước 3: Xác định nguyên tắc quy hoạch và quy định hệ thống tiêu chí đánh giá. e Bước 4: Lên phương án quy hoạch (nhân lực, tài lực,.) se Bước 5: phân tích, đánh giá các phương án.
e Bước 6: Chọn phương án ưu tiên e Bước 7: Thực thi quy hoạch. SVTH: Trịnh Thị Huyền Trang: 7 Luận Văn Tốt Nghiệp. Phạm Xuân Hậu.4 Khái niệm khách du lic h quốc tế Trong hoạt động du lịch khách du lịch là một yếu tố cơ bản. Theo pháp lệnh du lịch Việt Nam “khách du lich” được hiểu là người di du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hay hành nghề để thu nhâp ở nơi đến.
Khách du lịch bao gồm khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế ở đây chỉ để cập khách du lịch quốc tế. Kể từ đầu thế kỷ XX đến nay, đã có nhiều khái niệm về khách quốc tế được ra đời vào những năm khác nhau. Như khái niệm do ủy ban thống kê của Hội Quốc Liên (tiền thân của Liên Hợp Quốc ngày nay) đưa ra vào năm 1937; hoặc khái niệm bổ sung đẩy đủ hơn của ủy ban thống kê - Liên hợp quốc đưa ra tại đại hội quốc tế và du lịch ở Ý trong năm 1963. Khách du lịch quốc tế là người thăm viếng hoặc lưu lại một hay một số nước khác ngoài nước cư trú của mình với thời gian.
Khái niệm về phát triển du lịch bén vững. Du lịch được coi là ngành công nghiệp lớn nhất trên phạm vi toàn thế giới, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế, bảo tổn các giá trị văn hóa có tính toàn cẩu cũng như có tác động đến mọi khía cạnh về tài nguyên và môi trường. Diéu này đòi hỏi ở du lịch một sự phát triển bén vững. Vậy sự phát triển du lịch bén vững là gì? Đây là khái niệm không nằm ngoài khái niệm chung về sự phát triển bén vững về kinh tế - xã hội nói chung và của một ngành kinh tế nào đó nói riêng.
Điều đó có nghĩa là sự phát triển du lịch bén vững "là sự phát triển đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của thế hệ tương lai” vì vậy trong quá trình phát triển về kinh tế, về tài nguyên môi trường du lịch và về văn hóa xã hội. Bên vững về kinh tế trong trường hợp nay là “sy phát triển ổn định lâu dài” của du lịch, tạo ra nguồn thu đáng kể, góp phần tích cực vào sự tăng trưởng kinh tế của xã hội, đem lại lợi ích cho cộng đồng, đặc biệt là người đán địa phương. SVTH: Trịnh Thị Huyền Trang: 8 Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: TS. Pham Xuân Hậu Bến vững về tài nguyên và môi trường là "việc sử dụng các tài nguyên không vượt quá khả nang tự phục hổi của nó, sao cho đáp ứng được nhu cầu phát triển hiện tại, song không làm suy yếu khả năng tái tạo trong tương lai để đáp ứng được nhu cầu của thế hệ mai sau”.
Sự bên vững về văn hóa là “việc khai thác đáp ứng các nhu cầu phát triển du lịch hiện tại không làm tổn hại, suy thoái các giá trị văn hóa truyền thống để lại cho các thế hệ tiếo theo”. Dan cư và nguồn lao đông: Dân cư là lực lượng sản xuất quan trọng của xã hội cùng với hoạt động lao động dân cư còn có nhu cầu nghỉ ngơi và du lịch. Số lượng người lao động và học sinh tăng lên sẽ tham gia vào các loại hình du lịch khác nhau. Việc nấm vững số dân, thành phan dân tộc, đặc điểm nhân khẩu, cấu trúc sự phân bố và mật độ dân cư có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển du lịch.
Nhu cầu du lịch của con người tùy thuộc vào đặc điểm xã hội nhân khẩu của dan cư. Cần phải nghiên cứu phân tích kết cấu din cư theo nghề nghiệp lứa tuổi để xác định nhu câu nghỉ ngơi du lịch vì đây là nhân tố có tác dụng thúc đẩy du lịch phát triển. Sự phát triển của nền sản xuất xã hội có tim quan trọng hàng đầu làm xuất hiện nhu cầu du lịch và biến nhu cầu của con người thành hiện thực. Không thể nói tới nhu cầu hoặc hoạt động du lịch của xã hội nếu như lực lượng sản xuất xã hội ở trong tình trạng thấp kém.
Sự phát triển của nên sản xuất xã hội dé ra nhu cầu nghỉ ngơi du lịch. Nếu sản xuất xã hội càng phát triển, nhu cầu du lịch của nhân dân càng lớn, chất lượng càng cao. SVTH: Trịnh Thị Huyền Trung: 9 Các nước có nền kinh tế chậm phát triển nhìn chung nhu cầu nghỉ ngơi du lịch còn hạn chế. Ngược lại với những nước phát triển nền sản xuất xã hội phát triển tạo điều kiện ra đời của nhiều nhân tố khác nhau; như nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí, mức sống, mức thu nhập và thời gian rảnh rỗi.
Trong nền sản xuất xã hội nói chung hoạt động của một số ngành như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải có ý nghĩa quan trọng đến phát triển du lịch. « Công nghiệp: Công nghiệp cùng với cách mạng khoa học kĩ thuật tạo nên những tiền để nâng cao thu nhập của người lao động và tăng thêm khả năng đi du lịch. Công nghiệp phát triển sản xuất ra những vật liệu đa dạng để xây dựng các công trình du lịch và hàng tiêu dùng cho khách du lịch. Sự tập trưng đân cư vào các trung tâm công nghiệp, tình trạng căng thẳng và tiếng ổn làm tăng thêm bệnh tật khiến con người tìm chổ nghỉ ngơi và phục hồi sức khỏe ngoài nơi sinh sống.