Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động đầu tư phát triển tại các công ty chế biến thực phẩm. Chương 2: Thực trang đầu tư phát triển tại công ty cô phần sữa TH true Milk chi nhánh Nghệ An giai đoạn 2016 — 2021. Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường hoạt động dau tư phát triển của công ty cô phần sữa TH true Milk chi nhánh Nghệ An. CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HOẠT DONG DAU TƯ PHÁT TRIEN TẠI CÔNG TY CHE BIEN THỰC PHAM 1.
Dau tư phát triển trong doanh nghiệp 1. Khái niệm về đầu tư phát triển Đầu tư phát trién: Đầu tư phát triển là một hoạt động cơ bản của đầu tư, là quá trình sử dụng cũng như phối hợp các nguồn lực trong hiện tại dé tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra sản phẩm và từ đó làm tăng thêm những tài sản vật chất hoặc tài sản trí tuệ mới dé gia tăng năng lực sản xuất dé từ đó phát trién. Đầu tư phát triển đòi hỏi rất nhiều về nguồn lực. Theo nghĩa hẹp, thì nguồn lực cần cho đầu tư phát triển là nguồn vốn nhưng theo nghĩa rộng thì ngoài nguồn vốn mà doanh nghiệp cần bỏ ra thì còn cần tới các loại tài nguyên khác như: tài nguyên đắt, tài nguyên lao động, máy móc thiết bị.
Vậy nên, khi xem xét và đánh giá về đầu tư phát triển có đạt hiệu qua hay không thì cần xét tới tat cả các nguồn lực tham gia. Đối tượng của đầu tư phát triển là tập hợp các yêu tố được chu dau tư bỏ vào nhằm đạt hiệu quả nhất định đã đề ra trước đấy. Theo góc độ mục tiêu thì đối tượng đầu tư chia thành 2 nhóm: công trình vì mục tiêu phi lợi nhuận và công trình vì mục tiêu lợi nhuận. Theo góc độ phân công lao động xã hội thì có hai nhóm đối tượng đầu tư chính là đầu tư theo ngành và đầu tư theo lãnh thổ.
Hay theo góc nhìn về mức độ quan trọng của đầu tư thì có thé chia thành 2 loại: loại được khuyến khích dé đầu tư vào, loại không được khuyến khích đầu tư vao và loại bi cam đầu tư. Theo góc độ tài sản thì đối tượng đầu tư chia thành: tài sản hữu hình và tải sản vô hình. Kết quả của đầu tư phát triển là sự tăng lên về tài sản vật chất cũng như là các loại tài sản khác. Các kết quả đạt được góp phần làm nâng cao năng lực sản xuất của xã hội để từ đó tính toán và đánh giá về hiệu quả đầu tư.
Hiệu quả đầu tư là phạm trù kinh tế biéu hiện quan hệ so sánh giữa các kết quả kinh tế- xã hội đã đạt được các mục tiêu của hoạt động dau tư với các chi phí phải bỏ ra dé có các kết qua đó trong một thời kỳ nhất định. Mục đích của đầu tư phát triển là sự tăng trưởng bền vững của cộng đồng, của đất nước và của nhà đầu tư. Trong đó, sự phát triển đầu tư nhà nước là cách thúc đây sự tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập quốc dân và giải quyết vẫn đề việc làm cũng như tạo nguồn thu cho người dân trong và ngoài đất nước. Đối với doanh nghiệp thì dé đạt được tối thiểu chi phí, tối đa hoá lợi nhuận thu được, nâng cao khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trong thị trường kinh tế va dé phát triển trong tương lai, tạo được 3 việc làm cho người dân và cũng như có được chât lượng nguôn nhân lực tôt nhât cho doanh nghiệp.
Đầu tư phát triển trong doanh nghiệp: Đầu tư phát triển trong doanh nghiệp là hoạt động bỏ vốn và các nguồn lực khác mà doanh nghiệp đang có trong hiện tại để duy trì hoạt động và trong quá trình đó tạo ra được thêm tài sản có thể là tài sản vô hình hoặc tài sản hữu hình của doanh nghiệp, tạo thêm được việc làm và tạo ra được nguồn tài sản cho chủ sở hữu. Vai trò của đầu tư phát triển đối với doanh nghiệp Đầu tư phát triển là hoạt động cần thiết của mỗi doanh nghiệp trong quá trình hình thành và phát trién của một doanh nghiệp, bat ké doanh nghiệp đó hoạt động trong lĩnh vực gi. Cụ thé, đối với doanh nghiệp sản xuất công nghiệp thì tam quan trọng của hoạt động này là: Thứ nhất, dau tư để nâng cao chất lượng sản phẩm. Đây là điều ma moi doanh nghiệp hướng tới trong quá trình phát triển.
Vì chỉ khi chất lượng sản phẩm được đảm bảo thì sự quay lại cũng như tiếp tục sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp mới được tiếp diễn sau đó. Sản phẩm tốt luôn được tin dùng và được mọi người sử dụngg lâu dài dé từ đó chiếm lĩnh được thị trường cũng như giảm bớt gánh nặng cho việc marketing. Thứ hai, đầu tư dé nâng cao được khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp, doanh nghiệp khác. Nhu cầu của con người ngày càng phát triển, đòi hỏi nhiều hơn từ nhà sản xuất, do đó ngoài việc dam bao số lượng sản pham còn phải đòi hỏi về chất lượng.
Trong thời kỳ giao thương giữa các nước trên thế giới cũng như thời kỳ công nghệ 4.0 phát triển như hiện nay thì việc khách hàng tiếp cận được một lúc rất nhiều sản phẩm nên do đó phải có điểm đặc biệt đề thu hút cũng như cạnh tranh được với các thương hiện khác trong cùng lĩnh vực. Thứ ba, đầu tư để giảm nguồn chi tăng nguồn thu cho doanh nghiệp. Suy cho cùng, thì mục tiêu của các doanh nghiệp tư nhân là tối đa hoá được lợi nhuận. Đầu tư phát triển một cách hiệu quả là các hoạt động làm tăng doanh thu, giảm chi phí để có nguồn thu và từ nguồn thu mới dé mở rộng kinh doanh, tăng khả năng xoay vòng vốn dé mở rộng thị trường và từ đó chiếm lĩnh thị trường.
Thứ tư, đầu tư vào cho việc đỏi mới công nghệ, dây chuyền sản xuất dé nâng cao kỹ thuật. Công nghệ là loại tài sản đặc biệt với sự hao mòn vô hình gây ra trongg qua trình sử dụng cũng như là bị lạc hậu sau một thời gian sử dụng do sự phát triển của công nghệ kỹ thuật. Sự bỏ các nguồn vốn mà doanh nghiệp có vào việc phát triển kỹ thuật. từ đó tạo điều kiện đổi mới công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất.
4 Thứ năm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Người lao động là nguồn nhân lực cần của mỗi doanh nghiệp, nhân lực trong quá trình sản xuất, nhân lực trong quá trình bán hàng cũng như quá trình nghĩ ra sản phẩm mới, công nghệ mới. Do đó, doanh nghiệp cần đảm bảo được chất lượng nguồn lao động đủ trình độ, đủ kỹ thuật cũng như là đủ số lượng dé đảm bảo số lượng sản phẩm được đưa ra ngoài thị trường. Thông qua các điểm trên có thé thấy được tầm quan trọng cũng như thể hiện một cách rõ nét vai trò của đầu tư phát triển đối với mọi doanh nghiệp nói chung và với doanh nghiệp chế biến thực phẩm nói riêng.3 Nguồn vẫn dau tw phát triển Vốn đầu tư đóng vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động và thực hiện đầu tư phát triển.
Mục dich sử dụng vốn là mang lại lợi ích lớn hơn nguồn vốn bao đầu( tài chính, nhân lực, nguồn tài nguyên khác,. Doanh nghiệp cổ phần cũng như mọi doanh nghiệp khác đều huy động nguồn vốn từ hai nguôn chính là: nguôn vôn chủ sở hữu và nguôn vôn nợ. - “Nguồn von chủ sở hữu là nguôn von riêng của doanh nghiệp, bao gôm: von góp ban đầu, nguồn vốn từ lợi nhuận không chia, nguồn vốn từ phát hành cô phiếu.” - “ Nguồn vốn nợ có thê hình thành từ việc vay nợ hoặc phát hành chứng khoán thông qua 2 hình thức tài trợ chủ yếu là tài trợ gián tiếp thông qua các trung gian tai chính như ngân hàng, các tô chức tín dungg, nhà đầu tư,. hoặc tài trợ trực tiếp( thị trường vốn).
Nguồn vốn chủ sở hữu Vốn ban dau: Khi mà thành lập doanh nghiệp thì chủ doanh nghiệp phải bỏ một số vốn nhất định ban đầu do các cô dông tham gia đóng góp. Hình thức góp vốn sẽ được quyết định bởi loại hình doanh nghiệp. Nguôn vốn từ lợi nhuận không chia: Doanh nghiệp sẽ chia cô tức cho những người sở hữu cô phiếu và mỗi năm, doanh nghiệp sẽ dùng một phan lợi nhuận thu được từ quá trình sản xuất trong 1 năm qua dé tái đầu tư sản xuất cũng như mở rộng sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp. Dé từ đó dòng tiền được xoay vòng và tạo ra lãi.
Cổ phiếu: Hình thức phát hành cô phiếu dé huy động nguồn vốn chủ sở hữu chỉ được áp dụng ở doanh nghiệp là doanh nghiệp cô phan. Day là một loại hình có thé tăng nguồn vốn dau tư cho doanh nghiệp, dưới dạng hình thức là một chứng chỉ hoặc bút toán ghi số chứng nhận ngườu năm giữ cô phiếu là chủ sở hữu của doanh nghiệp phát hành. Như vậy, vốn chủ sở hữu được thu từ ba nguồn chính. Nguồn vốn này chiếm một phần trăm lớn trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp thì càng chứng tỏ được là doanh nghiệp này có khả năng tự chủ tài chính tốt, ít phụ thuộc vào các yếu tô bên ngoài.
Nhưng nếu doanh nghiệp chỉ tập trung vào việc sử dụng nguồn vốn này thì sẽ bị hạn chế trong quá trình đầu tư phát trién cũng như đa dang hoá được các nguồn vốn doanh nghiệp có. Nguồn vốn nợ Ngoài những nguồn vốn chủ sở hữu trên thì doanh nghiệp có thé huy động thêm nguồn vốn từ việc vay vốn từ các chủ thể ngoài doanh nghiệp. Nguồn vốn nợ có thé hình thành từ việc vay nợ hoặc là phát hành thêm các chứng từ, chứng khoán ra côngg chúng dé thông qua các công cụ tài chính, thị trường tài chính hoặc các trung gian tai chính đề từ đó tăng nguồn vốn đầu tư phát triển cho doanh nghiệp. Tại Việt Nam, nguồn vốn nợ hình thành chủ yêu thông qua việc các doanh nghiệp vay vốn của các trung gia tài chính như là các ngân hàng thươn mại,.
Tuy nhiên, nhu cầu sử dụng vốn rất lớn mà các ngân hàng thương mại thường đánh giá kỹ càng khó khăn trong vấn đề giấy tờ, số sách dẫn đến tình trạng chờ lâu, mất thời gian nên các doanh nghiệp thường chủ động hơn trong công tác huy động vốn bằng hình thức trực tiếp thông qua thị trường vốn ngày càng phát triển và phô biến hơn đối với các doanh nghiệp.