CHƯƠNG 1 TỔNG THUẬT 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu công bố ở nước ngoài Smith (1980) “Tài sản cố định đóng vai trò quan trọng trong lợi nhuận của doanh nghiệp cũng như quyết định những rủi ro mà doanh nghiệp gặp phải”. Với những doanh nghiệp hoạt động hiệu quả thì tài sản cố định là một phần tạo nên lợi nhuận cho cả doanh nghiệp cũng như tạo nhiều giá trị cho các nhà đầu tư.
Pandey (1981) đã nhận định rằng “doanh thu trên tài sản cố định đo lường hiệu quả của việc đầu tư vào tài sản cố định như đất đai, xây dựng, nhà máy và máy móc”. Thêm vào đó, việc đầu tư tài sản cố định cũng góp phần vào nâng cao doanh thu Emekekwue (2005) nhấn mạnh việc đầu tư như một nghệ thuật chi tiêu vì việc chi tiêu này được kì vọng mang lại lợi nhuận trong tương lai cùng với đánh đổi một vài lợi ích. Vì có sự đánh đổi như vậy mà rủi ro cũng có thể xảy ra. Hiệu quả của đầu tư được đo lường bởi tỷ trọng doanh thu trên giá trị tài sản cố định và đầu tư dài hạn.
Lev và Thiagrajan (1993) cho rằng mức độ đầu tư là một yếu tố tạo nên lợi nhuận và giá trị cổ phiếu tương lai của doanh nghiệp. Tuy nhiên thực tế lợi nhuận được tạo nên do tác động của đầu tư thì lại ít được quan tâm và nhìn nhận. Eriotis và cộng sự (2000) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, xem xét mức độ đầu tư của doanh nghiệp và mức độ quyền lực thị trường. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng cho các ngành khác nhau, giai đoạn 1995-1996.
Nghiên cứu kết luận rằng các doanh nghiệp tài trợ cho các hoạt động đầu tư thông qua việc tự 7 tài trợ thì có lợi hơn các doanh nghiệp tài trợ đầu tư thông qua vốn vay. Theo nghiên cứu, các doanh nghiệp đầu tư vào tài sản cố định như là một chiến lược để tác động đến lợi nhuận. Mishra và Gobeli (2003) đã nghiên cứu tác động của việc đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R & D) lên hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, sau đó so sánh với kết quả tác động của hoạt động đầu tư đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Nghiên cứu đã sử dụng mô hình thống kê, mô hình hồi quy để so sánh mối quan hệ định lượng giữa đầu tư R&D và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp ngành hóa và dược phẩm.
Nghiên cứu đã so sánh lợi nhuận được tạo ra từ một đồng đầu tư vào R&D với lợi nhuận được tạo ra từ một đồng đầu tư vào tài sản cố định. Nghiên cứu cho thấy (1) có sự kết hợp chặt chẽ giữa mức độ đầu tư R & D và từng chỉ số hoạt động của doanh nghiệp (lợi nhuận ròng, tăng trưởng doanh thu, và giá trị thị trường), (2) Đầu tư R&D có thể giúp tạo ra lợi nhuận cao hơn rất nhiều so với giá trị vốn bỏ ra, (3) Việc đầu tư vào R&D có thể tạo nên giá trị lợi nhuận gấp đôi việc đầu tư vào tài sản. Hoạt động đầu tư R & D giúp doanh nghiệp củng cố lợi thế cạnh tranh lâu dài. Trong khi đó, Li (2004) với nghiên cứu dựa trên mẫu nghiên cứu lớn tại Mỹ trong khoảng thời gian 40 năm cho thấy tác động tiêu cực của các khoản đầu tư đến lợi nhuận, nhưng tác động tiêu cực này giảm theo thời gian.
Tuy nhiên, những khó khăn trong việc thiết lập mối quan hệ giữa đầu tư trong quá khứ và lợi nhuận lâu dài vẫn cần phải lưu ý. Paradogonas (2007) đã cố gắng chỉ ra sự ảnh hưởng khác nhau của các yếu tố đến lợi nhuận của 3.055 doanh nghiệp Greece từ năm 1995 đến 1999. Kết quả nghiên cứu này cho thấy quy mô doanh nghiệp, hiệu quả quản trị, cấu trúc nợ, đầu tư tài sản cố định và doanh thu thực sự có ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. 8 Zeitun và Tian (2007) thực hiện bài báo trên Autralasian Accounting Business and Finance Journal, nghiên cứu các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh và giá trị thị trường của 167 doanh nghiệp phi tài chính thuộc 16 ngành nghề kinh doanh khác nhau niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Amman – Jordan giai đoạn 1989-2003.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ trọng tài sản cố định cao thì hiệu quả kinh doanh thấp do các doanh nghiệp đầu tư quá nhiều vào tài sản cố định mà không cải tiến được hiệu quả kinh doanh. Yếu tố ngành nghề kinh doanh có tác động mạnh đến yếu tố HQKD của doanh nghiệp thuộc một số lĩnh vực như: bất động sản, dịch vụ giáo dục, hóa học và dầu mỏ, thuốc lá. Ngoài ra, nghiên cứu này cũng nhận thấy HQKD của các doanh nghiệp tại Jordan bị ảnh hưởng nhiều bởi nền kinh tế vi mô, môi trường khu vực. Onaolapo và Kajola (2010) nghiên cứu các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh dưới góc độ tài chính, được đại diện bởi chỉ số ROA, ROE.
Biến yếu tố tác động được đưa vào nghiên cứu như tỷ lệ nợ, quy mô tài sản, tỷ trọng tài sản cố định, tốc độ tăng trưởng tài sản, ngành nghề kinh doanh và vòng quay tài sản. Dữ liệu nghiên cứu gồm 30 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Nigeria từ năm 2001 đến năm 2007. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tỷ lệ nợ và tỷ trọng tài sản cố định tác động âm với HQKD trong khi vòng quay tài sản tác động thúc đẩy HQKD của các doanh nghiệp này. Yếu tố ngành nghề kinh doanh trong đó ngành rượu bia, thực phẩm và đồ uống, ngành hóa học, ngành in ấn và xuất bản, ngành thuốc lá, ngành máy tính và thiết bị văn phòng có ảnh hưởng mạnh đến HQKD doanh nghiệp.
Abbasali Pouraghajan và Esfandiar Malekian (2012) với nghiên cứu về tác động của cấu trúc vốn đến HQKD của 400 doanh nghiệp thuộc 12 ngành công nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Tehran giai đoạn 2006-2010 đã 9 cho kết quả ngược lại với hai nghiên cứu nêu trên. Nghiên cứu này cho thấy mối quan hệ nghịch và tác động mạnh mẽ giữa tỷ lệ nợ và HQKD. Các nhân tố vòng quay tài sản, quy mô DN, cấu trúc tài sản hữu hình và tốc độ tăng trưởng có mối quan hệ ý nghĩa và tích cực với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp được đại diện bởi ROA và ROE. Okwo (2012) đã chỉ ra được có mối quan hệ giữa đầu tư tài sản cố định và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhưng lại không có ý nghĩa thống kê khi thực hiện nghiên cứu đầu tư tài sản cố định và lợi nhuận của các doanh nghiệp của Nigeria từ 1995 đến 2009.
Olatunji và cộng sự (2014) thực hiện nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động đầu tư tài sản cố định đến lợi nhuận của những ngân hàng thương mại ở Nigeria. Kết quả cho thấy có mỗi quan hệ tích cực rõ ràng giữa đầu tư tài sản cố định và hiệu quả hoạt động của những ngân hàng được đưa vào nghiên cứu giai đoạn 2000-2012. Mỗi phần trăm gia tăng lợi nhuận ròng là kết quả của tăng 5.35% đầu tư cơ sở vật chất, 1.14% đầu tư công nghệ, 7.79% đầu tư thiết bị máy móc, 8.06% cho thuê tài sản, 6.07% đầu tư đất và 9.32% nguyên vật liệu. Do đó, đầu tư tài sản cố định có ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê với ngành ngân hàng ở Nigeria.
Để cải thiện lợi nhuận, ngân hàng cần quản lý tài sản cố định hiệu quả. Svetlana và Aaro (2012) với nghiên cứu kiểm tra mức độ đầu tư ảnh hưởng thế nào đến lợi nhuận doanh nghiệp. Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy với 8.074 doanh nghiệp thuộc liên minh Châu Âu (EU) trong 9 năm 2001- 2009. Ngược lại với các nghiên cứu trước đây, nghiên cứu này không chỉ ra được mối quan hệ giữa đầu tư và ROA.
Mouxu (2013) nghiên cứu tác động của các yếu tố, bao gồm tính thanh khoản, sử dụng tài sản, đòn bẩy và quy mô doanh nghiệp đối với hoạt động tài chính của 28 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán 10 Thượng Hải SSE 50. Các biến phụ thuộc của nghiên cứu là ROA và ROE, và các biến số độc lập là tính thanh khoản hiện tại (CR), sử dụng tài sản được đo bằng vòng quay tổng tài sản (TAT), đòn bẩy đo bằng tỷ lệ nợ (DR), và biến giả là quy mô doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy sử dụng đòn bẩy nợ và tài sản là những yếu tố ảnh hưởng đến ROA và ROE của các doanh nghiệp được liệt kê trên SSE 50. Kết quả cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa việc sử dụng tài sản và HQKD của doanh nghiệp, mối quan hệ tiêu cực giữa đòn bẩy nợ và HQKD của doanh nghiệp.
Nghiên cứu công bố ở trong nước Chu Thị Thu Thủy, Nguyễn Thanh Huyền, Ngô Thị Quyên (2015) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng hiệu quả hoạt động của 230 doanh nghiệp phi tài chính thuộc 14 ngành niêm yết trên HOSE giai đoạn 2011-2013. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp (được đo bằng ROA) bị ảnh hưởng đáng kể bởi tỷ lệ vốn nhà nước, đòn bẩy tài chính, năng lực quản lý, quy mô doanh nghiệp, khả năng thanh toán nhanh và chu kì sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa chỉ ra sự ảnh hưởng của hoạt động đầu tư đến HQKD của doanh nghiệp. Nguyễn Quang Khải (2009) nhận diện những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp niêm yết, dựa trên phân tích 112 doanh nghiệp trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2014 được niêm yết trên hai sàn chứng khoán Việt Nam (63 DN niêm yết trên sàn HOSE, 49 DN niêm yết trên sàn HSX), thông qua phương pháp định lượng FEM.
Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa qui mô doanh nghiệp, lợi nhuận quá khứ tác động tích cực đến HQKD của doanh nghiệp. Cũng tương tự như bài nghiên cứu trên, nghiên cứu này chưa chỉ ra được HQKD của doanh nghiệp có mối quan hệ với hoạt động đầu tư hay không. Huỳnh Thị Tuyết Phượng (2016) nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng 11 đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết, đã có sự cải thiện hơn bằng việc đưa biến hoạt động đầu tư vào nghiên cứu hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của 180 doanh nghiệp niêm yết trên HOSE thông qua hai chỉ tiêu là ROA và ROE.