Chương I: Tổng quan và phương pháp nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người kinh doanh nhỏ lẻ. Chương II: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nhân tố thúc đây đến việc tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người kinh doanh nhỏ lẻ. Chương III: Kết quả nghiên cứu và đánh giá về nhân tố ảnh hưởng việc tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người kinh doanh nhỏ lẻ tại quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Chương IV: Giải pháp thúc day việc tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người kinh doanh nhỏ lẻ tại quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.
14 CHUONG I: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VA CƠ SỞ LÝ LUẬN VE NHÂN TO ANH HUONG DEN VIỆC THAM GIA BAO HIEM XA HOI TU NGUYEN 1.1 Tổng quan tinh hình nghiên cứu 1.1 Nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam, nghiên cứu về hệ thống chính sách ASXH theo vòng đời cho thấy không phải tất cả các giai đoạn của vòng đời con người đều được hỗ trợ. Đặc biệt, phần lớn người lao động trong khu vực phi chính thức chưa được đảm bảo ASXH một cách đầy đủ và không có triển vọng nhận được lương hưu khi về già. Theo nghiên cứu “ Vai trò của Bảo hiểm xã hội trong nhiệm vụ bảo đảm an sinh xã hội ở Việt Nam” của tác giả Đặng Nguyên Anh (2018), việc thực thi các chính sách nhằm hỗ trợ và đảm bảo ASXH cho người lao động cần được tô chức và thực hiện bao phủ toàn xã hội. BHXH nói chung và BHXH tự nguyện nói riêng là một trong những trụ cột quan trọng đóng góp vào công cuộc xây dựng hệ thống ASXH toàn dân.
Tuy nhiên tốc độ bao phủ trong lưới an sinh đang trên đà chậm lại khi chưa mở rộng thêm nhiều đối tượng tham gia và tình trạng số người rút BHXH một lần có xu hướng gia tăng trong thời gian qua. Xét về góc độ chính sách, theo nghiên cứu “ Nhà nước với việc mở rộng phạm vi bao phủ” thì BHXH tự nguyện chưa phù hợp với thực tế thu nhập của đối tượng tham gia, những quy định còn chưa rõ ràng, hình thức của BHXH tự nguyện con đơn điệu (Mai Ngọc Cường, 2014). Theo tác giả Lê Quốc Hội & cộng sự (2018) trong nghiên cứu “ Giám sát thực thi các mục tiêu chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2011- 2018: Thực trạng và vấn đề", nguyên nhân chính khiến cho BHXH tự nguyện chưa được bao phủ một cách toàn diện là do lao động tự do không có việc làm 15 va thu nhập không ổn định. Vấn đề quyền lợi thụ hưởng cũng được xem là một trong những nguyên nhân dẫn đến diện bao phủ BHXH tự nguyện thấp.
Qua bài nghiên cứu về thực trạng tham gia BHXH tự nguyện của người lao động thuộc khu vực phi chính thức tại quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội ( Nguyễn Thị Tuyết Nga, 2020), tác giả đưa ra một số kết luận sau: Số lượng người tham gia BHXH tự nguyện còn ở mức thấp, chủ yếu rơi vào nhóm người lao động tham gia BHXH bắt buộc khi nghỉ việc còn thiếu thời gian đóng BHXH nên tiếp tục tham gia để hưởng lương hưu. Không những vậy, người lao động ở khu vực phi chính thức nhận thức còn chưa tốt về chính sách BHXH tự nguyện. Đứng trước thực trạng về việc tham gia BHXH tự nguyện, một sỐ nghiên cứu trong nước đã tiến hành phân tích các nhân tố tác động đến ý định tham gia BHXH tự nguyện của người lao động nói chung và người kinh doanh nhỏ lẻ nói riêng nhằm phát triển hơn hình thức BHXH này. Trong đó, những nhân tố được đề cập nhiều như: thái độ đối với BHXH tự nguyện, kỳ vọng của gia đình, thu nhập, cảm nhận rủi ro, ảnh hưởng xã hội, công tác tuyên truyền, chính sách hỗ trợ,.
Theo nghiên cứu “ Nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia BHXH tự nguyện của người buôn bán nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh Nghệ An” của Nguyễn Xuân Cường & các cộng sự (2013) lần lượt là: Tuyên truyền về BHXH tự nguyện, ý thức sức khỏe, hiểu biết về BHXH tự nguyện, thái độ, kỳ vọng gia đình, trách nhiệm đạo lý và kiểm soát hành vi. Nghiên cứu “ Các nhân tố ảnh hưởng việc tham gia BHXH của người lao động phi chính thức” của Hoàng Bích Hồng & cộng sự (2017) đã nêu ra yếu tô trách nhiệm đạo lý và truyền thông là hai nhân tố tác động mạnh mẽ đến ý định tham gia BHXH tự nguyện của người lao động khu vực phi chính thức. 16 Ngoài ra, nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện của nông dân tại Phú Yên ( Hoàng Thu Thủy & Bùi Hoàng Minh Thư, 2018) đã đưa kết quả nhân tố “ Cảm nhận rủi ro” lý giải người dân vẫn chưa tin tưởng vào những lợi ích mà hệ thống chính sách BHXH tự nguyện mang lại. Nguyễn Hồng Hà & cộng sự (2020) với nghiên cứu “ Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động khu vực phi chính thức tại tỉnh Kiên Giang” đã rút ra kết luận rằng chính sách BHXH của Nhà nước và thu nhập của người lao động là hai yêu tố ảnh hưởng mạnh nhất đến quyết định tham gia của họ.
Nghiên cứu “ Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động” của tác giả Bùi Huy Nam (2020) đánh giá cao nhân tố tư vấn chăm sóc khách hàng và kinh nghiệm tham gia của người lao động. Nghiên cứu “ Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện: nghiên cứu tại tỉnh Khánh Hòa”, của Hồ Thủy Tiên & cộng sự (2021) cho thấy năng lực tổ chức, quản lý, cán bộ nhân sự và truyền thông có ảnh hưởng lớn đến quyết định tham gia BHXH tự nguyện. Khi công tác quản lý, tuyên truyền của Nhà nước không hiệu quả thì người lao động sẽ không tin tưởng vào các chính sách BHXH tự nguyện đã đề ra và do dự khi đăng ký tham gia. Hồ Thị Phương Thảo & cộng sự (2021) trong nghiên cứu “ Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận” cho rằng các yếu tố trình độ học vấn, thu nhập, nhận thức của BHXH tự nguyện, hiểu biết về chính sách và ảnh hưởng của gia đình và xã hội có tác động tích cực tới quyết định tham gia của người dân.
17 Giải pháp mà một số nghiên cứu đưa ra nhằm phát triển BHXH tự nguyện như phát triển thêm các loại hình BHXH tự nguyện như kết hợp nó với hưu trí nông thôn, lương hưu xã hội, bảo hiểm hưu trí bổ sung trong nghiên cứu “ An sinh xã hội theo nguyên tắc đóng- hưởng đối với nông dân ở nước ta: Thực trạng và khuyến nghị” của Phan Thị Kim Oanh & cộng sự (2012). Hoàng Bích Hồng va cộng sự (2017), “Các nhân tố ảnh hưởng việc tham gia BHXH của người lao động phi chính thức” nêu ra quan điểm cần tăng cường hoạt động truyền thông và nâng cao hiệu quả bộ máy truyền thông qua đa dạng nội dung và hình thức sản xuất. Đồng quan điểm với luận điểm trên, trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn trong bài “ Giải pháp phát triển đối tojong tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện khu vực phi chính thức trên dia ban tinh Phú Yên” của Hồ Phuong A I? (2019), công tác truyền thông, phổ biến chính sách BHXH tự nguyện cần tiếp tục tăng cường với mức độ thường xuyên và mở rộng với nhiều nhóm đối tượng. Bùi Sỹ Lợi (2019) với “ Nghiên cứu giải pháp mở rộng điện bao phủ BHXH đối với lao động khu vực phi chính thức tại Việt Nam, Báo cáo tổng hợp, Hà Nội” cho rang cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung pháp luật BHXH tự nguyện làm tăng tính hấp dẫn đối với người tham gia thông qua bổ sung các quyền lợi hưởng thiết yếu, thay đổi mức đóng, mức hưởng cho phù hop với người lao động nhằm khuyến khích họ tham gia lâu dai.2 Nghiên cứu nước ngoài Trong bài viết của Castel P.
(2005), “ Voluntary Defined Benefit Pension System Willingness to Paticipate the Case of Vietnam” đã phân tích nhân tố quyết định đến việc tham gia vào hệ thống hưu trí tự nguyện của người lao động khu vực phi chính thức tại Việt Nam. Các nhân tố được đề cập đến bao 18 gồm: Thu nhập, trình độ học van, kha nang tiết kiệm, nơi cư trú, tiếp cận tín dụng, kiến thức về BHXH, thái độ lập kế hoạch lâu dài. Ngoài ra, cơ chế chính sách của Nhà nước ảnh hưởng lớn đến sự sẵn sàng tham gia của người lao động. Theo “ Báo cáo vai trò của chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người cao tuổi Việt Nam” ( trường hợp ở Thanh Hóa) của ILSSA, GIZ và EvaPlan (2012), đối với người cao tudi thì trợ cấp xã hội trở thành nguồn thu nhập 6n định sau nguồn chu cấp từ con cháu, người thân.
Đặc biệt, đối với người cao tuôi có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trợ cấp xã hội là nguồn sống thiết yếu. Tuy vậy, mức chuẩn trợ cấp chỉ đáp ứng 20% nhu cầu sống tối thiểu của người dân. Nghiên cứu “ Phát triển một hệ thống bảo hiểm xã hội hiện đại” của Ngân hang thế giới về Việt Nam năm 2012 thì hệ thống BHXH van tôn tại một số thách thức như tỷ lệ bao phủ thấp trong cả khu vực chính thức và phi chính thức, bất bình dang giữa các nhóm tham gia đóng bảo hiểm, thiếu sự bền vững về tài chính, và năng lực quản lý và thực hiện các chương trình bảo hiểm yếu. Do đó, cần thiết phải đổi mới hình thức tuyên truyền và hình thức BHXH để mở rộng độ bao phủ, thu hẹp khoảng cách bất bình dang và hiện đại hóa công tác quản lý BHXH nhằm đảm bảo an sinh thu nhập cho dân số già của Việt Nam.
& cộng sự (2013) trong nghiên cứu về việc tham gia các chương trình bảo hiểm y tế tự nguyện và bảo hiểm xã hội tại các nước thu nhập thấp và trung bình “ What factors affect take up of voluntary and community-based health insurance programmes in low- and middle- income countries”. Kết quả cho thay các yếu tố có ý nghĩa thống kê tác động đến kha năng tham gia đó là: tuôi; trình độ học vấn; thu nhập; khu vực cư trú; khả năng tiêp cận và sự quan tâm đên tương lai.