Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, giữ vai trò nền tảng trong việc hình thành những phẩm chất nhân cách ban đầu của trẻ em. Theo quan điểm đổi mới giáo dục mầm non, trẻ tham gia vào nhiều hoạt động như vui chơi, hoạt động góc, hoạt động ngoài trời, tạo hình, âm nhạc và làm quen với tác phẩm văn học (LQVTPVH). Hoạt động LQVTPVH giữ vị trí quan trọng trong việc phát triển toàn diện nhân cách trẻ: giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mỹ, phát triển trí tuệ, phát triển thể lực và rèn luyện lao động, đặc biệt là mở rộng vốn từ, hoàn thiện ngữ âm và năng lực giao tiếp. Trong quá trình tổ chức hoạt động giáo dục, việc hình thành và duy trì hứng thú đóng vai trò quyết định, kích thích tính tích cực nhận thức và giúp trẻ tiếp nhận nội dung bài học một cách tự nhiên.

Về bối cảnh thực tiễn, Trường Mầm non Yên Thành nằm trên địa bàn xã miền núi, vùng chiêm trũng phía Tây Nam huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, có điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn. Qua tìm hiểu thực tế, việc tổ chức hoạt động LQVTPVH cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi tại trường còn đối mặt với nhiều rào cản: quy mô nhóm lớp đông, nhận thức của trẻ không đồng đều, cơ sở vật chất và đồ dùng trực quan còn thiếu thốn. Điều này khiến việc gây hứng thú cho trẻ bị hạn chế: trẻ dễ phân tán chú ý, sao nhãng và chưa tích cực tham gia hoạt động. Mặt khác, tại Trường Mầm non Yên Thành chưa từng có đề tài nghiên cứu hoặc sáng kiến kinh nghiệm nào đi sâu khảo sát thực trạng hứng thú của trẻ 3-4 tuổi trong hoạt động LQVTPVH.

Xuất phát từ những lý do trên, đề tài "Thực trạng hứng thú của trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi trong hoạt động làm quen với tác phẩm văn học" được sinh viên Hoàng Mỹ Linh thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Thị Nguyệt (năm 2021) tại Khoa Tiểu học Mầm non, Trường Đại học Hoa Lư.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là tìm hiểu thực trạng hứng thú của trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi trong hoạt động LQVTPVH tại Trường Mầm non Yên Thành; từ đó đề xuất một số biện pháp nâng cao mức độ hứng thú cho trẻ trong hoạt động này.

Khóa luận xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hoá các vấn đề lý luận có liên quan đến vấn đề nghiên cứu: Hứng thú, hoạt động LQVTPVH, hứng thú của trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi trong hoạt động LQVTPVH.
  2. Khảo sát thực trạng hứng thú của trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi trong hoạt động LQVTPVH ở Trường Mầm non Yên Thành.
  3. Đề xuất một số biện pháp để nâng cao hứng thú của trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi trong hoạt động LQVTPVH ở Trường Mầm non Yên Thành.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hứng thú của trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi trong hoạt động làm quen với tác phẩm văn học.
  • Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng tại Trường Mầm non Yên Thành (xã Yên Thành, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình). Khách thể khảo sát thực tế gồm 15 giáo viên đã và đang trực tiếp giảng dạy lớp mẫu giáo 3-4 tuổi và 29 trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi tại trường.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận hứng thú dựa trên lý luận tâm lý học duy vật biện chứng và sử dụng định nghĩa của tác giả Nguyễn Quang Uẩn: "Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng đem lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động". Hứng thú cấu thành từ ba thành phần tương tác chặt chẽ: mặt nhận thức (hiểu rõ đối tượng), mặt xúc cảm (thái độ, tình cảm đối với đối tượng) và mặt hành động (hành vi vươn tới chiếm lĩnh đối tượng). Về lứa tuổi mẫu giáo 3-4 tuổi, tác giả vận dụng các nghiên cứu tâm lý học phát triển của E. Arkin (vốn từ trẻ 3-4 tuổi đạt khoảng 800 - 1926 từ) và Ngô Công Hoàn (chú ý của trẻ chuyển biến mạnh về khối lượng và tính bền vững dưới tác động của ngôn ngữ). Về hoạt động LQVTPVH, nghiên cứu dựa trên quan điểm lý luận của Hà Nguyễn Kim Giang, xác định đây là quá trình giáo viên sử dụng nghệ thuật đọc, kể diễn cảm nhằm giúp trẻ cảm nhận cái hay, cái đẹp của tác phẩm, khơi gợi xúc cảm thẩm mỹ và rèn luyện kỹ năng ngôn ngữ.

Khóa luận kết hợp đồng bộ các nhóm phương pháp nghiên cứu sau:

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa tài liệu chuyên ngành tâm lý học, giáo dục học mầm non và phương pháp phát triển ngôn ngữ.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Phương pháp điều tra bằng an-két: Sử dụng phiếu hỏi lấy ý kiến của 15 giáo viên mầm non về nhận thức, mối quan hệ, các khó khăn và biện pháp gây hứng thú.
    • Phương pháp quan sát sư phạm: Dự giờ trực tiếp 2 tiết dạy lớp mẫu giáo 3-4 tuổi: Kể chuyện "Giọt nước tí xíu" và Dạy thơ "Ông mặt trời", lập biên bản ghi nhận hành vi, mức độ chú ý của 29 trẻ.
    • Phương pháp đàm thoại: Trò chuyện với giáo viên và phỏng vấn trực tiếp trẻ 3-4 tuổi nhằm kiểm tra mức độ ghi nhớ, khả năng tái hiện tình tiết và cảm xúc của trẻ.
    • Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Phân tích giáo án, kế hoạch chăm sóc giáo dục của giáo viên dạy lớp 3-4 tuổi.
    • Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Tham vấn cán bộ, chuyên gia giáo dục mầm non có trình độ chuyên môn cao.
  • Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng công thức tính tỷ lệ phần trăm (%) và điểm trung bình ($\bar{X}$) để xử lý số liệu thu thập được.

Để đo lường thực trạng, tác giả thiết lập khung tiêu chí đánh giá gồm 3 tiêu chí với thang điểm 3 mức độ (Mức 1: 3 điểm; Mức 2: 2 điểm; Mức 3: 1 điểm):

  • Tiêu chí 1 (TC1): Khả năng tập trung chú ý trong hoạt động LQVTPVH (nhận thức).
  • Tiêu chí 2 (TC2): Thái độ của trẻ khi tham gia hoạt động/giải quyết các nhiệm vụ học tập (xúc cảm).
  • Tiêu chí 3 (TC3): Mức độ tích cực của trẻ và hiệu quả khi tham gia hoạt động (hành động).

Thang đánh giá chung được phân loại: Mức Cao (7,5 - 9,0 điểm); Mức Trung bình (4,5 - dưới 7,5 điểm); Mức Thấp (dưới 4,5 điểm).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về hứng thú của trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi trong hoạt động làm quen với tác phẩm văn học

Chương 1 hệ thống hóa các quan điểm lý luận về hứng thú trong tâm lý học trong và ngoài nước. Tác giả phân tích các khuynh hướng nghiên cứu hứng thú: giải thích bản chất tâm lý (A. Shecbac, H. Buhler, W. James), hứng thú trong quan hệ với nhân cách và động cơ (L.I. Bozhovich, N.S. Lukin, N.D. Levitov), và sự hình thành hứng thú theo lứa tuổi (G.I. Shchukina, A.V. Zaporozhets). Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Phạm Tất Dong, Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thủy, Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Xuân Thức và Nguyễn Quang Uẩn làm rõ hứng thú vừa mang giá trị nhận thức vừa tạo ra rung động cảm xúc.

Chương 1 đi sâu phân tích đặc điểm tâm lý của trẻ 3-4 tuổi: hoạt động chủ đạo chuyển từ chơi với đồ vật sang trò chơi đóng vai theo chủ đề (TCĐVTCĐ); bước ngoặt tư duy chuyển dịch từ tư duy trực quan - hành động sang tư duy trực quan - hình tượng; ý thức bản ngã bắt đầu hình thành dù còn tính duy kỷ trung tâm; khả năng tưởng tượng phát triển mạnh và vốn từ vựng mở rộng nhanh chóng. Khi tham gia hoạt động LQVTPVH, hứng thú giúp trẻ tập trung tri giác hình tượng văn học, kích thích tư duy thẩm mỹ và rèn luyện kỹ năng phát âm, diễn đạt. Hứng thú của trẻ chịu sự quy định bởi yếu tố khách quan (năng lực tổ chức của giáo viên, chất lượng tác phẩm, đồ dùng học liệu, không gian lớp học) và yếu tố chủ quan (nhu cầu khám phá cá nhân, trạng thái thể chất và sự bền vững của chú ý).

Chương 2: Thực trạng hứng thú của trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi trong hoạt động làm quen với tác phẩm văn học ở trường mầm non Yên Thành

Chương 2 trình bày tổng quan về Trường Mầm non Yên Thành: trường thành lập năm 1960, công nhận đạt chuẩn quốc gia năm 2005; toàn trường có 3 khu, 36 giáo viên, 1 nhân viên, quản lý 20 nhóm lớp với 595 trẻ (trong đó có 12 lớp mẫu giáo với 395 cháu). 100% cán bộ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn đào tạo.

Kết quả khảo sát thực trạng nhận thức của giáo viên cho thấy:

  • Về tính cần thiết của việc gây hứng thú: 14/15 giáo viên (93,3%) đánh giá "rất cần thiết" và 1/15 giáo viên (6,7%) đánh giá "cần thiết"; không có giáo viên nào cho rằng không cần thiết.
  • Về mối quan hệ giữa hứng thú của trẻ và hiệu quả hoạt động: 15/15 giáo viên (100%) khẳng định mối quan hệ "rất chặt chẽ, hứng thú ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tổ chức hoạt động".
  • Về nguồn tài liệu sưu tầm tác phẩm văn học: 100% giáo viên sử dụng tài liệu "Tuyển chọn trò chơi, bài hát, thơ ca, truyện, câu đố theo chủ đề"; 60,0% khai thác qua sách báo, internet và tạp chí GDMN; 33,3% trao đổi từ đồng nghiệp; 33,3% tự sáng tác và 6,7% lấy từ phụ huynh hoặc truyền hình.
  • Về yêu cầu khi lựa chọn tác phẩm: 100% giáo viên chú trọng "đảm bảo phù hợp với chủ đề"; 93,3% yêu cầu "đảm bảo mục tiêu hoạt động, tính giáo dục"; 80,0% quan tâm tính "vừa sức, phù hợp độ tuổi, nhận thức"; và 60,0% nhấn mạnh "tính nghệ thuật".

Khảo sát những khó khăn của giáo viên phản ánh rào cản lớn nhất đến từ sĩ số lớp học đông ($\bar{X} = 2,5$, xếp thứ 1) và tính bền vững trong chú ý của trẻ còn hạn chế ($\bar{X} = 2,2$, xếp thứ 2). Điều kiện vật chất, học liệu trực quan phục vụ tiết học cũng gặp khó khăn do ngân sách địa phương hạn chế ($\bar{X} = 2,0$, xếp thứ 3). Về các biện pháp gây hứng thú, giáo viên tập trung nhiều nhất vào việc đọc kể diễn cảm, khích lệ động viên bằng lời và phối hợp linh hoạt các hình thức tổ chức (cùng đạt $\bar{X} = 3,0$). Dựa trên phân tích nguyên nhân khách quan và chủ quan, chương 2 phác thảo định hướng một số biện pháp sư phạm nhằm nâng cao hứng thú cho trẻ tại đơn vị nghiên cứu.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu thu thập và xử lý các cứ liệu định lượng chi tiết phản ánh mức độ thực hiện, rào cản và thực tiễn tổ chức hoạt động LQVTPVH tại địa bàn nông thôn:

STT Khó khăn đối với giáo viên Thường xuyên Đôi khi Không bao giờ Điểm trung bình ($\bar{X}$) Thứ bậc
1 Số lượng trẻ trong lớp đông 7 8 0 2,5 1
2 Sự bền vững, tập trung chú ý của trẻ hạn chế 3 12 0 2,2 2
3 Thiếu cơ sở vật chất, phương tiện giáo dục, tài liệu trực quan 1 13 1 2,0 3
4 Khó khăn trong việc phối hợp với phụ huynh 0 14 1 1,9 4
5 Không đủ thời gian để giúp trẻ tiếp nhận giá trị nội dung, nghệ thuật 2 10 3 1,9 4
6 Thiếu thời gian để phát triển vốn từ thực tiễn gắn với cuộc sống 1 11 3 1,9 4
7 Ít thời gian dành cho trẻ thực hành sử dụng ngôn ngữ 1 11 3 1,9 4
8 Thiếu nguồn tài liệu lựa chọn tác phẩm phù hợp 0 3 12 1,2 8
9 Thiếu kiến thức, kỹ năng cơ bản về lĩnh vực này 0 3 12 1,2 8
10 Lúng túng trong việc sử dụng các biện pháp phát triển ngôn ngữ 0 2 13 1,1 10

Song song với việc chỉ ra các khó khăn, khóa luận tổng hợp mức độ giáo viên áp dụng các biện pháp sư phạm nhằm kích thích hứng thú của trẻ:

STT Biện pháp gây hứng thú cho trẻ 3-4 tuổi Thường xuyên Đôi khi Không bao giờ Điểm trung bình ($\bar{X}$) Thứ bậc
1 Sử dụng nghệ thuật đọc kể diễn cảm của giáo viên 15 0 0 3,0 1
2 Khích lệ, động viên để trẻ tích cực biểu đạt bằng ngôn ngữ 15 0 0 3,0 1
3 Phối hợp nhiều phương pháp, hình thức tổ chức 15 0 0 3,0 1
4 Khởi động tạo ấn tượng, cảm xúc vui vẻ ban đầu 14 1 0 2,9 4
5 Sử dụng đồ dùng, đồ chơi trực quan (tranh ảnh, mô hình) 13 2 0 2,8 5
6 Tạo tình huống, đặt câu hỏi gợi mở để trẻ trả lời 8 7 0 2,5 6

Về mặt đóng góp khoa học và thực tiễn, đây là công trình đầu tiên khảo sát trực tiếp và toàn diện về thực trạng hứng thú của trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi trong hoạt động LQVTPVH tại Trường Mầm non Yên Thành, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Kết quả nghiên cứu làm rõ mối quan hệ tương hỗ giữa hứng thú nhận thức của trẻ với năng lực sư phạm của giáo viên, bổ sung dữ liệu thực tế về giáo dục mầm non tại các trường thuộc vùng bán sơn địa chiêm trũng. Nghiên cứu cung cấp hệ thống giải pháp thực tế: giáo viên cần chủ động tự làm đồ dùng trực quan (rối tay, mô hình, sa bàn, mũ đội đầu); linh hoạt lồng ghép câu hỏi đàm thoại gợi mở; đồng thời ứng dụng công nghệ hình ảnh phù hợp để duy trì chú ý bền vững cho trẻ trong điều kiện lớp học đông học sinh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn nhất định xuất phát từ phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi khảo sát thực tế giới hạn trong khuôn khổ 1 trường mầm non (Trường Mầm non Yên Thành) với quy mô mẫu là 15 giáo viên và 29 trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi; do đó tính khái quát đại diện cho toàn bộ địa bàn huyện Yên Mô hoặc tỉnh Ninh Bình chưa cao.
  • Khóa luận dừng lại ở mức độ khảo sát mô tả thực trạng, phân tích nguyên nhân và đề xuất nhóm biện pháp sư phạm, chưa tiến hành thực nghiệm đối chứng để đo lường định lượng mức độ tiến bộ của trẻ sau khi áp dụng các biện pháp đổi mới.

Hướng nghiên cứu tiếp theo bao gồm: mở rộng địa bàn khảo sát sang các trường mầm non lân cận để so sánh đối chiếu số liệu; tổ chức thực nghiệm sư phạm có nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng nhằm kiểm định tính hiệu quả của các biện pháp nâng cao hứng thú thông qua các tác phẩm văn học cụ thể.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Giáo dục Mầm non tại các trường đại học, cao đẳng sư phạm: tham khảo khung lý thuyết về hứng thú, quy trình thiết kế công cụ nghiên cứu thực tiễn (phiếu an-két giáo viên, biên bản quan sát tiết dạy, phiếu phỏng vấn trẻ).
  • Giáo viên mầm non trực tiếp dạy lớp 3-4 tuổi: tham khảo bộ tiêu chí đánh giá mức độ hứng thú (Bảng 2.1) cùng cách thức tổ chức 2 tiết học điển hình: Kể chuyện "Giọt nước tí xíu" và Dạy thơ "Ông mặt trời".
  • Cán bộ quản lý chuyên môn mầm non: nắm bắt các điểm nghẽn thực tế về cơ sở vật chất, sĩ số học sinh và đồ dùng học cụ để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ phát triển ngôn ngữ cho giáo viên cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

1. Khó khăn lớn nhất mà giáo viên Trường Mầm non Yên Thành gặp phải khi tổ chức hoạt động LQVTPVH là gì?

Theo số liệu khảo sát 15 giáo viên, khó khăn lớn nhất là số lượng trẻ trong lớp quá đông (điểm trung bình $\bar{X} = 2,5$, xếp thứ 1). Khó khăn xếp thứ 2 là sự bền vững và tập trung chú ý của trẻ 3-4 tuổi còn nhiều hạn chế ($\bar{X} = 2,2$).

2. Tác giả lựa chọn định nghĩa hứng thú của ai làm cơ sở công cụ nghiên cứu chính?

Tác giả sử dụng định nghĩa hứng thú của GS. Nguyễn Quang Uẩn trong giáo trình Tâm lý học đại cương: "Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng đem lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động".

3. Hai tiết dạy thực tế nào được tác giả dự giờ quan sát mức độ hứng thú của trẻ?

Tác giả đã trực tiếp dự giờ và quan sát biểu hiện hứng thú của 29 trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi qua 2 tiết học: Kể chuyện "Giọt nước tí xíu" và Dạy thơ "Ông mặt trời".

4. Tỷ lệ giáo viên nhận thức về tính cần thiết của việc gây hứng thú cho trẻ đạt mức độ nào?

Có 93,3% giáo viên khẳng định việc gây hứng thú cho trẻ 3-4 tuổi trong hoạt động LQVTPVH là "rất cần thiết", 6,7% đánh giá "cần thiết" và 0% đánh giá "không cần thiết". Đồng thời, 100% giáo viên xác nhận mối quan hệ giữa hứng thú và hiệu quả tiết học là rất chặt chẽ.

5. Nguồn tài liệu nào được 100% giáo viên Trường Mầm non Yên Thành lựa chọn khi tổ chức hoạt động LQVTPVH?

Nguồn tài liệu được 100% giáo viên sử dụng là "Tuyển chọn trò chơi, bài hát, thơ ca, truyện, câu đố theo chủ đề". Ngoài ra, 60% giáo viên kết hợp tìm kiếm qua sách báo, internet và tạp chí giáo dục mầm non.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Hoàng Mỹ Linh đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về hứng thú và đặc điểm tiếp nhận văn học của trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi dựa trên các nghiên cứu tâm lý - giáo dục học chuẩn mực. Thông qua khảo sát thực tế tại Trường Mầm non Yên Thành, công trình cung cấp các số liệu định lượng về nhận thức của giáo viên, các rào cản do lớp đông, thiếu phương tiện trực quan và mức độ áp dụng các biện pháp dạy học. Đề tài đưa ra hệ thống tiêu chí đánh giá rõ ràng và các giải pháp sư phạm khả thi, đóng góp thiết thực cho công tác nâng cao chất lượng hoạt động làm quen tác phẩm văn học ở bậc học mầm non.