phần mở đầu trong nhận thức và phương pháp luận của mình. Các ngẫu tượng có nguồn gốc hoàn toàn khách quan, bởi vì chúng một phần có trong bản chất trí tuệ con người, một phần xuất hiện trong quá trình lịch sử nhận thức của nhân loại, một phần nảy sinh trong sinh lý và nhân cách của Khóa luận luật học mỗi người. Vì vậy, quá trình con người đấu tranh khắc phục những hạn chế khách quan đó cũng là quá trình con người đấu tranh vì sự hoàn thiện bản thân mình. Việc xây dựng các khái niệm và các tiên đề thông qua phép quy nạp chân thực đương nhiên là phương tiện đúng đắn để ngăn ngừa và loại bỏ các ngẫu tượng.
Nhưng ngay cả việc chỉ ra các ngẫu tượng cũng rất hữu ích. Học thuyết về ngẫu tượng đối với việc giải thích giới tự nhiên cũng giống như học thuyết về sự bác bỏ ngụy biện đối với phép biện chứng phổ biến. Có bốn loại ngẫu tượng cản trở trí tuệ của con người. Bacon phân ra các dạng ngẫu tưởng như sau: - Dạng ngẫu tượng loài Nó sinh ra do việc loài người thường xuyên nhầm lẫn bản chất trí tuệ của mình với bản chất khách quan của sự vật.
Ai cũng dễ dàng gán cho sự vật những đặc tính riêng của con người. 22 Sở dĩ có loại ngẫu tượng này, theo Bacon, là do các giác quan cũng như trí tuệ con người còn chưa thật hoàn thiện. Một trong những biểu hiện của ngẫu tượng này là ở chỗ người ta thường hay bảo thủ, coi ý kiến và suy nghĩ chủ quan của mình là thước đo tất thảy mọi vật. Chúng ta chỉ có thể hạn chế ảnh hưởng của các ngẫu tượng này bằng cách hoàn thiện các phương tiện nhận thức của con người như thực nghiệm… Trí tuệ con người giống như chiếc gương không phẳng;khi nó trộn lẫn bản chất của mình với bản chất của các sự vật thì sẽ phản chiếu các sự vật đó dưới dạng méo mó và biến dạng [4, 35].
Lý tính của con người sử dụng mọi thứ để bảo vệ và nhất trí với điều mà một khi nó đã thừa nhận, hoặc vì đó là đối tượng của niềm tin chung, hoặc là vì nó ưa thích điều đó. Sức mạnh và số lượng các sự kiện lại chứng tỏ cho điều ngược lại, dù đó có là gì đi chăng nữa thì lý tính hoặc không để ý đến chúng, hoặc loại bỏ và bác bỏ chúng nhờ những sự phân định với lời cảnh báo thái quá Khóa luận luật học và thô thiển để cho tính đáng tin cậy của các kết luận trước đây không bị loại bỏ. Huyễn hoặc mình bằng điều kiện hư ảo, con người chỉ nhận thấy sự kiện đã diễn ra mà không để ý tới cái đã lừa mình, cho dù nó thường xảy ra nhiều hơn. Ngoài ra, thậm chí cả sự thiên vị và hư ảo đó không có, thì lý tính con người vẫn quen mắc sai lầm là nó ngả theo các luận cứ khẳng định hơn là các luận cứ phủ định, trong khi đó thì đáng ra nó phải có thái độ như nhau đối với chúng.
Thậm chí, luận cứ phủ định có sức mạnh lớn hơn trong việc xây dựng mọi tiên đề chân thực. Cái có tác động mạnh nhất đến lý tính của con người là cái có thể ngay lập tức và đột ngột làm cho nó phải kinh ngạc. Chính điều này, thường kích thích và lấp đầy trí tưởng tượng. Nó âm thầm cải biến những thứ khác khi hình dung chúng như một cái không đáng kể đang chế ngự trí tuệ của nó [4, 43].
Lý tính con người ham muốn biết chừng nào. Nó không thể tự dừng lại, không thể nằm trong sự yên tĩnh mà ngày càng tiến xa hơn. Nhưng tư duy lại 23 không có khả năng nắm bắt giới hạn và kết cục của thế giới, song dường như luôn cần phải hình dung một cái gì đó tồn tại xa hơn. Vì khi phân biệt tính vô hạn trong quá khứ và tính vô hạn trong tương lai, ý kiến thông thường hoàn toàn là vô căn cứ.
Từ đó suy ra rằng, tính vô hạn này lớn hơn tính vô hạn kia và tính vô hạn bị rút ngắn, có thiên hướng dẫn tới cái hữu hạn. Và khi hướng tới cái ở xa hơn, nó lại quay lại với cái ở gần nó hơn, mà đó chính là các nguyên nhân hữu hạn – các nguyên nhân có nguồn gốc của chúng thực ra là bản tính con người chứ không phải bản chất của vũ trụ. Và một khi xuất phát từ nguồn gốc ấy, người ta đã xuyên tạc triết học một cách kỳ lạ. Con người thực ra tin vào tính chân thực của cái mà con người ưa thích.
Con người khước từ cái khó khăn – vì không đủ kiên nhẫn để tiếp tục nghiên cứu; khước từ điều tỉnh táo – vì điều này không hứa hẹn hy vọng; khước từ điều cao siêu trong tự nhiên – do mê tín; khước từ ánh sáng của kinh nghiệm – do kiêu ngạo và coi thường ánh sáng ấy để lý tính không bị chìm đắm vào những Khóa luận luật học điều hẹn hạ và không vững chắc; khước từ những nghịch lý – do ý kiến được mọi người chấp nhận [4, 45]. Sự rắc rối và những sai lầm của lý tính con người chủ yếu sinh ra từ tính cổ hủ, sự không phù hợp và sự lừa dối các giác quan, vì cái thức tỉnh giác quan sẽ được đề cao hơn cái không kích thích giác quan ngay lập tức, mặc dù nó là tốt hơn. Do vậy, trực giasoc chấm dứt khi sự nhìn chấm dứt, vì việc quan sát các sự vật vô hình là không đủ hay hoàn toàn vắng mặt. Do vậy, toàn bộ sự chuyển động của tinh thần nằm trong các vật cảm giác được nhưng còn bị che đậy hay không tiếp cận được đối với con người.
Cảm tính tự thân nó là yếu đuối và mắc sai lầm, những công cụ có nhiệm vụ tăng cường và làm cho giác quan trở nên sắc bén cũng không có giá trị đáng kể. Thực ra thì việc giải thích giới tự nhiên đạt được nhờ quan sát thông qua các kinh nghiệm được tổ chức một cách hợp lý. Ở đây, cảm tính chỉ phán xét về kinh nghiệm, còn kinh nghiệm thì phán xét về tự nhiên và bản thân sự vật. 24 Xét về bản chất của mình, lý tính con người hướng vào cái trừu tượng và xem cái biến đổi như là cái bất biến.
Nên phân chia giới tự nhiên ra thành các bộ phận thì tốt hơn là trừu tượng hóa nó. Cần phải nghiên cứu nhiều hơn về vật chất, về trạng thái nội tại của nó, về sự biến đổi của trạng thái đó, về tác động thuần túy và về quy luật tác động hay chuyển động , vì hình thức thực chất là sự bịa đặt của trí tuệ con người, trừ khi gọi các quy luật tác động ấy là những hình thức. Tất cả những ngẫu tượng trên là ngẫu tượng loài. Chúng bắt nguồn từ thực thể đơn điệu của tinh thần con người, hoặc từ định kiến của nó, hoặc từ hạn chế của nó, hoặc từ sự chuyển động không ngừng của nó, hoặc tự sự ám thị của dục vọng, hoặc từ sự không có năng lực cảm tính, hoặc từ phương thức tri giác.
Ở đây, ta thấy việc Bacon đòi hỏi nhận thức sự vật phải hoàn toàn khách quan là hợp lý. Ông nhận xét đúng rằng, con người thường hay chủ quan, duy ý chí trong hoạt động của mình. Nhưng ông lại sai lầm khi phủ nhận hoàn toàn vai Khóa luận luật học trò của cái chủ quan trong nhận thức. Việc đòi hỏi nhận thức phải “khách quan thuần túy” của ông là một điều không tưởng, tuy nhiên nó có ý nghĩa tích cực trong việc phê phác các quan niệm thần học chủ quan kinh viện thời đó, vì sự tiến bộ của khoa học.
- Dạng ngẫu tượng hang động Ngẫu tượng hang động thực chất là những sai lầm của từng con người riêng biệt. Ngoài những ngẫu tượng đối với cả loài người, thì mỗi người còn có các đặc tính chủ quan, tâm lý, tính cách đặc thù của mình làm xuyên tạc bản chất khách quan của sự vật. Chúng còn xuất hiện do hoàn cảnh giáo dục của mỗi người cũng khác nhau nữa. Thực chất ngẫu tượng hang động chính là ngẫu tượng loài, nhưng biểu hiện ở mỗi người cụ thể ở mức độ và hình thức khác nhau.
Sở dĩ gọi là “ngẫu tượng hang động” bởi vì mượn câu chuyện của Platon 25 về hang động. Bacon ví trí tuệ của mỗi người tựa như hang động méo mó của Platon, mà trong đó thể hiện cái bóng của các sự kiện diễn ra bên ngoài. Con người yêu thích hoặc các khoa học và các học thuyết mà họ tự coi mình là người sáng tạo và là tác giả, hoặc các khoa học và học thuyết mà họ đầu tư vào đó nhiều sức lao động nhất và họ đã quen thuộc hơn cả. Nếu những người như vậy cống hiến mình cho triết học và cho các học thuyết phổ quát, thì họ sẽ xuyên tạc và làm hỏng chúng do tác động của các chủ ý trước đó của họ.
Sự khác nhau lớn nhất và dường như căn bản nhất giữa các trí tuệ đối với triết học và khoa học là như sau. Một số trí tuệ là mạnh mẽ và hữu dụng hơn đối với việc phát hiện ra sự khác biệt trong các sự vật, còn số khác – đối với việc phát hiện ra sự giống nhau trong chúng. Những trí tuệ cứng rắn và sắc sảo có thể tập trung suy ngẫm của mình, dừng lại ở mỗi sắc thái của các sự khác biệt. Còn những trí tuệ cao cả và linh hoạt thì nhận ra và so sánh những sự giống nhau tinh tế, có mặt ở khắp nơi giữa các sự vật.
Nhưng cả hai loại trí tuệ ấy đều dễ dàng đi Khóa luận luật học quá xa trong việc chạy theo hoặc những bộ phận của các vật, hoặc những cái bóng của chúng [6, 50]. Một số trí tuệ có thiên hướng tôn sùng thời cổ, số khác thì bị cám dỗ bởi tình yêu cái mới. Nhưng một số ít trí tuệ có thể tuân thủ một mức độ nào đó để không loại bỏ những cái đã được người cổ xác định một cách xác đáng và không coi thường những cái mới được tiến cử một cách có lý. Không nên tìm kiếm chân lý ở sự thành đạt có tính bất biến của một thời đại nào đó, mà phải thông qua ánh sáng của kinh nghiệm mang tính vĩnh hằng về giới tự nhiên.
Do vậy, chúng ta cần phải dứt khoát khước từ những khát vọng ấy để đảm bảo rằng chúng không khống chế trí tuệ.