CHƯƠNG I CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VỀ KHOA HỌC CỦA KARL POPPER Tư tưởng triết học về khoa học của Karl Popper ra đời trên cơ sở kế thừa và phê phán những tư tưởng triết học về khoa học của chủ nghĩa thực chứng, trực tiếp là chủ nghĩa thực chứng lôgic nhóm Viên và nhóm Berlin. Tuy nhiên ảnh hưởng trực tiếp của nó là những điều kiện kinh tế, chính trị – xã hội ở Áo và trên thế giới lúc bấy giờ và nhất là những phát minh mới trong khoa học và những phát triển mới trong lý luận về kinh tế và chính trị. ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA SỰ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC KHOA HỌC CỦA KARL POPPER 1. Các điều kiện kinh tế Vào cuối năm 20 đầu những năm 30, cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra trong thế giới tư bản có ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của nhiều nước châu Âu.
Kinh tế của các nước trong đế quốc Áo - Hung lạc hậu, kém phát triển nên rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng trong điều kiện chiến tranh, ngoài mặt trận thì quân đội liên tiếp thất bại, các dân tộc nổi lên đòi độc lập khiến Đế quốc Áo – Hung nằm trên bờ vực sụp đổ. Nguyên nhân chính của khủng hoảng chủ yếu là vì sự tăng lên quá nhanh của quá trình sản xuất trong một thời gian dài, dẫn đến thừa hàng hoá nhưng trong thời điểm đó nhu cầu thị trường lại không tăng làm cho hàng hoá ngày dần trở nên thừa dẫn đến suy thoái trong sản xuất. Đây là thời kỳ diễn ra cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới trên khắp mọi nơi trong thế giới các nước tư bản chủ nghĩa, nhưng ở các quốc gia khác 10 nhau lại có mức độ và thời gian diễn ra khủng hoảng khác nhau. Sau cuộc suy thoái ở Mỹ đó là sự suy thoái hết sức nặng nề ở Đức.
Cuộc khủng hoảng này không chỉ tàn phá nặng nề kinh tế và còn gây ra nhiều hậu quả lớn về chính trị và xã hội cho chủ nghĩa tư bản. Cuộc khủng hoảng trong giai đoạn 1929 – 1933, đã làm cho số công nhân thất nghiệp tăng lên đến 50 triệu người, hàng triệu người mất nhà cửa, hàng triệu dân bị mất ruộng đất và sống trong cảnh thiếu thốn, nghèo đói. Trước bối cảnh lịch sử đó, phong trào công nhân thế giới có nhiều chuyển biến mới, từ thoái trào chuyển thành cao trào, biểu tình, bãi công diễn ra khắp mọi nơi. Hoàn cảnh lịch sử đó đã tạo nên sự phát triển không đồng đều và sự khác nhau về hình thức thống trị của các nước tư bản.
Các nước không có thuộc địa hoặc thiếu thuộc địa ngày càng thiếu vốn, nguyên liệu và thị trường đã đi theo con đường phát xít hoá về chế độ chính trị nhằm cứu vãn tình trạng khủng hoảng chính trị đang diễn ra rất nghiêm trọng. Một số nước như Đức, Ý, Nhật Bản là điển hình cho xu hướng này. Vào những năm 30, quan hệ quốc tế chuyển biến ngày càng phức tạp, sự hình thành hai khối đối lập báo hiệu cho một cuộc chiến tranh thế giới không thể tránh khỏi. Tại Áo, sau chiến tranh thế giới thứ nhất, kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng nặng, đời sống nhân dân khó khăn, túng quẩn.
Nhân dân ở Viên bị thất nghiệp nặng nề, nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ phá sản. Đại đa số nhân dân sống rất khổ, cuộc sống của họ phải chịu đủ mọi sức ép. Sự thất bại trong chiến tranh của đế quốc Áo – Hung đã tiêu tốn khá nhiều chi phí. Nước Áo tách ra trong điều kiện kiệt quệ về kinh tế.
Tháng 3/1938, Áo bị phát xít Đức chiếm đóng. Từ năm 1945 đến năm 1955, Áo bị quân Đồng minh chiếm đóng. Tháng 5/1955, đại diện các chính phủ Liên Xô, Anh, Mỹ và Áo ký hiệp ước tại Viên về việc khôi phục nền độc lập và dân chủ của Áo. Tháng 10/1955, Quốc hội Áo thông qua đạo luật khẳng định 11 nền trung lập vĩnh viễn của Áo.
Cuối năm 1955, quân Đồng minh rút khỏi Áo. Tình hình chính trị - xã hội Vào nửa đầu thế kỷ XX, tình hình chính trị - xã hội tại Viên diễn biến phức tạp. Đế quốc Áo – Hung có tham vọng lớn là làm chủ khu vực Balkan mặc dù kinh tế hết sức lạc hậu, mâu thuẫn dân tộc vô cùng phức tạp. Chính sách bành trướng Balkan của Đế quốc Áo – Hung vấp phải sự cạnh tranh mạnh mẽ của Đế quốc Nga, do đó Áo – Hung thực hiện liên minh quân sự với Đế quốc Đức để chống lại Nga.
Năm 1909, Đế quốc Áo – Hung thôn tính Bosnia và Herzegovina, làm cho sự đối địch giữa Áo – Hung và Serbia ngày càng gay gắt. Ngoài ra, Đế quốc Áo – Hung còn muốn thôn tính Serbia để đoạt lấy con đường ra các biển Adriatic, biển Agean, biến Đế quốc Áo – Hung từ đế quốc nhị nguyên trở thành đế quốc tam nguyên (tức từ một đế quốc kết hợp giữa Áo và Hungary trở thành một đế quốc kết hợp giữa Áo, Hungary và Serbia). Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc Đế quốc Áo – Hung tuyên chiến với Serbia cũng như của Thế chiến thứ nhất là vụ ám sát thái tử Áo – Hung Franz Ferdinan tại Sarajevo, Bosna. Ngày 28 tháng 6 năm 1914, khi thái tử Franz Ferdinan tham gia buổi diễn tập của quân đội Áo – Hung tại Sarajeco thì bị một số thành viên của tổ chức “Bàn tay đen” thực hiện kế hoạch ám sát.
Sự kiện này đã châm ngòi cho cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Tối 25 tháng 7, Serbia gửi tối hậu thư đến đại sứ Áo – Hung quyết tâm hoà giải cuộc xung đột nhưng Áo – Hung vẫn không chấp thuận và tuyên bố cắt đứt quan hệ ngoại giao với Serbia. Ngày 28 tháng 7, Đế quốc Áo – Hung tuyên chiến với Serbia và chính thức tham gia vào Chiến tranh thế giới thứ nhất. Dưới ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga, Đế quốc Áo – 12 Hung cũng bùng lên làn sóng cách mạng của nhân dân.
Lúc này tại Viên rất hỗn loạn, không chỉ có sự xáo trộn về chính trị mà nạn thất nghiệp, lạm phát, đói kém và các tệ nạn xã hội tràn lan. Nhân dân ở Viên sống rất nghèo khổ, cuộc sống con người chịu đựng mọi sức ép, buồn thảm và chán ghét. Qua “Tự tiểu sử” của mình, Karl Popper thuật lại rằng ở Viên lúc bấy giờ tình trạng đói nghèo là phổ biến. Ông nói: “Việc trông thấy cảnh nghèo đói xơ xác ở Viên là một trong những vấn đề chính đã làm tôi xúc động ngay từ khi còn là một đứa trẻ – đến nỗi nó hầu như mãi mãi nằm sâu trong đầu óc của tôi … đàn ông, đàn bà, trẻ con sống trong cảnh đói, rét và tuyệt vọng.
Là trẻ con như chúng tôi không thể làm gì hơn là xin một vài đồng xu để cho người nghèo” [45, tr. Ngày 11 tháng 11 năm 1917, tại Viên diễn ra cuộc biểu tình của dân lao động để chào mừng thắng lợi của công nhân Sankt-Peterburg trong Cách mạng tháng Mười Nga. Những người tham gia biểu tình đòi chính phủ Đế quốc Áo – Hung khẩn trương đàm phán với các nước tham chiến để rút khỏi chiến tranh. Các cuộc biểu tình cũng diễn ra ở nhiều thành phố khác điển hình là cuộc đình công của công nhân nhà máy thuộc khu công nghiệp Viner-Neystat vào ngày 14 tháng 11 năm 1917.
Cuộc đình công đã lôi kéo công nhân nhiều xí nghiệp ở Viên tham gia. Ngày 16 tháng 11, tất cả các khu công nghiệp của Áo – Hung đều xảy ra biểu tình. Những người bãi công đòi chính quyền phải nhanh chóng ký hiệp định hoà bình và bỏ những đòi hỏi với nước Nga Xô viết. Làn sóng cách mạng nổ ra ở trong nước cũng ảnh hưởng trực tiếp tới binh lính ngoài mặt trận.
Ngày 1 tháng 2 năm 1918 tại vùng biển Adriatic, thuỷ thủ của chiến Đế quốc Áo – Hung tổ chức một cuộc biểu tình lớn với sự tham gia của 6000 thuỷ thủ thuộc 40 tàu chiến. Những người khởi nghĩa yêu 13 cầu khẩn trương đàm phán hoà bình, đòi quyền tự quyết cho các dân tộc sống trên lãnh thổ Đế quốc Áo – Hung và đòi thành lập các chính phủ dân chủ Áo và Hungary. Sau đó, nhiều phong trào đòi tách khỏi Đế quốc Áo – Hung của các dân tộc đã lần lượt thành công. Ngày 14 tháng 10, công nhân Tiệp Khắc tiến hành tổng bãi công, kháng nghị đối với việc chính phủ Đế quốc quyết định chở số than đá và lương thực tàn trữ sang Áo.
Ngày 28 tháng 10, Tiệp Khắc được tuyên bố trở thành quốc gia tự trị. Ngày 29 tháng 10, tới lượt người Nam slav sinh sống trong lãnh thổ đế quốc Áo – Hung tuyên bố tách khỏi đế quốc. Đỉnh điểm là sự kiện nước Cộng hoà Áo được thành lập ngày 12 tháng 11 và khi Hungary thành lập vào ngày 16 tháng 11 năm 1918 thì Đế quốc Áo – Hung chính thức tan rã. Tình hình chính trị Áo trở nên căng thẳng, sự ra đời của Đảng Cộng sản Áo (3/11/1918) diễn ra trong bối cảnh Quốc tế II bị phá sản do sự lũng đoạn của chủ nghĩa cơ hội xét lại và trong bối cảnh các lực lượng cánh tả của đảng xã hội – dân chủ dưới sự lãnh đạo của V.Lênin với nòng cốt là Đảng Bôn-sê-vích Nga đang xúc tiến chuẩn bị thành lập Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III).
Bởi vậy, ngay khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Áo đã phải tiến hành hàng loạt cuộc đấu tranh không khoan nhượng trên tất cả các lĩnh vực từ chính trị, tư tưởng đến tổ chức nhằm chống các tư tưởng cải lương, cơ hội xét lại, xây dựng một chính đảng Mácxít – Lêninnít chân chính. Năm 1924, phái cánh tả chiếm ưu thế về chính trị, đây là giai đoạn cao trào của thời kỳ Viên Đỏ (1918-1934). Karl Popper đã tham gia hoạt động tích cực trong các phong trào xã hội chủ nghĩa. Nhưng từ sau khi chứng kiến sự chết chóc trong các cuộc xung đột đầy bạo lực giữa những người cộng sản và cảnh sát Viên, ông đã rời bỏ chủ nghĩa Mác và trở thành một trong những người phê phán chủ nghĩa Mác.
14 Khi nước Áo và Đức sát nhập vào nhau, Karl Popper buộc phải rời khỏi Áo cùng với vợ. Ông để lại họ hàng và nhiều người sau này bị Đức quốc xã sát hại. Năm 1937, ông đến New Zealand và giảng dạy triết học như một giảng viên cao cấp tại Đại học Canterbury.