chương 1 và 2, tuy vậy, tôi sẽ giới hạn mình ở việc giải thích các học thuyết phản tự nhiên và theo tự nhiên nào đó tạo thành một cách tiếp cận đặc trưng trong đó cả hai loại học thuyết được kết hợp. Cách tiếp cận, mà đầu tiên tôi muốn giải thích, và chỉ phê phán muộn hơn, được tôi gọi là ‘chủ nghĩa lịch sử’. Thường gặp nó trong các thảo luận về phương pháp của các khoa học xã hội; và nó thường được dùng mà không có nhận xét phê phán, hoặc thậm chí được coi là dĩ nhiên. Tôi hiểu ‘chủ nghĩa lịch sử’ nghĩa là gì sẽ được giải thích đầy đủ trong nghiên cứu này.
Sẽ là đủ nếu tôi nói ở đây rằng tôi hiểu ‘chủ nghĩa lịch sử’ là một cách tiếp cận đối với các khoa học xã hội cho rằng tiên đoán lịch sử là mục đích chính của chúng, và cho rằng mục đích này có thể đạt được bằng khám phá ra các ‘nhịp điệu’ hay ‘hình mẫu’, các ‘qui luật’ hay ‘xu hướng’ làm cơ sở cho tiến hoá của lịch sử. Vì tôi tin chắc rằng cuối cùng các học thuyết lịch sử chủ nghĩa như vậy về phương pháp chịu trách nhiệm về tình trạng thểu não của các khoa học xã hội lí thuyết (ngoài lí thuyết kinh tế), trình bày của tôi về các học thuyết này chắc chắn không phải không có thành kiến. Nhưng tôi đã cố gắng hết sức để biện hộ cho chủ nghĩa lịch sử nhằm tính điểm cho phê phán tiếp sau của tôi. Tôi đã cố gắng để trình bày chủ nghĩa lịch sử như một triết lí thống nhất được cân nhắc kĩ lưỡng.
Và tôi đã không do dự để tạo ra các lí lẽ ủng hộ nó mà, theo hiểu biết của tôi, bản thân các nhà lịch sử chủ nghĩa đã chưa bao giờ đưa ra. Tôi hi vọng, bằng cách này, tôi đã thành công xây đắp một vị trí thật sự đáng tấn công. Nói cách khác, tôi đã cố gắng để hoàn thiện một lí thuyết thường được đưa ra, nhưng có lẽ chẳng bao giờ trong một dạng được phát triển đầy đủ. Đó là lí do vì sao tôi đã chọn một cách có cân nhắc kĩ lưỡng thuật ngữ hơi lạ là ‘chủ nghĩa lịch sử’.
Bằng cách giới thiệu nó tôi hi vọng tránh được trò chơi chữ đơn thuần: vì, tôi hi vọng, chẳng ai sẽ bị cám dỗ để nghi ngờ liệu bất kể lí lẽ nào được thảo luận ở đây có thuộc về chủ nghĩa lịch sử một cách thực sự hay đúng hay bản chất hay không, hoặc thuật ngữ ‘chủ nghĩa lịch sử’ thật sự hay chính xác hay thực chất có nghĩa là gì. 13 I __________________________ CÁC THUYẾT PHẢN-TỰ NHIÊN CỦA CHỦ NGHĨA LỊCH SỬ Ngược lại hoàn toàn chủ nghĩa tự nhiên phương pháp luận trong lĩnh vực xã hội học, chủ nghĩa lịch sử cho rằng vài trong các phương pháp đặc trưng của vật lí học không thể áp dụng được cho các khoa học xã hội, do những khác biệt sâu sắc giữa xã hội học và vật lí học. Nó bảo chúng ta, các định luật vật lí, hoặc ‘các định luật tự nhiên’ có hiệu lực ở mọi nơi và mọi lúc; vì thế giới vật lí được điều khiển bởi một hệ thống các đại lượng vật lí đồng đều bất biến trong không gian và thời gian. Các định luật xã hội học, hoặc các định luật của đời sống xã hội, tuy vậy, lại khác nhau ở các nơi và các giai đoạn khác nhau.
Mặc dù chủ nghĩa lịch sử thừa nhận rằng có nhiều điều kiện xã hội điển hình mà sự tái diễn đều đặn có thể được quan sát, nó từ chối rằng những sự đều đặn có thể phát hiện được trong đời sống xã hội có đặc tính của những sự đều đặn không thể thay đổi được của thế giới vật lí. Vì chúng phụ thuộc vào lịch sử, và vào những khác biệt về văn hoá. Chúng phụ thuộc vào tình thế lịch sử cá biệt. Như thế ta không thể, thí dụ, nói mà không nêu rõ thêm về các qui luật kinh tế, mà chỉ có thể nói về các qui luật kinh tế của giai đoạn phong kiến, hay của thời kì đầu công nghiệp, và vân vân; luôn luôn nhắc đến giai đoạn lịch sử trong đó các qui luật được nói đến được cho là đã thịnh hành.
Chủ nghĩa lịch sử khẳng định rằng tính tương đối lịch sử của các qui luật xã hội làm cho hầu hết phương pháp của vật lí học không thể áp dụng được cho xã hội học. Các lí lẽ lịch sử chủ nghĩa điển hình mà quan niệm này dựa vào liên quan đến khái quát hoá, thí nghiệm, tính phức tạp của các hiện tượng xã hội, những khó khăn của tiên đoán chính xác, và tầm quan trọng của chủ nghĩa bản chất phương pháp luận. Tôi sẽ thảo luận lần lượt các lí lẽ này. 14 1 KHÁI QUÁT HOÁ Theo chủ nghĩa lịch sử, khả năng của khái quát hoá và thành công của nó trong các khoa học vật lí dựa vào tính đồng đều phổ biến của tự nhiên: vào quan sát- có lẽ được mô tả đúng hơn như một giả thiết - rằng trong các hoàn cảnh giống nhau những việc giống nhau xảy ra.
Nguyên lí này, được cho là có hiệu lực cả trong không gian và thời gian, được nói là tạo cơ sở cho phương pháp của vật lí học. Chủ nghĩa lịch sử khẳng định rằng nguyên lí này nhất thiết vô dụng trong xã hội học. Những hoàn cảnh giống nhau chỉ xảy ra trong phạm vi một giai đoạn lịch sử duy nhất. Chúng chẳng bao giờ kéo từ một giai đoạn sang giai đoạn khác.
Do đó không có sự đồng đều dài hạn trong xã hội mà các khái quát hoá dài hạn có thể dựa vào - tức là, nếu chúng ta bỏ qua những sự đều đặn tầm thường, như được chủ nghĩa vị tha mô tả rằng con người luôn sống theo nhóm, hoặc rằng cung của các thứ nào đó có giới hạn còn cung của các thứ khác, như không khí, là vô hạn, và chỉ có các thứ trước có thể có bất kể giá trị thị trường hay trao đổi nào. Theo chủ nghĩa lịch sử, một phương pháp bỏ qua sự hạn chế này và cố khái quát hoá những đồng đều xã hội sẽ ngầm giả thiết rằng những sự đều đặn được nói đến kéo dài muôn thủa; cho nên một quan điểm ấu trĩ về phương pháp luận –quan điểm cho rằng các khoa học xã hội có thể lấy phương pháp khái quát hoá từ vật lí học- sẽ tạo ra một lí thuyết xã hội học sai và lừa dối một cách nguy hiểm. Nó sẽ là một lí thuyết từ chối, rằng xã hội phát triển; hoặc rằng nó từng thay đổi một cách đáng kể; hoặc rằng sự phát triển xã hội, nếu có, có thể tác động đến những tính đều đặn của đời sống xã hội. Các nhà lịch sử chủ nghĩa hay nhấn mạnh rằng đằng sau các lí thuyết sai lầm như vậy thường có một mục đích biện giải; và thực vậy, giả thiết về các qui luật xã hội học không thay đổi có thể dễ bị lạm dụng cho các mục đích như vậy.
Nó có thể xuất hiện, đầu tiên, như lí lẽ rằng các thứ khó chịu và không được ưa phải được chấp nhận vì chúng được các qui luật bất biến của tự nhiên qui định. Thí dụ, ‘các qui luật không lay chuyển được’ của kinh tế học đã được viện dẫn để chứng minh sự vô ích của sự can thiệp theo luật vào mặc cả lương. Một sự lạm dụng biện giải thứ hai của giả thiết về tính dai dẳng là nó nuôi dưỡng cảm nhận chung về tính không thể tránh khỏi, và như thế về sự sẵn sàng cam chịu sự không thể tránh khỏi một cách yên lặng và không có kháng cự. Cái hiện thời sẽ kéo dài mãi mãi, và các mưu toan tác động đến tiến trình của các sự kiện, hoặc ngay cả đánh giá nó, là lố bịch: ta không lí lẽ chống lại các qui luật tự nhiên, và các mưu toan vứt bỏ chúng chỉ có thể dẫn đến thảm hoạ.
Nhà lịch sử chủ nghĩa cho rằng, các lí lẽ bảo thủ, biện giải, thậm chí an phận này là hệ quả tất yếu của đòi hỏi phương pháp theo tự nhiên phải được chấp nhận trong xã hội học. Người theo chủ nghĩa lịch sử phản đối chúng bằng xác nhận rằng những sự đồng đều xã hội khác xa sự đồng đều của các khoa học tự nhiên. Chúng thay đổi từ một giai đoạn lịch sử sang giai đoạn khác, và hoạt động của con người là lực làm thay đổi chúng. Vì 15 những sự đồng đều xã hội không phải là các qui luật tự nhiên, mà là nhân tạo; và mặc dù có thể nói chúng phụ thuộc vào bản chất con người, chúng là vậy vì bản chất con người có năng lực để thay đổi và, có lẽ, để điều khiển chúng.
Vì vậy các thứ có thể được làm tốt lên hay xấu đi; cải cách tích cực không phải là vô ích. Các xu hướng này của chủ nghĩa lịch sử hấp dẫn những người cảm thấy bổn phận phải tích cực; để can thiệp, đặc biệt vào công việc đời, từ chối chấp nhận hiện trạng như cái không thể tránh khỏi. Xu hướng hành động và chống lại sự thoả mãn thuộc bất kể loại nào có thể được gọi là ‘chủ nghĩa hành động’. Tôi sẽ nói kĩ hơn về quan hệ của chủ nghĩa lịch sử với chủ nghĩa hành động ở các mục 17 và 18; nhưng tôi có thể trích dẫn ở đây một lời kêu gọi nổi tiếng của Marx, một nhà lịch sử chủ nghĩa nổi tiếng, biểu hiện thái độ ‘hành động chủ nghĩa’ một cách nổi bật: ‘Các triết gia đã chỉ lí giải thế giới theo những cách khác nhau; vấn đề tuy vậy là biến đổi nó’.1 2 THÍ NGHIỆM Vật lí học sử dụng phương pháp thí nghiệm; tức là, nó đưa ra sự điều khiển nhân tạo, sự cô lập nhân tạo, và do đó đảm bảo sự tái tạo các điều kiện tương tự, và sự tạo ra nhất quán các tác động nhất định.
Phương pháp này hiển nhiên dựa vào ý tưởng rằng ở đâu các điều kiện là gống nhau, những thứ gống nhau sẽ xảy ra. Nhà lịch sử chủ nghĩa cho rằng phương pháp này không thể áp dụng trong xã hội học. Nó cũng chẳng ích gì, anh ta lập luận, ngay cả giả như có thể áp dụng được. Vì các điều kiện giống nhau xuất hiện chỉ trong phạm vi giới hạn của một giai đoạn duy nhất, kết quả của bất kể thí nghiệm nào sẽ có tầm quan trọng rất hạn chế.
Hơn nữa, sự cách li nhân tạo sẽ loại bỏ chính những nhân tố quan trọng nhất trong xã hội học.