Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO 1. Một số vấn đề chung về nguồn nhân lực chất lượng cao 1. Khái niệm và đặc điểm của nguồn nhân lực chất lượng cao 1. Khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao * Khái niệm nguồn nhân lực Nguồn nhân lực (Human Resource) là nguồn lực con người, là yếu tố cấu thành quan trọng của lực lượng sản xuất xã hội, quyết định sức mạnh của một quốc gia, một ngành kinh tế hoặc một địa phương.
Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Theo Liên Hợp quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước” [3, tr. Theo Cơ quan phát triển của Liên hiệp quốc UNDP: "Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước" [26, tr. Theo Tổ chức Lao động quốc tế, nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động.
Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động. 8 Tiếp cận dưới góc độ kinh tế chính trị, có thể hiểu: nguồn nhân lực là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử, được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước.
Từ các cách tiếp cận khác nhau và những nội dung đã nêu, có thể hiểu một cách tổng quát: Nguồn nhân lực là phạm trù chỉ số dân, cơ cấu dân số và nhất là chất lượng con người với tất cả đặc điểm và sức mạnh của nó trong sự phát triển xã hội. *Nguồn lao động Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân. Việc quy định cụ thể về độ tuổi lao động là khác nhau giữa các quốc gia, thậm chí khác nhau qua các thời kỳ trong cùng một quốc gia, tùy thuộc trình độ phát triển của nền kinh tế. Đa số các nước quy định cận dưới (tuổi tối thiểu) của độ tuổi lao động là 15 tuổi, còn cận trên (tuổi tối đa) có sự khác nhau (60 tuổi, hoặc 65 tuổi.
Xét về mặt số lượng, nguồn lao động bao gồm bộ phận dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm công việc nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu làm việc và những người thuộc tình trạng khác (bao gồm cả những người nghỉ hưu trước tuổi quy định). Chất lượng của nguồn lao động là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động với yêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo cho tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu cũng như thỏa mãn cao nhất nhu cầu của người lao động. Chất lượng nguồn lao động còn có thể được hiểu là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nguồn nhân lực. Chất lượng của nguồn lao động về cơ bản được 9 đánh giá ở trình độ chuyên môn, tay nghề - trí lực và sức khoẻ - thể lực của người lao động.
Ngoài ra, có thể xem xét chất lượng nguồn lao động thông qua chỉ tiêu biểu hiện năng lực phẩm chất của người lao động. *Khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao Nguồn nhân lực chất lượng cao là một bộ phận của nguồn nhân lực, đây là khái niệm để chỉ một con người, một người lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định (đại học, trên đại học, cao đẳng, lao động kỹ thuật lành nghề). Giữa chất lượng nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng. Nói đến chất lượng nguồn nhân lực là nói đến tổng thể nguồn nhân lực của một quốc gia, trong đó nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng, là nhóm tinh tuý nhất, có chất lượng nhất.
Bởi vậy, khi bàn về nguồn nhân lực chất lượng cao không thể không đặt trong tổng thể vấn đề chất lượng nguồn nhân lực nói chung của một đất nước. Theo Mác, nguồn nhân lực chất lượng cao là “những con người có năng lực phát triển toàn diện, đủ sức tinh thông toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn” [13, tr 474-475].Lênin, việc nâng cao chất lượng của NNL để có nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp cách mạng được ông đặc biệt coi trọng. Vì vậy, Người đòi hỏi công nhân, nông dân và người lao động phải ra sức học tập, “học, học nữa, học mãi”, phải coi trọng việc học, thực hiện chế độ học tập suốt đời, bởi vì sự thành bại của CNXH phụ thuộc phần lớn vào việc giai cấp công nhân và nhân dân lao động có đủ năng lực làm chủ quá trình sản xuất và xây dựng thành công CNXH hay không. Theo quan niệm của Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam, nguồn nhân lực trình độ cao là “nhóm chuyên gia đầu ngành có trình độ chuyên môn 10 - kỹ thuật tương đương các nước tiên tiến trong khu vực, có đủ năng lực nghiên cứu, tiếp nhận, chuyển giao và đề xuất những giải pháp khoa học, công nghệ; giải quyết về cơ bản những vấn đề phát triển của đất nước và hội nhập với các xu hướng phát triển khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và công nghệ trên thế giới” [24, tr.
Nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn nhân lực phải đáp ứng được yêu cầu của thị trường (yêu cầu của các doanh nghiệp trong và ngoài nước), đó là: có kiến thức chuyên môn, kinh tế, tin học; có kỹ năng, kỹ thuật, tìm và tự tạo việc làm, làm việc an toàn, làm việc hợp tác; có thái độ, tác phong làm việc tốt, trách nhiệm với công việc. Như vậy, nguồn nhân lực chất lượng cao phải là những con người phát triển cả về trí lực và thể lực, cả về khả năng lao động, về tính tích cực chính trị - xã hội, về đạo đức, tình cảm trong sáng. Nguồn nhân lực chất lượng cao có thể không cần đông về số lượng, nhưng phải thực chất. Tóm lại, từ sự phân tích trên có thể hiểu: Nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận tinh hoa của nguồn nhân lực có khả năng đáp ứng nhu cầu cao và biết cách giải quyết tối ưu những vấn đề thực tiễn đặt ra; có trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật cao, có khả năng vận dụng sáng tạo tri thức, kỹ năng được đào tạo và những thành tựu khoa học - công nghệ cao, hiện đại vào quá trình lao động sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng, hiệu quả cao; đồng thời có tác phong làm việc khoa học, tính tổ chức kỷ luật cao; có tinh thần yêu nước nồng nàn, lòng tự tôn dân tộc, có ý chí tự lực, tự cường và phẩm chất đạo đức tốt.
Đặc điểm của nguồn nhân lực chất lượng cao Nguồn nhân lực chất lượng cao có những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận tinh hoa của nguồn nhân lực có khả năng đáp ứng nhu cầu cao và biết cách giải quyết tối ưu những vấn đề thực tiễn đặt ra 11 Thứ hai, nguồn nhân lực chất lượng cao là những người có trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật cao Thứ ba, nguồn nhân lực chất lượng cao là những người có khả năng vận dụng sáng tạo tri thức, kỹ năng được đào tạo và những thành tựu khoa học - công nghệ cao, hiện đại vào quá trình lao động sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng, hiệu quả cao Thứ tư, nguồn nhân lực chất lượng cao là những người có tác phong làm việc khoa học, tính tổ chức kỷ luật cao Thứ năm, nguồn nhân lực chất lượng cao là những người có tinh thần yêu nước nồng nàn, lòng tự tôn dân tộc, có ý chí tự lực, tự cường và phẩm chất đạo đức tốt. Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao đối với phát triển kinh tế xã hội Hiện nay trong quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế của nước CHDCN Lào, nguồn nhân lực chất lượng cao có vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội. Điều này có thể thấy rõ qua các nội dung sau đây: Một là, nguồn nhân lực chất lượng cao quyết định quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội Hai là, nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đóng vai trò quyết định đến khả năng huy động, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác, nhất là trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức Ba là, nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học - công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, đảm bảo cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Bốn là, nguồn nhân lực chất lượng cao tạo điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế vào ASEAN và quốc tế.