Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng và công cuộc đổi mới từ Đại hội IV đến nay, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào xác định phát triển nhân tố con người, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, là nền tảng cốt lõi phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Tỉnh Bò Kẹo có vị trí địa kinh tế đặc thù khi nằm ở khu vực Tam giác vàng và Tứ giác kinh tế, tiếp giáp Thái Lan và Myanmar, đóng vai trò trạm trung chuyển hàng hóa quan trọng giữa Thái Lan - Lào, Thái Lan - Việt Nam và Thái Lan - Trung Quốc. Mặc dù kinh tế địa phương đạt mức tăng trưởng khá và chuyển biến tích cực, công tác phát triển nguồn nhân lực tại Bò Kẹo vẫn bộc lộ nhiều hạn chế về cơ cấu, thể lực và trình độ kỹ thuật. Điều này tạo ra rào cản đối với mục tiêu phát triển bền vững và việc thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội lần thứ IX của tỉnh. Từ đòi hỏi khách quan đó, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu nguồn nhân lực chất lượng cao tại địa bàn này dưới góc độ kinh tế chính trị.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm rõ cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; phân tích và đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại tỉnh Bò Kẹo giai đoạn 2016-2020; từ đó đề xuất các phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả phát triển lực lượng này trong giai đoạn tiếp theo.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 3 nội dung cụ thể:

  1. Hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại tỉnh Bò Kẹo, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào giai đoạn 2016-2020.
  3. Đề xuất phương hướng và hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại tỉnh Bò Kẹo trong những năm tới.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nguồn nhân lực chất lượng cao. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian được giới hạn trong địa giới hành chính tỉnh Bò Kẹo, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian tập trung vào giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng của Chủ tịch Kaysone Phomvihane, các quan điểm chỉ đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (văn kiện Đại hội VII, Đại hội X) và hệ thống pháp luật của Nhà nước Lào, tiêu biểu là Bộ luật Giáo dục ban hành ngày 29/06/2010 theo Nghị định số 136/CP.

Dưới góc độ kinh tế chính trị học, tác giả xác định nguồn nhân lực là tổng hòa thể lực và trí lực kết tinh trong lực lượng lao động xã hội, phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Nguồn nhân lực chất lượng cao được định nghĩa là bộ phận tinh hoa của nguồn nhân lực, có trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật cao, có năng lực vận dụng sáng tạo tri thức và công nghệ hiện đại vào thực tiễn sản xuất nhằm tạo ra năng suất vượt trội, đồng thời sở hữu phẩm chất chính trị, đạo đức và tác phong kỷ luật công nghiệp. Cấu trúc nguồn nhân lực chất lượng cao trong công trình bao gồm 4 nhóm:

  • Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị.
  • Đội ngũ trí thức, nhà khoa học thuộc các lĩnh vực.
  • Lực lượng công nhân kỹ thuật lành nghề trong công nghiệp và dịch vụ.
  • Những nông dân giỏi, giàu kinh nghiệm ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào nông nghiệp.

Khóa luận vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, cùng phương pháp trừu tượng hóa khoa học để hệ thống hóa khung lý thuyết. Ở phần nghiên cứu thực tiễn, tác giả phối hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành gồm:

  • Phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp số liệu.
  • Phương pháp so sánh để đối chiếu dữ liệu giữa các nhóm nhân lực và bài học địa phương.
  • Phương pháp quy nạp và diễn dịch nhằm rút ra các nhận định, kết luận khoa học.

Nguồn dữ liệu sử dụng trong khóa luận gồm các văn kiện đại hội Đảng bộ tỉnh Bò Kẹo lần thứ V (khóa X, tháng 01/2020), báo cáo thống kê chính thức từ các cơ quan hành chính cấp sở của tỉnh Bò Kẹo năm 2020, báo cáo công tác của Liên hiệp Công đoàn tỉnh Bò Kẹo giai đoạn 2016-2020 và các công trình luận án, kỷ yếu hội thảo liên quan của các tác giả đi trước.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về nguồn nhân lực chất lượng cao

Chương này làm rõ hệ thống khái niệm, đặc điểm và vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao trong điều kiện chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế. Tác giả phân tích 5 đặc điểm cơ bản của nguồn nhân lực chất lượng cao: là bộ phận tinh hoa giải quyết tối ưu vấn đề thực tiễn; có trình độ học vấn và chuyên môn cao; có năng lực sáng tạo và ứng dụng công nghệ; có tác phong kỷ luật khoa học; và có phẩm chất đạo đức, tinh thần dân tộc.

Tiêu chí đánh giá được xác lập trên 3 phương diện:

  • Quy mô số lượng theo 4 bộ phận cấu thành.
  • Cơ cấu lao động theo giới tính, độ tuổi và thành phần dân tộc.
  • Chất lượng nhân lực gồm thể lực (chiều cao, cân nặng, sức bền, khả năng chịu áp lực), trí lực (trình độ chuyên môn kỹ thuật), phẩm chất chính trị - đạo đức và ý thức kỷ luật lao động.

Tác giả chỉ ra 6 nhóm nhân tố chi phối quá trình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao: trình độ phát triển kinh tế - xã hội và khoa học - công nghệ; chủ trương, đường lối, quy hoạch của Nhà nước; công tác tuyển dụng và thu hút nhân tài; chính sách sử dụng, tiền lương, đãi ngộ và môi trường làm việc; chất lượng hệ thống giáo dục - đào tạo và y tế; cùng năng lực nội tại, ý thức tự rèn luyện của bản thân người lao động.

Nghiên cứu khảo sát kinh nghiệm thực tiễn từ hai địa phương tiêu biểu của Lào:

  • Thủ đô Viêng Chăn: Đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức xã hội; phát huy sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội; chuẩn hóa quy hoạch cán bộ theo vị trí việc làm; xây dựng quy trình phát hiện, đánh giá nhân lực gắn với khoa học công nghệ.
  • Tỉnh Champasak: Nâng cao chất lượng cán bộ dân tộc thiểu số; hoàn thiện công cụ khuyến khích phát triển nhân lực; đẩy mạnh liên kết đào tạo theo địa chỉ và đào tạo nghề tại chỗ; lồng ghép các nguồn vốn đầu tư trung ương và địa phương.

Từ thực tiễn hai địa phương trên, chương 1 đúc kết 4 bài học cho tỉnh Bò Kẹo: nghiên cứu kinh nghiệm thực tế có chọn lọc; xây dựng chiến lược dựa trên đặc thù địa phương, tránh rập khuôn máy móc; ưu tiên phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo hoạch định chính sách; và thiết lập mối liên kết chặt chẽ giữa trí thức, công nhân lành nghề và nông dân giỏi.

Chương 2: Thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao tại tỉnh Bò Kẹo nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào giai đoạn 2016-2020

Chương 2 tập trung phân tích các điều kiện tác động và thực trạng số lượng, cơ cấu, chất lượng của nguồn nhân lực chất lượng cao tại tỉnh Bò Kẹo giai đoạn 2016-2020. Tỉnh Bò Kẹo được thành lập ngày 26/03/1983, gồm 5 huyện (Huối xai, Tốn phâng, Mâng, Pak tha, Pha ou đôm) với 248 bản và 36 cơ quan cấp sở. Đây là địa phương có diện tích tự nhiên nhỏ nhất trong 18 đơn vị hành chính cấp tỉnh của Lào nhưng nắm giữ vị thế huyết mạch giao thương.

Bối cảnh kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn 2016-2020 ghi nhận nhiều kết quả:

  • Kinh tế tăng trưởng bình quân 7,4%/năm; tổng sản phẩm nội địa (GDP) đạt 3.181,82 tỷ Kíp; GDP bình quân đầu người đạt 1.900,18 USD/năm; tổng thu ngân sách đạt 419,92 tỷ Kíp.
  • Thu hút đầu tư gồm 109 dự án được Quốc hội phê duyệt (trị giá 86,73 tỷ Kíp), 36 dự án ODA (18,42 triệu USD) và 6 dự án đầu tư tư nhân trong và ngoài nước (36,47 triệu USD).
  • Nông nghiệp có 14.760 ha đất ruộng (riêng vụ khô 1.432 ha sản xuất 5.859 tấn lúa), 19.150 ha cao su (sản lượng 6.512 tấn), 6.245,38 ha chuối xuất khẩu sang Trung Quốc (251.000 tấn). Toàn tỉnh có 3.846 cơ sở kinh doanh, 432 nhà máy sản xuất. Khách du lịch năm 2019 đạt 473.765 lượt người, doanh thu du lịch đạt 55,98 triệu USD.
  • Tỷ lệ nhập học tiểu học đạt 98,84%, THPT đạt 98,84%, THCS đạt 86,06%, trẻ 5 tuổi đạt 89,98%. Tổ chức công đoàn phát triển lên 230 công đoàn cơ sở, giải quyết 61 vụ tranh chấp lao động.

Bên cạnh mặt thuận lợi, tỉnh đối mặt với nhiều khó khăn: địa hình đồi núi phức tạp khiến giao thông chưa đồng bộ; ngân sách thâm hụt; 5/15 chỉ tiêu giáo dục chưa đạt kế hoạch; toàn tỉnh còn 95 bản nghèo (chiếm 38,31%) và 9.623 hộ nghèo (chiếm 28,72%).

Về quy mô và cơ cấu, số liệu năm 2020 cho thấy tổng số nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh Bò Kẹo là 9.656 người, phân bổ theo các nhóm cụ thể:

Nhóm đối tượng nhân lực Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Công nhân có tay nghề cao 6.670 69,08
Đội ngũ trí thức 2.424 15,10
Nông dân được đào tạo, bồi dưỡng 521 5,40
Cán bộ lãnh đạo cơ quan nhà nước 41 0,42
Tổng cộng 9.656 100,00

Phân tích cơ cấu nhân lực năm 2020 phản ánh các đặc điểm:

  • Giới tính: Nam giới chiếm 55% (5.295 người), nữ giới chiếm 45% (4.361 người).
  • Độ tuổi: Dưới 35 tuổi chiếm 39,07% (3.748 người); từ 35 đến 49 tuổi chiếm 30,22% (2.899 người); từ 50 đến 60 tuổi chiếm 28,74% (2.757 người); trên 60 tuổi chiếm 1,97% (189 người). Lực lượng lao động dưới 50 tuổi chiếm tới 69,29%, tạo lợi thế về tính năng động và khả năng kế thừa.
  • Cơ cấu dân tộc: Người dân tộc Lào chiếm 68,25% (6.085 người), các dân tộc khác chiếm 31,75% (3.571 người). Tác giả cung cấp dữ liệu cơ cấu dân tộc chi tiết theo Bảng 2.2 của khóa luận:
TT Lĩnh vực nhân lực Dân tộc Lào (Số lượng) Dân tộc Lào (Tỷ lệ %) Dân tộc khác (Số lượng) Dân tộc khác (Tỷ lệ %)
1 Cán bộ nhà nước 32 78 9 22
2 Trí thức 1.332 55 1.092 45
3 Công nhân 4.325 64 2.345 36
4 Nông dân 396 76 125 24

Về chất lượng nguồn nhân lực:

  • Thể lực: Chiều cao, cân nặng và thể lực trung bình của người lao động còn hạn chế so với tiêu chuẩn công nghiệp hiện đại; khả năng thích nghi khi vận hành thiết bị cỡ lớn, làm việc trong môi trường nặng nhọc hoặc điều kiện áp lực tâm lý cao còn yếu.
  • Phẩm chất đạo đức và chính trị: 100% cán bộ lãnh đạo và nông dân có trình độ kỹ thuật đã được kết nạp Đảng; trong khi đó còn 575 trí thức và 2.227 công nhân lành nghề chưa là đảng viên. Đội ngũ nhân lực giữ vững lập trường tư tưởng theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Kaysone Phomvihane, tích cực phòng ngừa các biểu hiện suy thoái đạo đức, lối sống.

Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại tỉnh Bò Kẹo nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào trong giai đoạn tới

Chương 3 xây dựng các định hướng và biện pháp can thiệp nhằm đáp ứng yêu cầu của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội lần thứ IX của tỉnh.

Nội dung giải pháp tập trung vào:

  • Tăng cường công tác lãnh đạo, nâng cao nhận thức của cấp ủy, chính quyền và toàn xã hội về vị trí trung tâm của nguồn nhân lực chất lượng cao trong phát triển kinh tế địa phương.
  • Đổi mới công tác tuyển dụng, quy hoạch và thu hút nhân tài; dành chỉ tiêu biên chế thích đáng để tuyển dụng người có trình độ chuyên môn cao; xây dựng chính sách thu hút chuyên gia đầu ngành tham gia các chương trình trọng điểm.
  • Hoàn thiện chế độ đãi ngộ, cải thiện chính sách tiền lương, phụ cấp, hỗ trợ nhà ở, giải quyết việc làm cho thân nhân và tạo lập môi trường làm việc dân chủ, cung cấp đủ trang thiết bị nghiên cứu.
  • Nâng cao chất lượng hệ thống giáo dục, trường dạy nghề và y tế cơ sở; mở rộng quy mô đào tạo nghề gắn chặt với nhu cầu sử dụng thực tế của doanh nghiệp trên địa bàn và Khu kinh tế đặc biệt Tam giác vàng.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và công bố hệ thống số liệu toàn diện về nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh Bò Kẹo năm 2020:

  • Quy mô tổng thể đạt 9.656 người, trong đó lực lượng công nhân kỹ thuật chiếm tỷ trọng cao nhất (69,08% với 6.670 người), trí thức chiếm 15,10% (2.424 người), nông dân kỹ thuật chiếm 5,40% (521 người) và cán bộ quản lý chiếm 0,42% (41 người).
  • Xác lập bức tranh cơ cấu đa chiều: tỷ lệ giới tính cân bằng (55% nam và 45% nữ); tỷ lệ trẻ hóa cao (39,07% dưới 35 tuổi); tỷ lệ người dân tộc thiểu số tham gia nguồn nhân lực chất lượng cao đạt mức đáng kể (31,75% tổng số nhân lực và chiếm tới 45% trong đội ngũ trí thức).
  • Đánh giá thẳng thắn các chỉ số chất lượng: 100% cán bộ lãnh đạo là đảng viên, tuy nhiên hạn chế lớn nhất nằm ở thể lực và tầm vóc người lao động chưa tương thích với máy móc công nghệ hiện đại.

Về mặt giải pháp, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ gắn với thực tiễn tỉnh Bò Kẹo, bao gồm đổi mới tuyển dụng, hoàn thiện chính sách tiền lương, nhà ở, đầu tư giáo dục nghề nghiệp và đẩy mạnh hợp tác công - tư trong đào tạo.

Về mặt đóng góp khoa học, đây là công trình đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về nguồn nhân lực chất lượng cao tại tỉnh Bò Kẹo dưới giác độ kinh tế chính trị học. Trong khi các công trình trước đây tập trung nghiên cứu cấp độ toàn quốc (Vụ Phát triển nguồn lực con người, Sư Lao Sô Tu Ky, Đavon Butthanuvông) hoặc nghiên cứu tại Việt Nam (Lê Thị Hồng Điệp), đề tài đã lấp khoảng trống tư liệu thực tiễn tại một địa bàn cửa ngõ vùng Tây Bắc nước Lào.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận bộc lộ một số giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu:

  • Dữ liệu nghiên cứu thực trạng chỉ tập trung phản ánh trong giai đoạn 2016-2020; các biến động kinh tế và nhân lực sau năm 2020 chưa được cập nhật.
  • Số liệu thống kê về chất lượng nhân lực chủ yếu tập trung vào các tiêu chí định tính về phẩm chất chính trị, cơ cấu trình độ và tỷ lệ đảng viên; chưa lượng hóa chi tiết các chỉ số về năng suất lao động, trình độ tin học hay khả năng sử dụng ngoại ngữ của người lao động.
  • Phạm vi nghiên cứu chủ yếu dựa trên số liệu từ các cơ quan nhà nước và tổ chức công đoàn; mức độ bao quát các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Khu kinh tế đặc biệt Tam giác vàng còn ở mức độ khái quát.

Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng khảo sát giai đoạn thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội lần thứ IX của tỉnh; đồng thời ứng dụng các phương pháp điều tra xã hội học độc lập nhằm đo lường mức độ tương thích giữa chương trình đào tạo nghề với nhu cầu kỹ thuật của các doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh Bò Kẹo.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Kinh tế chính trị, Quản trị nhân lực, Kinh tế phát triển tại các cơ sở giáo dục đại học của Việt Nam và Lào khi tìm kiếm nguồn tư liệu thực chứng về phát triển nguồn nhân lực địa phương.
  • Cơ quan Đảng, chính quyền, Sở Lao động và Phúc lợi xã hội, Ban Quản lý Khu kinh tế đặc biệt của tỉnh Bò Kẹo và các tỉnh lân cận thuộc khu vực Bắc Lào trong công tác quy hoạch mạng lưới đào tạo nghề và hoạch định chính sách thu hút lao động.

Phần nội dung có giá trị tham khảo cao nhất là hệ thống bảng biểu thống kê chi tiết tại Chương 2 (về phân loại 4 nhóm nhân lực, cơ cấu dân tộc, độ tuổi) và các bài học kinh nghiệm phát triển nhân lực được so sánh giữa Viêng Chăn, Champasak với Bò Kẹo tại Chương 1.

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận phân chia nguồn nhân lực chất lượng cao tỉnh Bò Kẹo thành các nhóm đối tượng nào và nhóm nào chiếm tỷ trọng lớn nhất?
Nguồn nhân lực chất lượng cao được phân chia thành 4 nhóm: cán bộ lãnh đạo quản lý cơ quan nhà nước, đội ngũ trí thức, công nhân có tay nghề cao và nông dân được đào tạo, bồi dưỡng. Trong đó, công nhân có tay nghề cao chiếm tỷ trọng lớn nhất với 69,08% (6.670 người), tiếp theo là đội ngũ trí thức chiếm 15,10% (2.424 người).

Cơ cấu dân tộc của nguồn nhân lực chất lượng cao tỉnh Bò Kẹo năm 2020 có đặc điểm gì?
Người dân tộc Lào (Lào Lùm, Lào Súng, Lào Thâng) chiếm đa số với 68,25% (6.085 người), các dân tộc khác chiếm 31,75% (3.571 người). Tỷ lệ người dân tộc khác phân bố không đồng đều giữa các nhóm: chỉ chiếm 22% trong đội ngũ cán bộ nhà nước và 24% trong nhóm nông dân, nhưng chiếm tới 45% trong đội ngũ trí thức và 36% trong lực lượng công nhân kỹ thuật.

Những chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu nào của tỉnh Bò Kẹo giai đoạn 2016-2020 được ghi nhận trong nghiên cứu?
Giai đoạn 2016-2020, tỉnh Bò Kẹo đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế 7,4%/năm; tổng GDP đạt 3.181,82 tỷ Kíp; GDP bình quân đầu người đạt 1.900,18 USD/năm; thu ngân sách đạt 419,92 tỷ Kíp. Về mặt xã hội, tỷ lệ nhập học tiểu học và THPT đều đạt 98,84%, toàn tỉnh có 248 bản với 95 bản nghèo (38,31%) và 9.623 hộ nghèo (28,72%).

Hạn chế lớn nhất về chất lượng thể lực của nguồn nhân lực chất lượng cao tỉnh Bò Kẹo là gì?
Hạn chế chính là tầm vóc và thể lực trung bình của người lao động còn thấp, chưa đạt các chỉ số sức khỏe của các nước phát triển. Điều này gây khó khăn khi vận hành máy móc thiết bị kích cỡ lớn, hiện đại và làm việc trong các môi trường lao động có cường độ cao hoặc điều kiện nặng nhọc.

Tác giả rút ra những bài học kinh nghiệm nào cho tỉnh Bò Kẹo từ thủ đô Viêng Chăn và tỉnh Champasak?
Khóa luận đúc kết 4 bài học: nghiên cứu bài học từ các tỉnh đi trước; căn cứ vào bối cảnh thực tiễn của Bò Kẹo để xây dựng chiến lược riêng, không dập khuôn máy móc; ưu tiên nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo hoạch định chính sách; và xây dựng chiến lược liên kết đồng bộ giữa phát triển trí thức với công nhân kỹ thuật và nông dân đào tạo bài bản.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp đã hệ thống hóa cơ sở lý luận kinh tế chính trị về nguồn nhân lực chất lượng cao và phân tích thực trạng phát triển lực lượng này tại tỉnh Bò Kẹo giai đoạn 2016-2020 với quy mô 9.656 người. Mặc dù đạt được những chuyển biến về cơ cấu độ tuổi trẻ hóa và cân bằng giới tính, nguồn nhân lực của tỉnh vẫn bộc lộ điểm yếu về thể lực, trình độ kỹ thuật và khoảng cách phát triển giữa các vùng miền. Hệ thống phương hướng và giải pháp do tác giả đề xuất cung cấp luận cứ khoa học có giá trị thực tiễn cho việc xây dựng chính sách phát triển nhân lực trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội lần thứ IX của địa phương.