Chương 1: Một số lí luận cơ bản của chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu công nghiệp. Chương 2: phân tích thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam. Chương 3: Các đề xuất và kiến nghị hoàn thiện chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các khu công nghiệp tình Hà Nam. MỘT SỐ LÍ LUẬN CƠ BẢN CỦA CHÍNH SÁCH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO KHU CÔNG NGHIỆP 1.
Một số khái niệm cơ bản liên quan đến chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu công nghiệp 1. Khái niệm vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là loại hình đầu tư đầu tư quốc tế được thực hiện thông qua việc thành lập các công ty con để mở rộng phạm hoạt động kinh doanh của công ty quốc tế ra toàn cầu. Việc mở rộng sản xuất thông qua các hình thức FDI không chỉ là hoạt động chu chuyển tài chính quốc tế, mà cùng với đó là sự chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm quản lí và các tài sản khác. Người bỏ vốn trong hoạt động đầu tư trực tiếp cũng là người sử dụng vốn, nhà đầu tư là người quản lí hoạt động đầu tư.
Trong hoạt động FDI, người đầu tư bỏ vốn vào một đối tượng nhất định nhằm tăng thêm năng lực sản xuất hiện có hoặc tạo ra năng lực sản xuất mới, họ cũng có thể mua một số cổ phiếu đủ lớn để tham gia quản lí, điều hành hoạt động kinh doanh thu lợi tức. Theo tổ chức WTO đưa ra định nghĩa về FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lí tài sản đó. Phương diện quản lí là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lí ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh.
Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”. Theo quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) định nghĩa: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là vốn đầu tư thực hiện để thu lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư. Mục đích của nhà đầu tư là dành được tiếng nói hiệu quả trong việc quản lí doanh nghiệp đó. Theo khoản 22 Điều 3 Luật Đầu tư 2020, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông.
Doanh nghiệp FDI theo quy định của Luật Đầu tư 2020 được coi là tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 1. Khái niệm chính sách thu hút đầu tư nước ngoài a) Khái niệm chính sách Theo từ điển tiếng anh: “Chính sách là một đường lối các hoạt động được thông qua và theo đuổi bởi chính quyền, đảng, nhà cai trị chính khách…Theo sự giải thích 7 này, chính sách không đơn thuần là quyết định để giải quyết một vấn đề cụ thể, mà nó là đường lối hay phương hướng hành động”. Chính sách là một loạt quyết định quản lý mà tầm ảnh hƣởng của nó lớn hơn các quyết định tác nghiệp. Đó là các quyết định chung, hướng dẫn đối tượng quản lý thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô.
Chính sách tồn tại ở các cấp của hệ thống quản lý bao gồm: Chính sách quốc gia, chính sách ngành, chính sách địa phương, vùng lãnh thổ, công ty và bao gồm nhiều lĩnh vực của đời sống chính trị xã hội. Trong kinh tế có các chính sách cơ bản sau: Chính sách tài chính, tiền tệ, giá cả, đầu tư, thu nhập, ngân sách, tiết kiệm. Chính sách là những tài liệu chỉ dẫn, nó có phạm vi nhất định, việc đề ra chính sách phù hợp sẽ khơi dậy nhiều tiềm năng mới nhờ nó mà nền kinh tế tăng trưởng và phát triển. Vì đối tượng quản lý luôn vận động và biến đổi qua từng thời kỳ nên một chính sách cứng nhắc sẽ mất đi tính hợp lý của nó theo thời gian.
Vì vậy, việc sửa đổi bổ sung hoàn thiện chính sách luôn là điều cần thiết trong bất kể giai đoạn nào của nền kinh tế. - Khái niệm chính sách thu hút FDI Theo cuốn “Đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển kinh tế Việt Nam” (NXB Tư Pháp), nhìn nhận dưới quan điểm của nước sở tại (nước nhận đầu tư) có thể thấy chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài là toàn bộ tư tưởng, quan điểm và biện pháp và công cụ mà nhà nước sử dụng để kiểm soát hoạt động đầu tư nước ngoài nhằm mục đích thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn FDI, hạn chế những tác động tiêu cực và phát huy những mặt tích cực của FDI với sự phát triển kinh tế. Chính sách thu hút FDI bao gồm một tổng thể các quy định, quan điểm, các biện pháp và công cụ mà nhà nước sử dụng để tạo môi trường thuận lợi nhằm thu hút và sử dụng FDI vào các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc gia trong một thời kì nhất định, nhằm đạt được mục tiêu kinh tế vĩ mô đã định trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đó. - Khái niệm chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCN Chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là bộ phận của chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, bao gồm hệ thống các quyết định mà Nhà nước ban hành nhằm áp dụng cho KCN có thể thu hút hiệu quả nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhằm tận dung lợi thế công nghệ, khoa học , chuyển đổi cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy tinh tế trong một thời kì nhất định.
Khái niệm Khu công nghiệp. Theo Nghị định số 82/2018/NĐ-CP, khu công nghiệp được định nghĩa là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho 8 sản xuất công nghiệp, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này. Theo các chuyên gia của tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) trong chương trình hỗ trợ kỹ thuật xây dựng Luật KCN cho Việt Nam, “KCN là khu vực có hàng rào ngăn cách với bên ngoài, chịu sự quản lý riêng, tập trung tất cả các doanh nghiệp hoạt động SXCN theo bất kỳ cơ chế nào, miễn là phù hợp với các quy định và quy hoạch về vị trí ngành nghề. Trong KCN có thể có một phần đất làm khu chế xuất, chuyên sản xuất hàng xuất khẩu và dịch vụ để sản xuất hàng xuất khẩu”.
Luật Đầu tư của Việt Nam năm 2005 định nghĩa: “Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ”. Một số lí thuyết cơ bản của chính sách thu hút đầu tư nước ngoài vào khu công nghiệp. Đặc điểm chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào khu công nghiệp. - Phạm vi đối tượng điều chính: Đối tượng của các chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCN sẽ hẹp hơn với đối tượng chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Đối tượng sẽ tùy thuộc vào đặc điểm riêng của các khu công nghiệp yêu cầ theo các lĩnh vực, theo sự tiếp nhận công nghệ, theo định hướng của từng khu công nghiệp riêng từ đó tiếp nhận những nhà đầu tư nước ngoài cũng như quyết định đầu tư vào nước nhận đầu tư. - Mục tiêu của chính sách thu hút đầu tư nước ngoài vào KCN. • Mục tiêu tổng thể: phát triển khu công nghiệp theo ngành, theo lĩnh vực, theo hướng CNH-HĐH, tập trung vào ngành công nghiệp có lợi thế tại Việt Nam. • Mục tiêu cụ thể: tăng số lượng cá nhân, tổ chức, doan nghiệp đầu tư vào KCN, tăng vốn đầu tư vào KCN, tăng tốc độ tăng trưởng công nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Vai trò của các chính sách thu hút vốn đầu tư vào các khu công nghiệp Chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động FDI ở từng nước. Các chính sách thu hút FDI của chính phủ đề ra có vai trò khuyến khích hay hạn chế FDI, quản lí hoạt động FDI và tạo ra khuôn khổ thể chế hỗ trợ hoạt động FDI. Đối với nước sở tại (nước nhận đầu tư). Tạo ra khuôn khổ ổn định nhằm điều tiết có hiệu quả hoạt động thu hút FDI.
Chính sách thu hút FDI thể hiện rõ ràng, minh bạch quan điểm của chính phủ nước tiếp nhận đầu tư đối với việc thu hút FDI. Chính sách thu hút FDI là căn cứ để các nhà đầu tư nước 9 ngoài hiểu rõ được mục đích, lĩnh vực, phương thức tổ chức thực hiện, mức độ bảo hộ và thái độ của nước tiếp nhận đầu tư với các nhà đầu tư nước ngoài. Chính sách thu hút FDI là căn cứ pháp lý để các cơ quan nhà nước duy trì hoạt động đầu tư nước ngoài theo định hướng quốc gia và gắn với mục tiêu phát triển quốc gia. Hơn nữa chính sách FDI là công cụ để bảo vệ quyền sở hữu và lợi ích nước sở tại.
Việc thực hiện tốt chính sách FDI gia tăng hiệu quả của chính sách tiền tệ - tài khóa. Trên cơ sở các chính sách ban hành, cơ quan nhà nước đưa ra đề xuất về các công cụ và biện pháp để tổ chức các hoạt động vận động đầu tư thích hợp, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng và thay đổi quy trình vận hành. Chính sách thu hút FDI giúp điều tiết các nguồn lực FDI phù hợp với định hướng phát triển của một quốc gia. Chính sách FDI được xây dựng dựa vào nhu cầu FDI đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của nước tiếp nhận đầu tư.
Giúp cho chính phủ và cơ quan quản lí có thể chủ động trong điều tiết hợp lí các nguồn lực:vốn, công nghệ, đất đai… vào các vùng, các ngành nhưng vẫn đảm bảo các lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, bảo vê quyền sở hữu của các nước đầu tư và phát huy lợi thế từng ngành, từng lĩnh vực cũng như từng doanh nghiệp.