ĐẶT VẤN ĐỀ Xã Hua La nằm ở phía Tây Nam của thành phố Sơn La cách trung tâm thành thành phố Sơn La 5km xã tiếp giáp với 3 xã và 1 phường là: Chiềng Ban, Chiềng Cọ, Mường Chanh và phường Chiềng cơi. Xã Hua La có diện tích tự nhiên là 4.171 ha gồm 1652 hộ toàn xã có 7444 nhân khẩu mật độ chiếm 149 người/1 km gồm có 5 dân tộc là: Kinh, Thái, Mông, Mường, Tày cùng chung sống tại 15 bản, 80% dân số làm nông nghiệp, 20% là buôn bán kinh doanh dịch vụ. Thực hiện Quyết định 07/2012/QĐ-TTg ngày 8/2/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành một số chính sách tăng cường công tác Bảo vệ rừng, trong những năm qua Đảng ủy, Hội đồng nhân dân và UBND xã đã chỉ đạo thực hiện 10 nhiệm vụ trong việc phân cấp trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn những khó khăn do điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế xã hội nên trách nhiệm của UBND xã với 10 nhiệm vụ được giao đôi lúc chưa được hoàn thành.
Để có cơ sở đánh giá những kết quả về công tác quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn xã, làm cơ sở đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác này, đề tài khóa luận: “ Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý nhà nước về rừng & đất lâm nghiệp tại xã Hua La, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La” được đề xuất thực hiện. 1 Phần I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm liên quan quản lý rừng, đất lâm nghiệp 1. Khái niệm về rừng Theo quy định tại khoản 3 Điều 2 Luật Lâm nghiệp (năm 2017) khái niệm như sau: Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên.
Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng. Như vậy, theo khái niệm trên, rừng bao gồm các yếu tố: Thực vật rừng tự nhiên hoặc do con người trồng mới hoặc khoanh nuôi tái sinh trên đất trồng rừng, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc thực vật đặc trưng là những thực vật chính chiếm ưu thế; động vật rừng sống hoang dã trong rừng; vi sinh vật rừng; quần xã thực vật rừng phải có một diện tích đủ lớn để tạo ra hoàn cảnh rừng đặc trưng và những yếu tố tự nhiên, môi trường do rừng tạo ra khác với hoàn cảnh bên ngoài, độ khép tán của quần xã thực vật phải từ 0,1 trở lên. Khái niệm bảo vệ rừng Đến nay, chưa có một khái niệm đầy đủ nào về bảo vệ rừng, theo quan điểm của chúng tôi bảo vệ rừng là tổng thể các hoạt động nhằm bảo toàn, phát triển hệ sinh thái rừng hiện có, bao gồm thực vật, động vật rừng, đất lâm nghiệp và các yếu tố tự nhiên khác; phòng, chống những tác động gây thiệt hại đến đa dạng sinh học của rừng, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thái. Như vậy, bảo vệ rừng bao gồm những hoạt động sau: Tổ chức phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm hại đến rừng như: phá rừng, đốt rừng, lấn chiếm rừng, đất lâm nghiệp; khai thác, mua bán, vận chuyển 2 lâm sản; xuất nhập khẩu thực vật rừng, động vật rừng; săn bắn động vật rừng, chăn thả gia súc vào rừng trái quy định của pháp luật.
Thực hiện các biện pháp phòng cháy, chữa cháy; phòng, trừ sâu bệnh hại. Thanh tra, kiểm tra và xử lý các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng. Khái niệm quản lý rừng bền vững Vào đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX thế giới đã quan tâm đến "phát triển bền vững". Khái niệm "phát triển bền vững" hay "khả năng bền vững" được đưa ra trong "chiến lược bảo tồn thế giới" nhằm đáp lại nhận thức và những mối lo ngại ngày càng tăng về sự suy kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên và sự xuống cấp môi trường toàn cầu.
Quan điểm chung của sự phát triển bền vững là bảo đảm sao cho việc đáp ứng nhu cầu của thế hệ hôm nay không làm tổn hại đến việc đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ mai sau; một số khái niệm được đưa ra như sau: Theo Helsinki (1995): “ Quản lý rừng bền vững là sự quản lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng, và duy trì tiềm năng của rừng trong việc thực hiện các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của chúng, ở cấp địa phương, quốc gia và toàn cầu, và không gây ra những tác hại đối với các hệ sinh thái khác”. Theo Tổ chức gỗ nhiệt đới Quốc tế ITTO (2004): “Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý những lâm phần ổn định nhằm đạt được một hoặc nhiều hơn những mục tiêu quản lý đã được đề ra một cách rõ ràng như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ rừng mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng và không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trường tự nhiên và xã hội” Theo quy định tại khoản 19 Điều 2 Luật Lâm nghiệp (năm 2017) khái niệm như sau: Quản lý rừng bền vững là phương thức quản trị rừng bảo đảm đạt được các mục tiêu bảo vệ và phát triển rừng, không làm suy giảm các giá trị và nâng 3 cao giá trị rừng, cải thiện sinh kế, bảo vệ môi trường, góp phần giữ vững quốc phòng, an ninh. Theo định nghĩa này thì quản lý rừng bền vững bao gồm việc bảo vệ, phát triển, khai thác và sử dụng sản phẩm của rừng một cách hợp lý, khai thác sử dụng để đáp ứng các nhu cầu hiện tại nhưng không làm cạn kiệt nguồn tài nguyên cho tương lai, tạo sinh kế cho nhân dân, bảo vệ môi trường, góp phàn giữ vững quốc phòng an ninh. Bảo vệ rừng là để cho rừng tiếp tục phát triển, ngược lại phát triển rừng cũng là cách để bảo vệ tài nguyên rừng.
Do vậy, chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau không tách rời, quản lý rừng bền vững là một mục tiêu nằm trong chiến lược "phát triển bền vững" toàn cầu. Nhưng trong khuôn khổ của luận văn thạc sĩ tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu khía cạnh bảo vệ và phát triển rừng. Tổng quan về quản lý rừng trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình quản lý, bảo vệ và diễn biến rừng Diện tích rừng thế gới từ đầu thế kỷ XX có khoảng 6,0 tỷ ha, đến năm 1958 diện tích rừng trên thế giới giảm xuống còn khoảng 4,4 tỷ ha, chiếm 33% diện tích đất liền, đến năm 1973 diện tích rừng còn 3,8 tỷ ha và đến năm 1995 diện tích rừng thế gới giảm mạnh nhất chỉ còn 2,3 tỷ ha, tốc độ mất rừng hàng năm vào khoảng 20 triệu ha.
Ở Châu Phi và Châu Á Thái Bình Dương đã mất đi khoảng 9 triệu ha rừng, ở Châu Mỹ mất 18,4 triệu ha rừng. Nạn phá rừng diễn ra trầm trọng ở trên 56 nước nhiệt đới, với tốc độ phá rừng đó, đến năm 2000 thế giới đã mất đi khoảng 225 triệu ha rừng. Giai đoạn từ năm 2000 đến 2012 diện tích rừng toàn thế giới tiếp tục mất đi 230 triệu ha, lớn hơn diện tích nước Mông Cổ. Trong khi đó toàn thế gới mới chỉ hình thành được 80 triệu ha rừng mới trồng.
Tại Brazil từ năm 2000 đến 2004, nước này đã phá khoảng 4,0 triệu ha rừng, Indonesia tỷ lệ rừng bị triệt hạ tăng từ 2011 đến 2012 đã biến mất gần 2,0 triệu ha rừng mưa nhiệt đới. Sự mất mát rừng ngày càng tăng còn diễn ra ở Malaysia, Paraguay, Bolivia, Sambia và Angola; 32% diện tích rừng bị giảm trên toàn thế giới chủ yếu là rừng nhiệt đới; Diện tích 4 rừng ở vùng ôn đới chỉ giảm nhẹ, ở đây cũng có nhiều diện tích trồng mới rừng. Tại Đức trong khoảng thời gian từ năm 2000 - 2012, theo nghiên cứu này, đã có 498.000 ha rừng bị biến mất, trong khi diện tích trồng mới rừng là 258. Những nguyên nhân mất rừng là do áp lực gia tăng dân số, do khai phá làm đất trồng trọt, chặt phá rừng lấy gỗ, củi, do cháy rừng.
và từ đó làm cho đất đai bị sói mòn, rửa trôi, sa mạc hoá diễn ra ngày càng mạnh, hàng năm trên thế giới mất đi khoảng 12 tỷ tấn đất bề mặt, với số lượng này có thể sản xuất ra khoảng 50 triệu tấn lương thực mỗi năm; hàng ngàn hồ chứa nước ở vùng nhiệt đới đang bị cạn dần, tuổi thọ của nhiều công trình thuỷ điện vùng nhiệt đới đang bị rút ngắn, đồng thời gây ra hàng loạt những hậu quả như lũ lụt, hạn hán và sụt lở. Hàng 100 triệu người đang phải đối mặt với các thảm họa do mất rừng gây ra. Ngoài ra thế giới cũng đang đối mặt với những thách thức khác bao gồm đa dạng sinh học trở nên nghèo nàn, năng suất rừng thấp hơn, khả năng thực hiện chức năng phòng hộ và đóng góp vào phát triển kinh tế, xã hội kém hơn. Để quản lý lâu dài, bền vững tài nguyên rừng thì theo (FAO), một trong những biện pháp cần tập trung là thành lập các đối tác liên khu và xuyên quốc gia trên cơ sở cùng có lợi và trước những tình trạng rừng vấn bị suy giảm, nhiều quốc gia trên thế giới đã có sự lỗ lực trong công tác quản lý bảo vệ, phát triển rừng và đã có nhiều chuyển biến tích cực như: chuyển từ mục đích sản xuất chỉ mang lại lợi ích kinh tế trước mắt sang sử dụng rừng bền vững, kết hợp cả 3 lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái.
Thế giới đã thực hiện các biện pháp quản lý bảo vệ rừng theo hướng đình chỉ khai thác gỗ vùng đặc chủng, các khu bảo tồn thiên nhiên, phát triển du lịch sinh thái, quan tâm đến tác dụng bảo vệ môi trường và đã đưa ra nhiều biện pháp quản lý bảo vệ rừng theo hướng bền vững.