mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHƢƠNG 2: CÁC LỚP NGHĨA VÀ VAI NGHĨA CỦA CÂU CHỨA NHÓM VỊ TỪ CẢM NGHĨ NÓI NĂNG CHƢƠNG 3: CẤU TRÚC NGHĨA DỤNG HỌC CỦA CÂU CHỨA NHÓM VỊ TỪ CẢM NGHĨ NÓI NĂNG 5 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1/ Cấu trỳc ngữ nghĩa của vị từ 1.1/ Vị từ trong hệ thống từ loại tiếng Việt Theo Nguyễn Kim Thản (1977) [37, tr13]. Trong cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu về động từ tiếng Việt tồn tại 2 quan điểm trái ngƣợc nhau. Quan điểm thứ nhất phủ nhận sự tồn tại của động từ trong hệ thống từ vựng và đồng thời cũng phủ nhận sự tồn tại của các từ loại nói chung. Những tác giả theo quan điểm này là: M.
Grammont); Lê Quang Trinh và H. Grammụng và Lờ Quang Trinh viết: “ Trong tiếng Việt không có mạo từ, danh từ, đại từ, động từ, cũng không có giống, số mà chỉ có những từ không thôi; những từ này đều là đơn âm tiết, nói chung không biến đổi, ý nghĩa của chúng thay đổi hay được xác định nhờ những từ đặt trước hay đặt sau, nghĩa là nhờ chức năng, vị trí của chúng ở trong câu. Vỡ vậy từ “xe” cú thể cú nghĩa là rouler, roule (động từ), roulé, roulant (tính từ), char (danh từ); từ “thương” có thể có nghĩa là aimer, amoureux, amour… " Quan điểm thứ hai thừa nhận sự tồn tại của động từ nhƣng theo quan điểm này lại có ba ý kiến khác nhau về xuất phát điểm cũng nhƣ về kết quả đạt đƣợc. Ý kiến thứ nhất: Vẫn theo quan điểm cũ, lẫn lộn giữa động từ với vị ngữ.
Những ngƣời theo quan điểm này gồm : Trần Trọng Kim và những ngƣời cùng soạn ra Việt Nam văn phạm; Bùi Đức Tịnh. í kiến thứ hai: Chủ yếu dựa vào nghĩa. Theo quan điểm này gồm có các tác giả: G. Aubaret), Trƣơng Vĩnh Ký, A.
Barbier), Nguyễn Lân. 6 í kiến thứ ba: Chủ yếu dựa vào đặc điểm ngữ pháp. Ngƣời theo ý kiến thứ ba này là Lê Văn Lý. ễng viết: “ người chức năng chủ nghĩa tốt nhất là làm việc khụng dựa vào ý nghĩa của các từ mà dựa vào chức năng của chúng, sự ứng phó của chúng và kết cấu của chúng…không phải là nhỡn vào bản thõn từ để tỡm ra cỏi quy định đặc tính của nó, mà phải nhỡn vào hoàn cảnh của nú, tức là các khả năng kết hợp với các từ khác trong ngôn ngữ.” Dựa vào khả năng kết hợp với những từ chứng ( mot – témoin), Lê Văn Lý chia từ trong tiếng Việt làm ba loại chính là: A, B và C.Trong đó loại B lại có hai loại nhỏ hơn là B và B’.
B tƣơng đƣơng với động từ cũn B’ tƣơng đƣơng với tính từ. Theo ông B có những đặc điểm sau: Có khả năng đặt trƣớc nhiều, lắm, bao nhiờu và không thể đặt sau những từ ấy. Đặt sau những từ chỉ loại nhƣ: người, kẻ, sự, đồ, việc, cái, con thỡ trở thành loại A. Có thể đặt trƣớc một từ chỉ định, một từ chỉ phẩm chất qua các từ trung gian nhƣ cỏch.
Có thể đặt sau những từ chỉ vị trí nhƣng phải có một từ môi giới nhƣ: Lúc, khi, chỗ, nơi. Có thể đặt sau những từ chỉ ngôi và những từ nghi vấn. Có thể đặt sau những từ: hóy, cứ, hẵng, kẻo, chớ, gỡ, ước gỡ, vẫn, vốn, đang, đương, sẽ, sắp, đó, chỉ, bị, chịu, đều, thà, đành. Cú thể đặt sau những hỡnh vị phủ định: không, chưa, chả, chẳng, đừng, chớ.
Có thể đặt trƣớc những hỡnh vị phủ định khi đó câu đƣợc tạo ra sẽ là câu nghi vấn 7 Điểm khiến B khác B' là những từ thuộc loại B thỡ khụng thể đặt sau rất, khá, khí, hơi, cũn những từ thuộc B' thỡ cú thể đƣợc. Emeneau) cũng đƣa ra những nhận định về động từ và đƣa ra một bảng trật tự của chuỗi động từ nhƣ sau: 1 2 3 4 Cũng sẽ chớ / đừng tự. đó khụng / chừng chƣa Tuy nhiên thuật ngữ "động từ" (Verb) mà M. Êmênô quan điểm có nghĩa rất rộng: nó bao gồm cả động từ, tính từ lẫn phó từ.
Loại thứ tƣ: gồm các tác giả F.Martini) và tỏc giả cỏc giỏo trỡnh của trƣờng đại học tổng hợp Hà Nội và trƣờng đại học sƣ phạm Hà Nội.Martini đó dựng phƣơng pháp chỉ ra các khả năng hết hợp với những từ chỉ định (này, kia.) với từ chỉ sở thuộc "của", với đại từ (có "là" và khụng cú "là") với định ngữ tính từ, với những từ phủ định để thấy đƣợc sự tồn tại của danh từ và động từ trong tiếng Việt. Dựa vào cả nghĩa lẫn đặc điểm ngữ pháp tác giả giáo trình về Việt ngữ chia từ trong tiếng Việt ra làm hai loại A và B. Trong đó A có đặc điểm: Có khả năng làm vị ngữ trực tiếp sau chủ ngữ mà không cần phải có hệ từ "là". Có thể đứng trƣớc và trực tiếp trƣớc "nhiều, lắm".
8 Có khả năng đứng sau một số tiểu từ tỡnh thỏi "đó, sẽ, đang, đều, chỉ." Nhờ vào các đặc điểm có khả năng kết hợp với "rất, xong" khả năng điệp âm để biểu thị sự giảm nghĩa, có thể chia A thành 3 loại nhỏ: A 1, A2, A3 ( tính từ, trạng từ và động từ) Nhận xét: Tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau về động từ trong tiếng Việt cả về phạm vi lẫn đặc điểm ngữ pháp. Trong luận văn này chúng tôi chủ chƣơng dựa vào cả đặc điểm nội dung lẫn đặc điểm ngữ pháp, nghĩa là dựa vào cả đặc điểm nghĩa lẫn đặc điểm hoạt động ngữ pháp để xem xét vị trí của động từ trong hệ thống từ loại tiếng Việt. Trong tiếng Việt dựa vào đặc điểm hỡnh thức là dựa vào khả năng thay thế bằng từ nghi vấn tức là khả năng trả lời cho câu hỏi. Khả năng kết hợp với các từ nhất định cũng đƣợc sử dụng là một tiêu chí bổ sung.
Dựa vào đặc điểm hỡnh thức cú thể chia từ vựng tiếng Việt ra làm hai nhúm lớn: Nhóm thực từ và nhóm hƣ từ. Nhúm thực từ là nhúm từ cú ý nghĩa từ vựng chõn thực, cụ thể và cú khả năng thay thế bằng từ nghi vấn. Ví dụ: học trũ, đi, chạy, đẹp,. Nhóm hƣ từ: là nhóm từ không có hoặc có rất ít nghĩa từ vựng và hoàn toàn không có khả năng thay thế bằng từ nghi vấn.
Ví dụ: Đó, đang, rất, của, à, ôi, nhỉ. Ngoài hai nhúm trờn, trong tiếng Việt cũn cú một số nhúm từ đứng giữa ranh giới của thực từ và hƣ từ. Chúng có một số đặc điểm của thực từ và cũng có một số đặc điểm của hƣ từ. Nhúm 1: Cỏi, con, quả, chiếc, cuốn, bức, sự, cuộc.
Nhúm 2: Trên, dưới, trong, ngoài, trước, sau. Nhúm 3: Có thể, cần, phải, được, bị, trở nên, trở thành. 9 Đặc điểm chung của những nhóm từ này là: Chỳng khụng cú ý nghĩa từ vựng cụ thể nhƣng chúng lại không hoàn toàn trống nghĩa nhƣ các hƣ từ và chúng có khả năng thay thế bằng từ nghi vấn một cách hạn chế. Chúng cũng có ít khả năng độc lập trả lời cho câu hỏi.
Khi phõn loại chỳng cú nhiều ý kiến khỏc nhau. Cú tỏc giả xếp những nhúm từ trờn thành một khối riờng độc lập nhƣng cũng có ngƣời lại xếp chúng vào khối thực từ hay vào khối hƣ từ. Chúng tôi chọn cách phân loại gần với cách phân loại truyền thống nhất đó là xếp ba nhóm trên vào nhóm thực từ nhƣng trong quá trỡnh nghiờn cứu phải phõn biệt chỳng với cỏc thực từ đích thực. Tiếp tục phân loại nhóm thực từ ta có đƣợc hai nhóm nhỏ đối lập nhau là thể từ và vị từ.
Theo Nguyễn Kim Thản (1977), [37, tr.21] Thể từ có đặc điểm là: Về mặt ý nghĩa, thể từ biểu thị sự vật (gồm cả động vật, thực vật, đồ vật, sự kiện, hiện tƣợng.) Về mặt hỡnh thức thể từ khụng cú khả năng trực tiếp làm vị ngữ mà phải có sự môi giới của hệ từ "là". Vỡ vậy mà thể từ khụng đứng trực tiếp sau: " đều, chẳng, sẽ." và không đứng trƣớc những từ phủ định " khụng, chưa" để tạo câu nghi vấn. Thể từ có khả năng đặt trƣớc những từ chỉ định: này, kia, ấy, đó. Vị từ có đặc điểm: Về mặt ý nghĩa vị từ biểu thị một quỏ trỡnh hay tớnh chất của sự vật.
Về mặt hỡnh thức: Vị từ có khả năng trực tiếp làm vị ngữ mà không cần có sự môi giới của hệ từ "là". 10 Vị từ không có khả năng đặt trƣớc những từ chỉ định: này, kia, ấy, đó. Có một số nhóm từ đứng giữa đƣờng ranh giới của thể từ và vị từ đó là số từ và đại từ. Những nhóm từ này có một số điểm ngữ pháp nhƣ thể từ nhƣng cũng có đặc điểm ngữ pháp nhƣ của vị từ.
Tiếp tục chia nhỏ vị từ ta có hai loại với những nét khu biệt tƣơng đối: động từ và tính từ. ►Định nghĩa động từ: Động từ là những từ biểu thị ý nghĩa vận động hay quá trỡnh của sự vật. [29] Động từ có đặc điểm: -Về mặt ý nghĩa, động từ biểu thị một quá trỡnh, tức là biểu thị hoạt động hay trạng thái nhất định của sự vật trong quá trỡnh. -Về mặt hỡnh thức: Động từ có khả năng bổ sung ý nghĩa thời thể và đứng sau các hƣ từ chỉ thời thể: đó, đang, sẽ.
Có khả năng thay thế bằng "làm sao", "làm gỡ". Có khả năng đứng sau những hƣ từ chỉ sự cầu khiến: hóy, đừng, chớ. -Những đặc điểm ngữ pháp của động từ: Động từ có chức năng tự mỡnh làm thành một vị ngữ trong cõu hoặc làm trung tõm ngữ phỏp, hay hạt nhõn ngữ nghĩa của một vị ngữ biểu hiện nội dung của sự thể.2/ Tình hình nghiên cứu về động từ 11 Có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nghiên cứu về ngữ nghĩa của câu từ nhiều góc độ khác nhau và với những quan điểm khác nhau. Dƣới đây chúng tôi xin đƣợc điểm lại một số tác giả có các công trình nghiên cứu có liên quan tới quan điểm nghiên cứu của luận văn.1/ Các tác giả nƣớc ngoài 1.1/ Fillmore Fillmore là nhà ngôn ngữ học đầu tiên quan tâm tới cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu.
Theo Fillmore thì câu gồm một động từ và một hay nhiều danh từ, mỗi danh từ lại liên hệ với động từ theo một quan hệ cách cụ thể và mỗi quan hệ cách chỉ xuất hiện một lần trong một câu đơn. Mọi câu đơn có các quan hệ cách đặc biệt với câu.