MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cây sắn (Manihot esculenta Crantz) là một cây lương thực quan trọng trên thế giới. Tổ chức Nông Lương thế giới (FAO) đã nhận định rằng: Sắn là cây trồng tiềm năng của thế kỷ 21, bởi không chỉ dễ trồng, có khả năng thích nghi nhanh chóng, mà còn không đòi hỏi quá cao về điều kiện sinh thái, phân bón cũng như chăm sóc. Hiện nay, sắn được trồng trên 100 quốc gia và vùng Lãnh thổ khác nhau, chủ yếu nơi có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới, nằm trong ba châu lục: Châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh.
Bởi những đặc tính về sinh trưởng, sắn thích hợp với hầu hết các loại đất đồi tại nước ta, trong khi đó, địa hình Việt Nam có tới ¾ là đồi núi. Khả năng cải thiện độ phì nhiêu cho đất của cây sắn là không đáng kể, ngược lại, sắn hút từ đất một lượng dinh dưỡng rất lớn, do đó, sắn thường được trồng thưa, tán mỏng. Rễ sắn ăn nông nên gần như không có tác dụng trong việc chống xói mòn đất. Tây Nguyên – mảnh đất chủ yếu là đồi núi, có độ dốc cao, lượng mưa tập trung, cường độ mưa lớn khiến tình trạng xói món đất xảy ra mạnh, làm giảm độ phì nhiêu của đất, ảnh hưởng xấu tới phát triển và năng suất của cây trồng, đặc biệt là cây sắn.
Theo như số liệu từ Tổng cục Thống kê, Tây Nguyên hiện đang là vùng trồng sắn lớn thứ hai Việt Nam. Diện tích trồng được ghi nhận vào năm 2018 là 158 nghìn ha, sản lượng củ tươi đạt 2,855 triệu tấn, chiếm 28,7% tổng sản lượng sắn toàn quốc. Tính riêng tỉnh Đắk Lắk, diện tích sắn là 38,7 nghìn ha, sản lượng đạt trên 729 nghìn tấn (Tổng cục Thống kê, 2018), song phân bố rải rác và được trồng chủ yếu theo lối quảng canh, độc canh trong nhiều năm, một số diện tích ở những nơi là vùng nguyên liệu của các nhà máy chế biến mới được đầu tư thâm canh. Thế nhưng, hầu hết đất trồng sắn tại các địa phương trong tỉnh bị thoái hóa do không sử dụng hợp lý các biện pháp canh tác.
Phần lớn, người dân chưa áp 1 dụng các tiến bộ kỹ thuật trong canh tác như ít sử dụng phân hữu cơ, không chú trọng áp dụng các biện pháp chống xói mòn, xen canh với cây họ đậu cũng như chưa nắm rõ được đặc tính sinh trưởng của cây. Việc sản xuất một cách ồ ạt, tràn lan, không theo quy hoạch, thậm chí khi thấy giá tăng, người dân chuyển đổi diện tích từ cây trồng khác và phá rừng trồng sắn đã gây ra không ít khó khăn cho công tác quản lý và chỉ đạo sản xuất của các cấp. Các giống sắn được trồng phổ biến tại vùng Tây Nguyên hiện nay là: giống KM 419; giống KM 98-5; giống KM 98-7; giống KM 140; giống KM94… Việc nghiên cứu đưa vào thử nghiệm một số dòng sắn nhập nội mới có triển vọng nhằm tìm ra những dòng sắn cho năng suất củ tươi và chất lượng tinh bột cao thay thế những giống sắn truyền thống là rất cần thiết đối với các tỉnh Tây Nguyên. Do đó, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số dòng sắn nhập nội tại thành phố Buôn Ma Thuột”.
Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của các dòng sắn, đánh giá năng suất và hàm lượng tinh bột của các dòng sắn nhập nội từ đó chọn ra được các dòng sắn thích nghi tốt với điều kiện sinh thái và cho năng suất cao so với giống đối chứng. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3.1 Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài sẽ cung cấp những dẫn liệu khoa học về khả năng sinh trưởng, phát triển, tính chống chịu, năng suất và chất lượng một số dòng sắn nhập nội trên vùng đất đỏ bazan tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Qua đó, đóng góp thêm vào nguồn tài liệu khoa học nghiên cứu về các giống sắn trong tương lai và ứng dụng trong thực tế sản xuất.2 Ý nghĩa thực tiễn Trên cơ sở đánh giá sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của một số dòng sắn có triển vọng và thích nghi tại địa phương để đưa vào cơ cấu 2 cây trồng hàng năm, bổ sung thêm bộ giống sắn trong sản xuất, góp phần làm tăng năng suất, sản lượng và nâng cao thu nhập cho dân trồng sắn tại địa phương. Giới hạn của đề tài Đề tài chỉ tập trung đánh giá tình hình sinh trưởng, phát triển, năng suất của một số dòng sắn trên vùng đất đỏ tại xã EaTu, TP.
Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Các biện pháp kỹ thuật khác không nghiên cứu. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu chung về cây sắn 1.
Nguồn gốc và phân loại Theo nghiên cứu cây sắn có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới Châu Mỹ La Tinh và được trồng cách đây khoảng 5. Xét về lịch sử phát triển, cây sắn được người Bồ Đào Nha đưa đến trồng ở Châu Phi vào thế kỷ XVI. Tại châu Á, sắn được trồng đầu tiên ở Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ XVII, ở Srilanka vào đầu thế kỷ XVIII, sau đó đến Trung Quốc, Myanma và các nước Châu Á khác vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Hiện tại, ở Việt Nam chưa có tài liệu chính xác nói về vùng đầu tiên trồng sắn, nhưng thời điểm sắn bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam là khoảng giữa thế kỷ XVIII.
Trước đây, đã từng có rất nhiều ý kiến khác nhau về việc phân loại sắn, tuy nhiên, cho đến nay, tất cả các nhà nghiên cứu đã thống nhất với kết quả phân loại như sau: cây sắn (Manihot Esculenta Crantz) thuộc lớp 2 lá mầm, chi Manihot, họ thầu dầu (Euphobiaceae), bộ ba mảnh vỏ Euphobiales. Tất cả các loài trong chi đều có số lượng nhiễm sắc thể 2n = 36. Đặc điểm sinh vật học của cây sắn 1.1 Rễ sắn Rễ sắn được hình thành từ mắt và mô sẹo của hom, gồm rễ cọc và rất nhiều rễ phụ. Rễ cọc mọc cắm thẳng xuống đất trong khi rễ phụ lúc đầu mọc theo chiều ngang sau đó ăn sâu xuống đất.
Cả hai loại rễ đều có khả năng phát triển thành củ. Cây sắn có thể sinh trưởng được trong điều kiện khô hạn kéo dài. Củ sắn được hình thành từ các rễ phình to lên, thường có hình trụ dài. Tùy vào giống, kỹ thuật canh tác mà hình thái, số lượng và chất lượng củ có sự khác nhau.
Củ sắn tươi được chia làm ba phần: Vỏ củ (bao gồm vỏ gỗ, vỏ thịt), thịt củ và lõi củ. Sắn có thể sống nhiều năm, đến mùa thu hoạch không dỡ củ thì cây vẫn 4 sống bình thường, củ sắn không những không bị thối mà tiếp tục phát triển bằng cách hình thành những vòng bột mới. Khi đó, củ to hơn, hàm lượng tinh bột cao hơn. Một số giống sắn có cuống dài thường nhiều xơ, hàm lượng tinh bột thấp.
Do đó, để đảm bảo sắn có năng suất củ tươi cao nhất chọn giống phù hợp cũng như nắm vững quy trình kỹ thuật chăm sóc và gieo trồng. Thân sắn Sắn là loài cây bụi có chiều cao 1 - 5 m, có nhiều lóng, có phân nhánh hoặc không phân nhánh. Tùy vào giống và đặc điểm sinh thái mà cây có đặc tính phân nhánh khác nhau. Nghiên cứu về tập tính phân nhánh của các giống sắn có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định mật độ trồng thích hợp.
Lá sắn Một số đặc điểm quan trọng để nhận biết giống là: dạng lá, tai lá, màu sắc lá non, màu sắc cuống lá,. Cây sắn thuộc dạng lá đơn, lá phân thùy sâu, mọc so le xếp trên thân có hình xoắn ốc. Mặt trên lá có rất nhiều khí khổng, trung bình 700 lỗ/mm2, những đặc tính này giúp cây sắn có khả năng quang hợp cao, hiệu quả, đặc biệt trong điều kiện khô hạn kéo dài. Hoa và quả Hoa sắn thuộc loại hoa chùm đơn tính cùng gốc, một số giống sắn không có hoa.
Hoa sắn chia làm 2 loại: Hoa cái và hoa đực, cùng hình thành chung trên một chùm hoa. Hoa cái có 5 lá đài dài và có màu sắc sặc sỡ, 2 mép phủ lông tơ mịn, bầu hoa cái gồm 3 ngăn, hoa đực có 5 lá đài dính với nhau và có khoảng 8 - 10 nhị xếp thành 2 vòng. Số lượng hoa đực thường nhiều hơn hoa cái, tùy thuộc vào giống sắn. Trên cùng một cụm hoa, hoa cái thường nở trước hoa đực 5 - 7 ngày.
Do đó những hoa cái nở cuối cùng sẽ nở cùng ngày với hoa đực nở đầu tiên trên cây. Một số giống sắn có hoa lưỡng tính, tập tính ra hoa của sắn phụ thuộc vào đặc tính giống và điều kiện sinh thái nơi trồng. Tại nước ta, sắn trồng ở miền Nam thường có nhiều hoa hơn ở miền Bắc. Đặc biệt, vùng Đức Trọng (Lâm 5 Đồng), sắn rất dễ ra hoa và tỷ lệ đậu hoa cao hơn các vùng khác (Phạm Văn Biên và Hoàng Kim, 1996).
Quả sắn thuộc loại quả mọng, mở khi chín, đường kính 1,0 - 1,5cm chia thành 3 ngăn, mỗi ngăn thường có 1 hạt. Vỏ hạt cứng, khó thấm nước, hạt có dầu nên khó bảo quản. Vỏ quả có 3 lớp: vỏ quả ngoài, vỏ quả giữa, vỏ quả trong. Hạt hình quả trứng, tiết diện hơi giống hình tam giác, hạt có vân hoặc những vết nâu đổ trên nền màu kem hoặc xám nhạt.
Hạt có mồng là một núm phía đỉnh của bì hạt. Hạt sắn được quan tâm nhiều trong công tác chọn giống. Tỷ lệ mọc của hạt bị giảm nhiều khi thời gian lưu trữ tăng và nhiệt độ giữ hạt lý tưởng là 20 - 30 0C. Đặc điểm sinh lý cây sắn Sắn vừa là cây hàng năm vừa là cây đa niên có năm giai đoạn sinh trưởng phát triển tùy thuộc giống, điều kiện môi trường và kỹ thuật canh tác.
Giai đoạn 1: Nảy mầm Sau 5 - 15 ngày trồng, cây sắn bắt đầu nảy mầm, 5 ngày sau trồng, những rễ sắn đầu tiên mọc từ bề mặt cắt của hom, khoảng 5 - 10 ngày tiếp theo xuất hiện mầm đầu tiên. Cách đặt hom ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình nảy mầm của sắn, nếu đặt hom thẳng đứng sẽ nảy mầm nhanh và có ít thân hơn đặt nằm ngang. Thông thường, sắn gieo hạt nảy mầm chậm hơn, khoảng 20 ngày sau gieo nhưng cây con khỏe hơn. Giai đoạn 2: Phát triển hệ thống lá và rễ Sự phát triển của lá và sự hình thành hệ thống rễ xảy ra liên tục trong khoảng từ 20 đến 90 ngày sau trồng.