Khảo sát thực trạng tuân thủ điều trị methadone của bệnh nhân tại trung tâm y tế thành phố thủ dầu một năm 2021

Khảo sát tuân thủ điều trị methadone của bệnh nhân tại trung tâm y tế Thủ Dầu Một năm 2021, cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiệu quả điều trị.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn

2022

64
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MA TÚY, NGHIỆN MA TÚY

1.1. Các khái niệm

1.2. Phân loại chất ma túy

1.3. Hậu quả của việc sử dụng ma túy

2. ĐIỀU TRỊ THAY THẾ NGHIỆN CÁC CDTP BẰNG THUỐC METHADONE

2.1. Thông tin về Methadone

2.2. Biện pháp điều trị bằng thuốc methadone

2.3. Nguyên tắc chung của điều trị Methadone

2.4. Điều trị methadone

2.5. Lợi ích, Ưu nhược điểm của điều trị methadone với người bệnh

2.6. Các tác dụng không mong muốn và cách xử trí

3. TÌNH HÌNH THỰC TẾ ÁP DỤNG ĐIỀU TRỊ VÀ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ METHADONE

3.1. Trên thế giới

3.2. Tại Việt Nam

3.3. Vài nét về Thành Phố Thủ Dầu Một và Cơ sở Methadone Thành Phố Thủ Dầu Một

3.4. Một số đặc điểm của chương trình điều trị Methadone của Cơ sở Methadone Trung tâm Y tế Thành phố Thủ Dầu Một

4. TÍNH CẤP THIẾT ĐỀ TÀI

5. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

5.2. Thời gian nghiên cứu

5.3. Địa điểm nghiên cứu

5.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG CHẤT

5.5. Biến số nghiên cứu

5.6. Thiết kế nghiên cứu

5.7. Phương pháp thu thập số liệu

5.8. Mẫu nghiên cứu

5.9. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

5.10. Đạo đức trong nghiên cứu

6. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

6.1. MÔ TẢ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC CỦA BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ THAY THẾ CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG METHADONE

6.1.1. Đặc điểm dịch tễ học của đối tượng nghiên cứu

6.1.2. Tiền sử sử dụng ma túy trước khi điều trị methadone

6.1.3. Tiền sử cai nghiện ma túy của bệnh nhân

6.1.4. Tình trạng nhiễm bệnh của bệnh nhân trước khi điều trị MTD

6.2. THỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ CỦA BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ THAY THẾ CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG METHADONE

6.2.1. Quá trình điều trị của bệnh nhân

6.2.2. Phân tích thực trạng tuân thủ điều trị methadone của bệnh nhân

6.3. ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC CỦA BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ THAY THẾ CÁC CDTP BẰNG METHADONE

6.4. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ CỦA BỆNH NHÂN NGHIỆN CÁC CDTP BẰNG METHADONE

6.4.1. Quá trình điều trị của bệnh nhân

6.4.2. Phân tích thực trạng tuân thủ điều trị của bệnh nhân

7. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về khảo sát tuân thủ điều trị methadone tại Thủ Dầu Một

Khảo sát tuân thủ điều trị methadone là một vấn đề quan trọng trong việc quản lý và điều trị nghiện ma túy. Tại Thủ Dầu Một, chương trình điều trị methadone đã được triển khai nhằm hỗ trợ người nghiện phục hồi sức khỏe và tái hòa nhập cộng đồng. Việc tuân thủ điều trị không chỉ giúp giảm thiểu tình trạng nghiện mà còn góp phần vào việc giảm lây nhiễm HIV và các bệnh truyền nhiễm khác.

1.1. Tình hình nghiện ma túy tại Thủ Dầu Một

Thủ Dầu Một là một trong những thành phố có tỷ lệ người nghiện ma túy cao. Theo thống kê, số lượng người nghiện ma túy tại đây đang gia tăng, gây ra nhiều vấn đề về sức khỏe và an ninh xã hội.

1.2. Chương trình điều trị methadone tại Thủ Dầu Một

Chương trình điều trị methadone tại Thủ Dầu Một được triển khai từ năm 2008, với mục tiêu giảm thiểu tác hại của nghiện ma túy. Chương trình đã thu hút nhiều bệnh nhân tham gia, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc duy trì tuân thủ điều trị.

II. Vấn đề và thách thức trong tuân thủ điều trị methadone

Mặc dù chương trình điều trị methadone mang lại nhiều lợi ích, nhưng việc tuân thủ điều trị vẫn gặp nhiều khó khăn. Các yếu tố như khoảng cách địa lý, chi phí, và tâm lý của bệnh nhân đều ảnh hưởng đến khả năng tuân thủ điều trị.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị

Nhiều bệnh nhân gặp khó khăn trong việc duy trì lịch trình điều trị do công việc, khoảng cách từ nhà đến cơ sở điều trị, và chi phí đi lại. Những yếu tố này cần được xem xét để cải thiện tỷ lệ tuân thủ.

2.2. Tâm lý của bệnh nhân trong quá trình điều trị

Tâm lý của bệnh nhân cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tuân thủ điều trị. Nhiều bệnh nhân cảm thấy xấu hổ hoặc lo lắng khi tham gia chương trình, điều này có thể dẫn đến việc bỏ dở điều trị.

III. Phương pháp khảo sát tuân thủ điều trị methadone

Khảo sát tuân thủ điều trị methadone được thực hiện thông qua các phương pháp định lượng và định tính. Việc thu thập dữ liệu từ bệnh nhân giúp đánh giá chính xác tình hình tuân thủ và đưa ra các giải pháp phù hợp.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và thu thập dữ liệu

Nghiên cứu được thiết kế với các bảng hỏi và phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân. Dữ liệu thu thập sẽ được phân tích để đưa ra kết luận về tình hình tuân thủ điều trị.

3.2. Phân tích dữ liệu và kết quả khảo sát

Dữ liệu sau khi thu thập sẽ được phân tích bằng các phương pháp thống kê để xác định tỷ lệ tuân thủ và các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ điều trị.

IV. Kết quả khảo sát tuân thủ điều trị methadone tại Thủ Dầu Một

Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ tuân thủ điều trị methadone tại Thủ Dầu Một còn thấp. Nhiều bệnh nhân không thể duy trì điều trị do các yếu tố cá nhân và xã hội.

4.1. Tỷ lệ tuân thủ điều trị methadone

Theo kết quả khảo sát, chỉ có khoảng 60% bệnh nhân tuân thủ điều trị đầy đủ. Điều này cho thấy cần có các biện pháp can thiệp kịp thời để nâng cao tỷ lệ này.

4.2. Các lý do không tuân thủ điều trị

Nhiều bệnh nhân cho biết họ không thể tuân thủ điều trị do lý do cá nhân như công việc, chi phí, và cảm giác xấu hổ khi tham gia chương trình.

V. Giải pháp nâng cao tuân thủ điều trị methadone

Để nâng cao tỷ lệ tuân thủ điều trị methadone, cần có các giải pháp đồng bộ từ chính quyền, cơ sở y tế và cộng đồng. Việc tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh nhân tham gia điều trị là rất quan trọng.

5.1. Tăng cường hỗ trợ từ cộng đồng

Cần có sự hỗ trợ từ cộng đồng để giúp bệnh nhân cảm thấy thoải mái hơn khi tham gia chương trình. Các hoạt động truyền thông có thể giúp nâng cao nhận thức về lợi ích của việc điều trị.

5.2. Cải thiện cơ sở hạ tầng và dịch vụ y tế

Cần cải thiện cơ sở hạ tầng và dịch vụ y tế để tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh nhân. Việc giảm chi phí và khoảng cách đến cơ sở điều trị sẽ giúp nâng cao tỷ lệ tuân thủ.

VI. Kết luận và triển vọng tương lai của điều trị methadone

Khảo sát tuân thủ điều trị methadone tại Thủ Dầu Một cho thấy nhiều thách thức nhưng cũng mở ra cơ hội để cải thiện chương trình. Việc nâng cao tỷ lệ tuân thủ sẽ góp phần quan trọng vào việc giảm thiểu tác hại của nghiện ma túy.

6.1. Tầm quan trọng của tuân thủ điều trị

Tuân thủ điều trị là yếu tố quyết định đến thành công của chương trình methadone. Cần có các biện pháp hỗ trợ để bệnh nhân có thể duy trì điều trị lâu dài.

6.2. Triển vọng tương lai của chương trình methadone

Chương trình methadone có tiềm năng lớn trong việc giảm thiểu tình trạng nghiện ma túy. Cần tiếp tục nghiên cứu và cải tiến để nâng cao hiệu quả điều trị.

16/08/2025
Khảo sát thực trạng tuân thủ điều trị methadone của bệnh nhân tại trung tâm y tế thành phố thủ dầu một năm 2021

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Việc lạm dụng chất gây nghiện trong đó có ma túy đã và đang làm gia tăng mối lo ngại về sức khỏe và bất ổn xã hội cho nhiều quốc gia trên thế giới. Ma túy và tình trạng lạm dụng chất gây nghiện đƣợc xem là mang tính toàn cầu gây ra nhiều tổn thất về nguồn lực xã hội nhƣ: Kinh tế, con ngƣời, mất an ninh trật tự an toàn xã hội và làm giảm giá trị cuộc sống. Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) nghiện ma túy đƣợc định nghĩa là “Tình trạng bệnh mạn tính, tái diễn của não bộ, biểu hiện bằng việc ngƣời bệnh bắt buộc phải tìm kiếm và sử dụng ma túy, bất chấp hậu quả về sức khỏe và xã hội có liên quan đến việc sử dụng” Ngoài ra, rối loạn do sử dụng ma túy chiếm tỷ lệ cao và gây gánh nặng nhất trong số những rối loạn do sử dụng chất gây nghiện. Vào năm 2015, gần 12 triệu gánh nặng bệnh tật, hay 70 % gánh nặng toàn cầu do rối loạn sử dụng ma túy có liên quan đến Opioid.

Ma túy đang làm suy thoái nhân cách, phẩm giá, tàn phá cuộc sống yên vui gia đình, kinh tế, xã hội, làm gia tăng tội phạm, bạo lực, tham nhũng…và nghiêm trọng hơn cả là tác nhân chủ yếu thúc đẩy căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS. Năm 2006, trên Thế Giới có khoảng 208 triệu ngƣời đã từng sử dụng ma túy ít nhất 1 lần và sau 8 năm, năm 2014 con số đó lên đến 247 triệu ngƣời. Số ngƣời nghiện ma túy trên Thế Giới năm 2006 là 26 triệu ngƣời nhƣng năm 2014 có đến 29,5 triệu ngƣời. Trong 12 triệu ngƣời nghiện chích ma túy có 1,6 triệu ngƣời nhiễm HIV và 6 triệu ngƣời nhiễm viêm gan C.

Hiện nay, thuốc phổ biến đƣợc sử dụng để điều trị thay thế cho ngƣời nghiện chất dạng thuốc phiện (CDTP) là Methadone .Các nghiên cứu trên Thế Giới đều cho thấy rõ hiệu quả của việc điều trị nghiện các (CDTP) bằng Methadone làm giảm sử dụng ma túy bất hợp pháp, giảm nguy cơ lây nhiễm HIV, giảm tội phạm liên quan đến ma túy đồng thời còn đem lại các lợi ích về kinh tế và trật tự an toàn xã hội. 1 Tại Việt Nam, điều trị nghiện các (CDTP) bằng thuốc Methadone bắt đầu đƣợc triển khai thí điểm tại Hải Phòng và TP.Hồ Chí Minh năm 2008. Cho đến nay, chƣơng trình đã đƣợc triển khai rộng khắp các tỉnh thành cả nƣớc với 314 cơ sở điều trị cho hơn 54. Chƣơng trình điều trị nghiện các (CDTP) bằng Methadone đƣợc xem là một trong những biện pháp tối ƣu nhằm giảm tỷ lệ tiêm chích ma túy và lây nhiễm HIV, nhƣng để đạt đƣợc thành công thì quá trình điều trị Methadone đòi hỏi bệnh nhân phải tự nguyện tuân thủ điều trị theo quy định của chƣơng trình.

Trong khi đó, nghiện ma túy là sự lệ thuộc, thèm nhớ kéo dài trở thành bệnh mạn tính mà việc uống Methadone phải đƣợc duy trì hàng ngày, nên việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân cũng gặp rất nhiều trở ngại nhƣ: Bận công việc, khoảng cách địa lý, phƣơng tiện đi lại, thời tiết, dịch bệnh, chi phí để tham gia chƣơng trình…vì vậy đã dẫn đến việc bệnh nhân sẽ bị nhỡ liều hoặc bỏ dở giữa chừng dẫn đến việc điều trị thất bại. Và những bệnh nhân bỏ trị này có nguy cơ quay lại sử dụng các chất dạng thuốc phiện bất hợp pháp là rất cao, điều này làm gia tăng tình hình mất trật tự xã hội, tăng tỷ lệ nhiễm các bệnh lây truyền nhƣ HIV, viêm gan B, C…Chính vì vậy, việc bệnh nhân ý thức tự nguyện việc tuân thủ điều trị trong chƣơng trình Methadone là rất quan trọng vì đây là liều thuốc vàng cho ngƣời nghiện Heroin. Từ những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát thực trạng tuân thủ điều trị Methadone của bệnh nhân tại Trung tâm Y tế Thành Phố Thủ Dầu Một năm 2021”. Với hai mục tiêu nghiên cứu sau: 1.

Mô tả đặc điểm dịch tễ học của bệnh nhân điều trị thay thế các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tại Trung tâm Y tế Thành Phố Thủ Dầu Một; 2. Phân tích thực trạng tuân thủ điều trị của bệnh nhân điều trị thay thế các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tại Trung tâm Y tế Thành Phố Thủ Dầu Một; 2 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ MA TÚY, NGHIỆN MA TÚY 1. Các khái niệm Theo Luật phòng, chống ma túy, luật số 23/2000/QH 10 ngày 19 tháng 12 năm 2000, chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hƣớng thần đƣợc quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành.

Theo thông tƣ số 20/201/TT-BYT ngày 10 tháng 5 năm 2017 của Bộ Y tế về việc quy định về quản lý thuốc và nguyên liệu làm thuốc phải kiểm soát đặc biệt. Theo tổ chức Y tế thế giới, các chất gây nghiện dạng Opioid là một nhóm các chất kích thích thần kinh đƣợc chiết xuất từ cây thuốc phiện bao gồm thuốc phiện, morphin, codein và các loại khác. Thuật ngữ Opiate cũng đƣợc dùng cho loại heroin bán tổng hợp đƣợc chiết xuất từ hợp chất của cây thuốc phiện. Thuật ngữ “Opioid” (ma túy) cũng đƣợc dùng để chỉ thuốc có chất gây nghiện Opiate và các hợp chất tổng hợp và bán tổng hợp với các đặc tính tƣơng tự.

Ma túy là các chất gây nghiện tác động lên các cơ quan thụ cảm thuộc nhóm Opioid trong não. Ma túy thƣờng đƣợc dùng qua đƣờng tiêm chích, nhai nuốt hoặc hút khói khi đốt lên. Sử dụng ma túy thƣờng xuyên sẽ dẫn đến nghiện. Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với ngƣời sử dụng.

Chất dạng thuốc phiện là tên gọi chung cho nhiều chất nhƣ thuốc phiện, heroin, morphin, buprenonrphine, codein, pethidine, fentanyle. Ngƣời nghiện ma túy là ngƣời sử dụng chất ma túy và bị lệ thuộc vào các chất này. Cai nghiện là ngừng sử dụng hoặc giảm chất ma túy mà ngƣời nghiện thƣờng sử dụng. Việc cai nghiện sẽ dẫn tới ngƣời bệnh xuất hiện hội chứng cai nên cần đƣợc điều trị.

3 Hội chứng cai là trạng thái cơ thể ngƣời nghiện khi thiếu (do cắt giảm) chất ma túy đang sử dụng. Mỗi loại ma túy khác nhau có các biểu hiện lâm sàng của hội chứng cai khác nhau. Phân loại chất ma túy Theo nguồn gốc: Ma túy đƣợc phân chia thành 3 loại: Ma túy tự nhiên: Là sản phẩm của các cây trồng tự nhiên và các chế phẩm của chúng nhƣ thuốc phiện, cần sa, cocain. Ma túy bán tổng hợp: Là các chất ma túy đƣợc chế từ ma túy tự nhiên và một số chất phụ gia khác, có tác dụng mạnh hơn chất ban đầu nhƣ heroin.

Ma túy tổng hợp: Là các loại ma túy đƣợc điều chế bằng phƣơng pháp tổng hợp hóa học toàn phần từ hóa chất nhƣ: thuốc lắc, ma túy đá… Theo mức độ gây nghiện và khả năng bị lạm dụng: ma túy đƣợc chia thành 2 loại Ma túy có hiệu lực cao: Là các chất ma túy chỉ cần sử dụng với một lƣợng nhỏ đã có thể thay đổi trạng thái tâm sinh lý của ngƣời sử dụng, và sử dụng vài lần có thể nghiện. Ví dụ: thuốc phiện, heroin, cocain, thuốc lắc… Ma túy có hiệu lực thấp: Là các chất ma túy phải sử dụng nhiều lần với một lƣợng lớn thì mới làm thay đổi đƣợc trạng thái tâm sinh lý của ngƣời dùng và gây nghiện, Ví dụ: thuốc lá, thuốc lào… Theo tác dụng: Ma túy đƣợc chia thành 3 loại: Nhóm thuốc an thần, ức chế hệ thần kinh trung ƣơng: Thuốc phiện ,những chất chế ra từ thuốc phiện (heroin, morphin, cocain, methadone và pethidine) và thuốc ngủ. Tác động chủ yếu khi sử dụng là buồn ngủ, an thần, yên dịu, giảm nhịp tim, giảm hô hấp… Nhóm các chất kích thích: Bao gồm amphetamine và các dẫn xuất của nó, có tác dụng làm tăng sinh lực, gây hƣng phấn, tăng hoạt động của cơ thể, tăng nhịp tim, hô hấp… 4 Nhóm các chất gây ảo giác: Điển hình gồm ma túy gây ảo giác, ecstasy (thuốc lắc). Việc sử dụng các chất này với lƣợng lớn có thể làm thay đổi nhận thức về hiện tại, về môi trƣờng xung quanh, khiến cho ngƣời dùng có thể nghe thấy, nhìn thấy những sự việc không có thật (ảo thanh, ảo giác) Theo luật pháp: Ma túy đƣợc phân thành 2 loại: Ma túy hợp pháp: Là những loại ma túy thông dụng, rƣợu, bia, thuốc lá (ni-cô-tin), ca-phê-in, thuốc ngủ an thần, thuốc giảm đau thông thƣờng.

Ma túy bất hợp pháp: Theo luật pháp của Việt Nam, những chất ma túy bất hợp pháp có thể kể đến là: thuốc phiện, cần sa, heroin, cocain, thuốc lắc, các chất gây nghiện kích thích dạng Amphetamin… 1. Nghiện ma túy Theo quyết định số 3140/QĐ-BYT ban hành ngày 30 tháng 8 năm 2010 của Bộ trƣởng Bộ Y tế, ngƣời nghiện ma túy là ngƣời sử dụng chất ma túy và bị lệ thuộc vào các chất này. Các triệu chứng của ngƣời nghiện ma túy bao gồm: Thèm muốn mạnh mẽ hoặc cảm thấy buộc phải sử dụng ma túy Khó khăn trong việc kiểm soát thói quen sử dụng ma túy nhƣ thời gian bắt đầu, kết thúc hoặc liều lƣợng sử dụng Xuất hiện hội chứng cai ma túy khi ngừng hoặc giảm đáng kể liều lƣợng. Có khuynh hƣớng tăng liều để chấm dứt hậu quả do liều thấp gây ra.

Sao nhãng các sở thích, công việc trƣớc đây bằng việc tìm kiếm và sử dụng ma túy. Tiếp tục sử dụng ma tuý dù biết tác hại, thậm chí đã có bằng chứng rõ ràng về tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội. Một bệnh nhân đƣợc chẩn đoán là nghiện ma túy khi có tối thiểu 3 trong 6 triệu chứng kể trên trong vòng 12 tháng gần đây. Hậu quả của việc sử dụng ma túy Ma túy ảnh hƣởng đến gia đình: Ma túy làm tiêu hao tiền bạc của bản thân và gia đình, nhu cầu cần tiền để mua ma túy của ngƣời nghiện là rất lớn, mỗi ngày ít nhất từ 50.000đ thậm chí lên đến 1-2 triệu đồng/ngày, vì vậy khi lên cơn nghiện ngƣời nghiện ma túy có thể tiêu tốn hết tiền của, tài sản của gia đình vào việc mua ma túy để thỏa mãn cơn nghiện, hoặc để có tiền sử dụng ma túy, nhiều ngƣời đã trộm cắp, hành nghề mại dâm, thậm chí giết ngƣời ,cƣớp của.

Ảnh hƣởng đến sức khỏe: Đối với hệ hô hấp. Các chất ma túy kích thích hô hấp gây tăng tần số thở trong thời gian ngắn, sau đó sẽ gây ức chế hô hấp, nhất là khi dùng quá liều. Nhiều trƣờng hợp ngƣng thở nếu không cấp cứu kịp thời sẽ dẫn đến tử vong, đôi khi ngƣng thở rất đột ngột.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ