ĐẶT VẤN ĐỀ Chăn nuôi đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế và đáp ứng nguồn thực phẩm dinh duỡng cho con nguời. Tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp ở nuớc ta là 24,7% năm 2005 và là 30% năm 2011, trong đó chăn nuôi heo giữ vai trò chủ đạo trong tổng giá trị ngành chăn nuôi. Hơn nữa, trong chiến luợc phát triển chăn nuôi đến năm 2020 thì chăn nuôi chiếm 42% tổng giá trị ngành nông nghiệp, chăn nuôi heo vẫn giữ vai trò chủ đạo và sẽ đạt sản luợng 35 triệu con (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn). Tuy nhiên bên cạnh đó còn gặp không ít khó khăn do thời tiết bất lợi và dịch bệnh gây ra ảnh huởng nhiều đến sự phát triển của ngành chăn nuôi.
Một trong những bệnh thuờng gặp và cũng gây không ít khó khăn và tổn thất cho nhà chăn nuôi đó là bệnh tiêu chảy của heo con. Tiêu chảy là nguyên nhân quan trọng gây thiệt hại về kinh tế trong chăn nuôi heo. Xuất phát từ tình hình trên cũng nhu đuợc sự cho phép của Bộ môn Thú Y, Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, truờng Đại học Cần Thơ chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Khảo sát tình hình tiêu chảy ở heo con theo mẹ, heo con sau cai sữa và so sánh hiệu quả một số biện pháp phòng trị tại trại heo Thành Phuơng, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai” Mục tiêu đề tài: Xác định tỷ lệ bệnh tiêu chảy ở heo con theo mẹ và heo con sau sai sữa. Khảo sát hiệu quả điều trị bệnh tiêu chảy trên heo con.
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Vài nét về tình hình nghiên cứu hội chứng tiêu chảy ở heo con trong và ngoài nước Bệnh tiêu chảy heo con rất hay gặp trong chăn nuôi heo. Bệnh gây thiệt hại không nhỏ cho ngành chăn nuôi, làm giảm tăng trọng, heo con dễ bị suy kiệt và chết. Một số nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới đã có rất nhiều nhà khoa học đi sâu nghiên cứu về bệnh tiêu chảy heo con.
và cộng sự (1985) cho rằng phương thức cho ăn không phù hợp là nguyên nhân quan trọng gây tiêu chảy ở heo. (1971) đã nhấn mạnh “Khi cơ thể gia súc non bị lạnh kéo dài sẽ làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm số lượng bạch cầu và tác dụng thực bào, giảm khả năng diệt trùng của máu do đó gia súc dễ bị vi khuẩn tấn công”. Năm 1972, Mouwen đã kết luận niêm mạc ruột non của heo có sự biến đổi lớn trong trường hợp heo con tiêu chảy do Rotavirus.M và cộng sự cho biết độc tố Enleroloxin do E.coli sinh ra Enterotoxinogenic Escherichia coli (ETEC) gây ỉa chảy trầm trọng cho heo sơ sinh từ 1 - 4 ngày tuổi. Akita và cộng sự (1993) đã nghiên cứu sản xuất kháng thể đặc hiệu qua lòng đỏ trứng gà dùng trong phòng và chữa tiêu chảy ở heo con.
Những nghiên cứu về bệnh ở Việt Nam Bệnh tiêu chảy heo con ở nước ta đã được nghiên cứu từ năm 1959 tại các cơ sở chăn nuôi tập trung (trại chăn nuôi và các nông trường quốc doanh). Năm 1993, Lê Văn Tạo và cộng sự đã nghiên cứu các yếu tố gây bệnh của các chủng E.coli gây bệnh, chọn chủng E.coli để chế tạo vaccine chết dưới dạng cho uống. Vaccine dùng cho heo con sau đẻ 2 giờ, uống với liều 1ml/con, liên tục trong 3- 5 ngày. Kết quả làm giảm tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy heo con từ 30- 35% so với đối chứng.
Theo Nguyễn Như Thanh và cộng sự (2001) thì bệnh tiêu chảy heo con là một hội chứng hay nói cách khác là một trạng thái lâm sàng rất đa dạng, đặc biệt là dạng viêm dạ dày ruột, tiêu chảy và gầy sút nhanh. Tác nhân gây bệnh chủ yếu là E.coli, ngoài ra có sự tham gia của Salmonella và vai trò thứ yếu là Proteus, Streptococcus. Bệnh xảy ra quanh năm ở những nơi tập trung nhiều gia súc, bệnh thường phát mạnh từ mùa đông sang mùa hè (tháng 11 đến tháng 5) đặc biệt khi thời tiết thay đổi đột ngột (từ oi bức chuyển sang mưa rào, từ khô ẩm chuyển sang rét). Tỷ lệ mắc bệnh tới 50% và tỷ lệ chết tới 30- 45% (Nguyễn Như Thanh, 1997).
Lý Thị Liên Khai (2001) đã phân lập và xác định độc tố ruột của các chủng E.coli gây bệnh tiêu chảy cho heo con. Tác giả cho rằng các chủng K 88 sinh độc tố ruột LT và ST; K99 và 987P sinh độc tố ruột ST, độc tố ruột ST trở nên rất độc khi sức đề kháng của vật chủ giảm, gây tiêu chảy cho heo con đang bú mẹ, phổ biến ở 1 đến 2 tuần tuổi. Theo Đỗ Ngọc Thuý và Cù Hữu Phú (2002), các chủng Enterotoxinogenic Escherichia coli (ETEC) gây bệnh cho heo con ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam thuộc về 5 tổ hợp các yếu tố gây bệnh và 5 nhóm serotype kháng nguyên O (O 149: K91, O8: G7, O8, O101, O64). Trong đó chủng O149: K91 mang các yếu tố gây bệnh F4/STa/STb/LT là chủng phổ biến nhất gây bệnh tiêu chảy ở heo con trước cai sữa.
Trần Thị Hạnh và Đặng Xuân Bình (2002) công bố heo con theo mẹ đều phân lập được E.coli và Cl.perfringens ở hầu hết các cơ quan phủ tạng, trong đó sự có mặt của E.coli luôn chiếm một tỷ lệ cao và rất phổ biến, vi khuẩn yếm khí Cl.perfmgens chỉ được phát hiện ở gan, và ruột non với một tỷ lệ khá cao. Khi sử dụng các sinh phẩm E.coli-sữa, Cl.perfringens-toxoit trong quy trình phòng bệnh tiêu chảy cho heo con, kết quả thu được bước đầu cho thấy tác dụng và hiệu quả khá rõ rệt: đã giảm được số heo con bị mắc bệnh (28,12% so với 55,5%), số ngày điều trị cho mỗi heo bệnh cũng rút ngắn từ 3 ngày xuống còn 1,8 ngày và khống chế được tỷ lệ heo con chết do bị tiêu chảy (7,4% so với đối chứng). Ngoài ra, các sinh phẩm còn cho thấy hiệu quả kinh tế khi khối lượng bình quân lúc cai sữa của heo con được nâng lên 0,46 kg/con và 1,37 kg/con so với đối chứng. Đoàn Thị Kim Dung (2003) dùng Apramycin hoặc Apramycin phối hợp với Bioseptin có tác dụng tốt nhất đối với bệnh tiêu chảy ở heo con (dùng riêng khỏi 80%, dùng phối hợp khỏi 98%).
Bên cạnh đó các phác đồ điều trị đều không thể thiếu được việc bổ sung các chất điện giải cho heo bệnh vì nó nâng cao hiệu quả điều trị, rút ngắn thời gian điều trị. Theo tác giả Đinh Xuân Phát và cộng sự (2005),việc dùng kháng thể chiết tách từ lỏng đỏ trứng đã khống chế bệnh cho hiệu quả cao. Sau khi chế tạo thành công kháng thể E.coli dạng bột từ lòng đỏ trứng gà đã được miễn dịch các chủng K88; K99; 987P? Trịnh Quang Tuyên (2005) qua nghiên cứu cho rằng tỷ lệ nhiễm vi khuẩn môi sinh trong các trại chăn nuôi tập trung cao và có liên quan đến tình hình dịch bệnh của đàn heo.coli có tỷ lệ nhiễm từ 28,5% đến 44,1%, Staphylococcus spp từ 29,8% đến 38,9%, Streptococcus spp từ 24,3% đến 41,3%, giảm xuống khi cơ sở chăn nuôi được cải tạo chuồng trại và nguồn nước cấp.2 Đặc điểm sinh lý heo con 2.1 Chức năng thần kinh và điều nhiệt Ở heo con sơ sinh sự phát triển và chống chọi với các yếu tố ngoại cảnh đều dựa vào vai trò của thần kinh. Tuy nhiên bộ não của heo con phát triển chậm.
Khi mới sinh, não heo sơ sinh chiếm 1/43 khối luợng cơ thể (Truơng Lăng, 2003).Vì vậy hệ thần kinh điều khiển sự cân bằng thân nhiệt ở heo con chua phát triển đầy đủ. Thêm vào đó có một số đặc điểm cơ thể học của heo con làm cho chúng dễ bị mất nhiệt nhu: cấu trúc cơ thể chủ yếu là nuớc (82%), mô duới da chua phát triển, glycogen dự trữ thấp, da mỏng, lông thua. Khi cơ thể bị mất nhiệt sẽ gây rối loạn hoạt động của các cơ quan, truớc hết là hệ tiêu hóa (Lê Minh Hoàng, 2002). Lúc còn ở trong bụng mẹ, sự trao đổi nhiệt của bào thai đuợc xác định do thân nhiệt của heo mẹ.
Sau khi sinh cơ thể của heo con chua có thể bù đắp đuợc luợng nhiệt mất đi do ảnh huởng của môi truờng bên ngoài. Vì vậy, hầu nhu tất cả heo con sau khi sinh đều bị giảm thân nhiệt, sau đó thân nhiệt dần tăng lên cho nên cần thiết phải điều chỉnh nhiệt độ chuồng úm cho heo con: thích hợp nhất là 32 - 34 0C trong tuần đầu và 29 - 30 0C ở tuần sau (Đào Trọng Đạt và ctv, 1996). Bên cạnh việc điều chỉnh nhiệt độ cho đàn heo sơ sinh, việc tiếp nhận luợng sữa đầu đối với nó cũng góp phần quan trọng. Năng luợng sữa đầu cao hơn trong sữa bình thuờng khoảng 20%, vì vậy trong một giờ sau khi sinh, nếu heo con đuợc bú sữa đầu thì 8 - 12 giờ sau thân nhiệt heo con sẽ đuợc ổn định (Nguyễn Ngọc Phục, 2005).
Heo con duới ba tuần tuổi, có khả năng điều nhiệt chua hoàn chỉnh, nên thân nhiệt heo con chua ổn định, nghĩa là sự sinh nhiệt và thải nhiệt chua cân bằng (Phùng Thị Văn, 2004). Trên cơ thể heo con, phần thân có nhiệt độ cao hơn phần chân và phần tai. Ở phần thân thì nhiệt độ ở bụng là cao nhất cho nên khi bị cảm lạnh thì phần bụng bị mất nhiệt nhiều nhất. Nói chung khả năng điều tiết thân nhiệt của heo con duới ba tuần tuổi còn kém, nhất là trong tuần đầu mới đẻ ra, cho nên nếu nuôi heo con trong chuồng có nhiệt độ thấp và ẩm độ cao thì thân nhiệt của heo con hạ xuống nhanh, sức đề kháng giảm và dễ bị bệnh.
Mức độ hạ thân nhiệt nhiều hay ít, nhanh hay chậm chủ yếu phụ thuộc vào nhiệt độ của chuồng nuôi và tuổi của heo con. Nhiệt độ chuồng nuôi càng thấp thân nhiệt của heo hạ xuống càng nhanh. Tuổi heo con càng ít thân nhiệt hạ xuống càng nhiều.2 Hệ miễn dịch Trong 24 - 48 giờ đầu tiên sau khi sinh ruột non heo con có khả năng hấp thu các đại phân tử miễn dịch globulin từ sữa đầu bằng hiện tuợng ẩm bào tạo miễn dịch thụ động cho heo con. Hệ thống miễn dịch ở ruột của heo chua hoàn chỉnh và phát triển chậm nên rất mẫn cảm với mầm bệnh.
Sự phát triển đầy đủ của mô miễn dịch mất 7 - 9 tuần và có thể trễ hơn do cai sữa sớm vào 3 - 4 tuần tuổi (Thomson, 2006). Giảm khả năng miễn dịch gây ra ảnh huởng đến sức khỏe heo con và những biến động trong hệ tiêu hóa của chúng.