ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, vấn đề về sức khỏe của con người đã và đang được quan tâm rất nhiều, lĩnh vực y dược cũng như thực phẩm chức năng đã có nhưng bước phát triển vượt bật trong nhưng năm gần đây. Trên thế giới đã có nhiều nước theo xu hướng sử dụng các sản phẩm thảo dược từ thiên nhiên vì tác dụng mà thảo dược mang lại và vì phù hợp với sinh lý của cơ thể con người, có rất ít tác dụng phụ mà sản phẩm này mang lại. Chính vì lí do trên, việc nghiên cứu về thành phần hóa học mang những hoạt tính sinh học đã và đang được rất nhiều nhà khoa học quan tâm. Tại Việt Nam, đất nước sở hữu một đường bờ biển dài kết hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa quanh năm đã tạo nên những cánh rừng, một hệ thống sinh thái phong phú và đa dạng.
Cây xà cừ (Khaya senegalensis A.Juss) thuộc một trong những loại cây thuốc dân gian ở Việt Nam, được trồng và mọc hoang dại ở nhiều nơi khắp đất nước và đặc biệt là trong các thành phố, tại các trạm y tế, ven đường và trong các nhà dân. Cho tới hiện nay, tại Việt Nam ít có những nghiên cứu về các thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của cây xà cừ (Khaya senegalensis A.Juss) được công bố, cây có những hợp chất limonoid, flavonoid, nhóm các hợp chất phenolic mang nhiều hoạt tính sinh học có giá trị cao, cao chiết methanol với hợp chất 3,7- dideacetylkhivorin có hoạt động ức chế tăng trưởng chống lại các tế bào MCF-7,SiHa và Caco-2 với IC50 khoảng 0,07-0,14 µM (35-69 ppm)[15],. Đặc biệt, cây có hàm lượng flavonoid tương đối cao. Chúng có tác dụng bảo vệ cơ thể, chống oxy hóa, ngăn ngừa viêm, nhiễm trùng, dị ứng, ngăn ngừa xơ vữa động mạnh.
Từ cơ sở khoa học như trên, đề tài: “Khảo sát thành phần hóa học của phân đoạn cao ethyl acetate từ cành cây xà cừ (Khaya senegalensis (Desv.Juss)” được đề xuất nhằm tìm ra những hợp chất mới có hoạt tính sinh học trong cây. Tiêu chí đặt ra là công tác nghiên cứu không làm ảnh hưởng tới việc phát triển của cây mà vẫn bảo vệ hệ sinh thái cho nên nhóm nghiên cứu chỉ thu hái những cành cây được tỉa, những cành khô và nhặt những cành xung quanh cây xà cừ để làm đối tượng nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu: 1 - Khảo sát định lượng polyphenol và flavonoid từ cao chiết cành xà cừ (Khaya senegalensis A. - Khảo sát khả năng kháng oxy hóa từ các phân đoạn cao chiết cành xà cừ (Khaya senegalensis A.
- Cô lập và xác định cấu trúc của các hợp chất trong phân đoạn cao ethyl acetate từ cành xà cừ (Khaya senegalensis A. - Khảo sát hoạt tính kháng oxy hóa trên các hợp chất được cô lập của phân đoạn cao ethyl acetat từ cành xà cừ (Khaya senegalensis A. Đề tài được thực hiện nhằm cô lập hợp chất tự nhiên theo định hướng hoạt tính kháng oxy hóa trên đối tượng cành xà cừ bằng các phương pháp như sắc ký lớp mỏng, sắc ký cột, phương pháp ELISA và phương pháp phổ cộng hưởng từ hạt nhân, phương pháp thống kê. Cách tiếp cận: Dựa trên một số bài thuốc dân gian về tác dụng dược lý từ cây xà cừ kết hợp với một số các nghiên cứu về thành phần hóa học cũng như hoạt tính sinh học mà các bài báo khác trên thế giới đã đề cập.
Trên cơ sở đó chủ nhiệm đề tài đã đề xuất nghiên cứu cô lập hợp chất tự nhiên theo định hướng hoạt tính sinh học từ cành cây xà cừ. Phạm vi nghiên cứu: Định lượng hợp chất polyphenol và flavonoid của các phân đoạn cao chiết từ cành xà cừ. Khảo sát hoạt tính kháng oxy hóa của các phân đoạn cao chiết từ cành xà cừ. Cô lập hợp chất hữu cơ trên phân đoạn cao chiết tiềm năng sau khảo sát khả năng kháng oxy hóa và khảo sát hoạt tính kháng oxy hóa trên chính hợp chất đã cô lập.
Phạm vi không gian: đề tài chỉ tập trung về việc điều tra, đánh giá chất lượng của hợp chất cô lập được trên đối tường được thu nhận trong một khu vực nhất định và ở đây là khu vực Thành phố Thủ Dầu Một thuộc tỉnh Bình Dương. Nghiên cứu được thực hiện tại địa điểm phòng thí nghiệm Sinh hóa thuộc Khoa Công nghệ Sinh học – Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh. Phạm vi thời gian: đề tài được thực hiện theo kế hoạch của trường thời gian từ tháng 5 đến tháng 9 năm 2022. 2 PHẦN I: TỔNG QUAN 3 1.
Tổng quan về cây xà cừ (Khaya senegalensis A. Giới thiệu loài & nguồn gốc Cây xà cừ hay còn có tên gọi khác là cây sọ khỉ, tên khoa học là Khaya senegalensis là loài cây thân gỗ thuộc họ Xoan (Meliaceae) có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới Châu Phi và Madagascar. Cây xà cừ bắt nguồn từ Mauritania, rừng hoang mạc Sahara từ Senegal đến đông bắc Uganda, Châu phi như Cameroon, Cộng hòa Trung Phi, Chad, Bờ Biển Ngà, Guinea Xích Đạo, Gambia, Ghana, Guinea, Guinea-Bissau Mali, Niger, Nigeria, Senegal, Sierra Leone, Sudan, Togo, Uganda. Ngoài ra Khaya senegalensis còn được tìm thấy ở nhiều nước khác như Úc, Cuba, Ấn độ, Indonesia, Puerto Rico, Singapore, Nam Phi và Việt Nam.
Tại Việt Nam, cây xà cừ được trồng và mọc hoang dại tại nhiều nơi khắp đất nước, được tìm thấy nhiều nhất ở phía Nam và Tây Nguyên, đặc biệt là trong các thành phố, tại các trạm y tế, bệnh viện, trường học…, ven đường và trong các nhà dân [1]. Phân loại khoa học Họ: Xoan (Meliaceae) Chi: Xà cừ, Sọ khỉ (Khaya) Loài: Gỗ gụ Senegal (Khaya senegalensis (Desv. Mô tả thực vật Xà cừ (Khaya senegalensis): Đại mộc cao 15-30 m, đường kính khoảng 1,0-2,5 m. Vỏ non có màu xám, nhẵn, bong vẩy tròn.
Vỏ khi nứt có nhưng khoanh tròn như cái sọ nên cây còn có tên gọi khác là sọ khỉ. Các lá mọc so le, lá non có màu tím nhạt, lá chét mọc đối hoặc gần giống, hình elip đến thuôn dài 5-12 cm x 2,5-5 cm, mép toàn bộ, mỏng như da, sáng bóng, gân lá nhọn với 8-10 cặp gân bên. Hoa xếp thành chùm ở nách hoặc dường như ở cuối dài tới 20 cm, hoa nhỏ có màu trắng xếp thành cụm. Hoa đơn tính, hoa đực và hoa cái, hình dáng rất giống nhau, cuống dài 1-2 mm, đài hoa chia thùy gần như tận gốc, có thùy tròn dài 1,5 mm, nhị hoa hợp thành ống hình bầu dài 5 mm, thường có 8 bao phấn ở gần đỉnh, xen kẽ với 4 các thùy tròn, đầu nhụy hình đĩa.
Hoa đực có bầu noãn thô, hoa cái có bao phấn nhỏ hơn, không phân nhánh. Quả mọc thẳng, gần hình cầu, quả nang hóa gỗ, đường kính 4–6 cm, màu xám nhạt đến nâu xám, phân thành 4 van, nhiều hạt. Hạt hình đĩa hoặc hình tứ giác, dẹt mạnh, có cánh hẹp quanh mép, màu nâu. Cây con có khả năng nảy mầm dưới lá mầm, các lá mầm còn lại nằm trong vỏ hạt, trụ trên lá mầm dài 5-6 cm, hai lá đầu mọc đối, đơn giản [1].
Cây xà cừ (Khaya senegalensis A.Juss) Nguồn: Internet 1. Giá trị kinh tế Hiện nay, với đặc tính dẻo dai và các thớ gỗ liên kết chặc chẽ rất ít bị giãn nỡ ra nên gỗ xà cừ dễ uốn nắn, thiết kế tạo hình dạng và mang giá trị kinh tế rất cao. Trong trang trí nội thất, gỗ xà cừ không chỉ mang những ý nghĩa về phong thủy nhất định mà còn mang lại cho nhưng căn phòng sau khi trang trí sẽ thêm phần trang trọng hơn. Gỗ xà cừ được sử dụng để chế tạo những đồ, vật dụng gia dụng khác nhau có tuổi thọ cao.
Đối với cảnh quan môi trường, rễ cây xà cừ có thể bám chặt trên đất, chống chịu mưa bão, xói mòn đất. Thân cây lớn, nhiều cành, tán lá nhiều, xum xuê nên thường được trồng nhiều ở các khu đô thị để tạo nên không gian xanh và làm bóng râm che mát. 5 Đối với y học, có tác dụng đáng ngạc nhiên trong chữa các bênh như bệnh ho, ghẻ, các triệu chứng đau nhức, sưng tấy, sốt rét, tiêu chảy và các bệnh về da liễu. Ngoài ra, cây xà cừ có thể phát triển ngay trên những vùng đất khô cằn, ít bị sâu bệnh gây hại nên rất dễ trồng và mang lại giá trị kinh tế rất cao.
Các nghiên cứu về thành phần hóa học Hiện nay, cây xà cừ đã được biết là có sự phong phú và đa dạng về cấu trúc của các limonoid, có một số công trình khoa học nghiên cứu về thành phần hóa học của cây. Các nghiên cứu trong nước Năm 2016, Vũ Thị Hiền và cộng sự, thành phần hóa học của quả Khaya senegalensis có bốn limonoid, seneganolide A (1), khayanone (2), khayanolide B (3), 6-acetoxy-methyl angolensate (4), và hai flavonoid, (-)-epicatechin (5) và quercitrin (6) được phân lập từ chiết xuất etyl acetat của quả Khaya senegalensis[1]. Các nghiên cứu từ nước ngoài 1. Từ vỏ & thân cây: Năm 1982, Ulubelen và cộng sự đã phân lập được hợp chất aesculetin (85) từ cây xà cừ (Khaya senegalensis)[6].
Năm 1996, Olmo và cộng sự đã phân lập được ba hợp chất limonoid mới được gọi tên là methyl-1α,6,8α,14β,30β-pentahydroxy-3-oxo-[3.11,4]-tricyclomeliac- 7-oate (79); metyl-1α,2β,3α,6,8α,14β-hexahydroxy-[4.11,4]- tricyclomeliac-7-oate (80) và metyl-1α-acetoxy-2β,3α,6,8α,14β-pentahydroxy- [4. Năm 1998, Khalid và cộng sự đã phân lập được một limonoid mới là 2,6- dihydroxyfissinolide (40); từ vỏ cây Khaya senegalensis[8]. Năm 2000, Samir và cộng sự; đã phân lập được hợp chất khayalactol (15) từ vỏ thân cây Khaya senegalensis[9]. 6 Năm 2001, Abdelgaleil và cộng sự đã tách được ba limonoid, được đặt tên là khayanolide A, B và C, được phân lập làm chất chống côn trùng cùng với bốn hợp chất vòng B, D-seco, seneganolide (11), methyl angolensate (12) và các dẫn xuất 6- hydroxy (10) và 6-acetoxy (4) của nó từ ether chiết xuất từ vỏ thân cây Khaya senegalensis[10].
Năm 2001, Kayser và cộng sự đã phân lập được hai proanthocyanidin dimeric, catechin-(4a,6)-catechin (83) và catechin-(4a,8)-catechin (84), từ vỏ cây Khaya senegalensis[11]. Năm 2002, Nakatani và cộng sự đã phân lập được hai có tên khayanolide D (16) và E (17) và một limonoid glucoside có tên khayanoside (18) đã được phân lập làm thuốc chống côn trùng từ vỏ thân cây Khaya senegalensis của Ai Cập[12]. Năm 2004, El-Aswad và cộng sự đã phân lập được ba limonoid loại phragmalin, khayanolide A (13), khayanolide B (3) và 1‐O‐acetyl-khayanolide B (14) và một limonoid loại mexicanolide là khayalactol (15) từ vỏ thân cây Khaya senegalensis (Desr) A. Năm 2007, Zhang và cộng sự đã phân lập được D-seco limonoid, được đặt tên là 1,3,7- trideacetylkhivorin (65) từ vỏ thân của cây gỗ gụ Châu Phi Khaya senegalensis (Meliaceae)[14].
Năm 2007, Zhang và cộng sự tách được các hợp chất deacetylkhayanolide E (88), 6 S-hydroxykhayalactone (89), grandifolide (90), 1-O-deacetylkhayanolide (91) từ chiết xuất methanol của vỏ thân cây Khaya senegalensis[15].