Khóa luận khảo sát thành phần hóa học của cây đinh lăng trổ Polyscias guilfoylei

Luận văn tốt nghiệp hóa học nghiên cứu khảo sát thành phần hóa học vỏ thân cây đinh lăng trổ polyscias guilfoylei bail họ nhân sâm, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề xuất

Chuyên ngành

Hóa Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2011

58
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. MÔ TẢ THỰC VẬT

1.2. THÀNH PHẦN HÓA HỌC

1.3. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ DƯỢC TÍNH

2. CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM

2.1. HÓA CHẤT – THIẾT BỊ

2.2. KHẢO SÁT NGUYÊN LIỆU

2.3. ĐIỀU CHẾ CÁC LOẠI CAO VÀ CÔ LẬP HỢP CHẤT

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. KHẢO SÁT CẤU TRÚC HÓA HỌC CỦA HỢP CHẤT BU-1

3.2. KHẢO SÁT CẤU TRÚC HÓA HỌC CỦA HỢP CHẤT ED-1

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

TÀI LIỆU THAM KHẢO

appendix.1. PHẦN TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT

appendix.2. PHẦN TÀI LIỆU TIẾNG ANH

appendix.3. PHẦN TÀI LIỆU TRÊN MẠNG INTERNET

Tóm tắt

I. Tổng quan về khảo sát thành phần hóa học cây đinh lăng Polyscias guilfoylei

Cây đinh lăng trổ, hay còn gọi là Polyscias guilfoylei, là một loài thực vật thuộc họ nhân sâm. Loài cây này được biết đến với nhiều công dụng trong y học cổ truyền và đang thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu. Khảo sát thành phần hóa học của cây đinh lăng không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cấu trúc hóa học mà còn mở ra cơ hội ứng dụng trong điều trị bệnh. Nghiên cứu này sẽ tập trung vào việc phân tích các hợp chất có trong cây, từ đó đánh giá tiềm năng dược lý của chúng.

1.1. Mô tả thực vật cây đinh lăng Polyscias guilfoylei

Cây đinh lăng Polyscias guilfoylei có chiều cao từ 3-4m, với thân ít phân nhánh và lá có màu xanh sáng. Hình dáng lá đa dạng, có viền trắng và chia lông chim đều đặn. Đặc điểm này không chỉ tạo nên vẻ đẹp cho cây mà còn là yếu tố quan trọng trong việc nhận diện loài.

1.2. Tầm quan trọng của cây đinh lăng trong y học

Cây đinh lăng từ lâu đã được sử dụng trong y học cổ truyền để bồi bổ sức khỏe và điều trị nhiều bệnh lý. Các nghiên cứu cho thấy cây có khả năng chống lão hóa, tăng cường sức đề kháng và hỗ trợ điều trị một số bệnh như đau đầu, tức ngực.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu cây đinh lăng Polyscias guilfoylei

Mặc dù cây đinh lăng Polyscias guilfoylei có nhiều tiềm năng, nhưng việc nghiên cứu thành phần hóa học của nó vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Thiếu thông tin và tài liệu nghiên cứu cụ thể về loài cây này là một thách thức lớn. Hơn nữa, việc phân tích các hợp chất hóa học cần phải sử dụng các phương pháp hiện đại và chính xác.

2.1. Thiếu tài liệu nghiên cứu về Polyscias guilfoylei

Hiện tại, thông tin về thành phần hóa học của cây Polyscias guilfoylei còn hạn chế. Chỉ một số nghiên cứu sơ bộ đã được thực hiện, điều này gây khó khăn cho việc đánh giá đầy đủ tiềm năng dược lý của cây.

2.2. Khó khăn trong việc phân tích hợp chất hóa học

Việc phân tích các hợp chất hóa học trong cây đinh lăng đòi hỏi kỹ thuật cao và thiết bị hiện đại. Điều này có thể làm tăng chi phí và thời gian nghiên cứu, ảnh hưởng đến tiến độ của các dự án nghiên cứu.

III. Phương pháp khảo sát thành phần hóa học cây đinh lăng Polyscias guilfoylei

Để khảo sát thành phần hóa học của cây đinh lăng Polyscias guilfoylei, các nhà nghiên cứu đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Các phương pháp này bao gồm sắc ký lỏng, phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR) và phân tích khối lượng. Những phương pháp này giúp xác định cấu trúc và thành phần hóa học của các hợp chất trong cây.

3.1. Sử dụng sắc ký lỏng trong phân tích

Sắc ký lỏng là một trong những phương pháp chính được sử dụng để tách và phân tích các hợp chất hóa học trong cây đinh lăng. Phương pháp này cho phép xác định các hợp chất có trong mẫu một cách chính xác và hiệu quả.

3.2. Phân tích bằng phổ cộng hưởng từ hạt nhân

Phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR) là một công cụ mạnh mẽ trong việc xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất. Phương pháp này giúp cung cấp thông tin chi tiết về cấu trúc phân tử của các hợp chất trong cây Polyscias guilfoylei.

IV. Kết quả nghiên cứu thành phần hóa học cây đinh lăng Polyscias guilfoylei

Kết quả nghiên cứu cho thấy cây đinh lăng Polyscias guilfoylei chứa nhiều hợp chất hóa học có giá trị. Các hợp chất này bao gồm isophytol, acid oleanolic và nhiều saponin khác. Những hợp chất này không chỉ có giá trị trong y học mà còn có tiềm năng ứng dụng trong ngành công nghiệp dược phẩm.

4.1. Các hợp chất chính được phát hiện

Nghiên cứu đã phát hiện ra 8 hợp chất hóa học chính từ lá cây Polyscias guilfoylei, trong đó có isophytol và acid oleanolic. Những hợp chất này có khả năng chống viêm và kháng khuẩn, mở ra cơ hội ứng dụng trong điều trị bệnh.

4.2. Tiềm năng ứng dụng trong y học

Các hợp chất hóa học trong cây đinh lăng Polyscias guilfoylei có tiềm năng lớn trong việc phát triển các sản phẩm dược phẩm. Chúng có thể được sử dụng để điều trị nhiều bệnh lý khác nhau, từ bệnh viêm nhiễm đến các bệnh mãn tính.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu cây đinh lăng Polyscias guilfoylei

Nghiên cứu thành phần hóa học của cây đinh lăng Polyscias guilfoylei đã mở ra nhiều hướng đi mới trong việc ứng dụng cây thuốc này trong y học. Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn để khai thác hết tiềm năng của cây. Việc phát triển các sản phẩm từ cây đinh lăng có thể mang lại lợi ích lớn cho sức khỏe cộng đồng.

5.1. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Các nghiên cứu tiếp theo nên tập trung vào việc xác định rõ hơn các hợp chất hóa học và cơ chế tác động của chúng. Điều này sẽ giúp tối ưu hóa việc sử dụng cây đinh lăng trong y học.

5.2. Ứng dụng trong sản xuất dược phẩm

Cây đinh lăng Polyscias guilfoylei có thể trở thành nguồn nguyên liệu quý giá cho ngành dược phẩm. Việc phát triển các sản phẩm từ cây này sẽ góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế.

16/07/2025
Khóa luận khảo sát thành phần hóa học vỏ thân cây đinh lăng trổ polyscias guilfoylei bail họ nhân sâm araliaceae

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN 1. MÔ TẢ THỰC VẬT Cây đinh lăng trổ còn có tên khoa học là Polyscias guilfoylei Bail., thuộc chi Polyscias, họ nhân sâm (Araliaceae). Cây bụi, cao 3-4m, thân cây ít phân nhánh. Lá đa dạng, có màu lục sáng, viền trắng, chia lông chim đều đặn, cuống lá ngắn và to, có sọc hay có đốm, lá chét thuôn, có răng không đều.

Hình 1:Cây đinh lăng trổ Polyscias guilfoylei Bail. THÀNH PHẦN HÓA HỌC Năm 2010, Nguyễn Thị Ánh Tuyết [14] đã cô lập từ lá cây Polyscias guilfoylei Bail. được 8 hợp chất hóa học gồm: isophytol (1); acid oleanolic (2); acid 3-O -β-D- glucuronopyranosyloleanolic (3); hỗn hợp hai chất gồm : acid 3-O-β-D-glucopyranosyl- (1→3)-β-D-glucuronopyranosyloleanolic (4) và acid 3-O-β-D-glucopyranosyl-(1→4)-β-D- glucuronopyranosyloleanolic (5) với tỉ lệ tương ứng là 2:3; acid 3-O-[β-D-glucopyranosyl- (1→3),β-D-glucopyranosyl-(1→4)]-β-D-glucuronopyranosyloleanolic (6); acid 3-O-[β-D- glucopyranosyl-(1→2),β-D-glucopyranosyl-(1→4)]-β-D-glucuronopyranosyloleanolic (7); 3- O-β-D-glucopyranosyl-(1→4)-β-D-glucuronopyranosyloleanolic 28-O-β-D-glucopyranosyl ester (8). Qua các tài liệu tham khảo, nhận thấy chi Polyscias là chi lớn thứ hai trong họ nhân sâm [24].

Trong đó, cây Polyscias guilfoylei Bail. chỉ mới được nghiên cứu sơ bộ về thành phần hóa học nên chúng tôi trình bày thêm thành phần hóa học của một số loài khác cùng chi Polyscias. Polyscias amplifolia (Baker) Harms. cùng cộng sự [38] đã cô lập từ quả bốn hợp chất đều thuộc loại saponin có phần aglycon là axit oleanolic là:  Acid 3-O-β-D-galactopyranosyloleanolic (9)  Acid 3-O-β-D-galactopyranosyl-(1→4)-β-D-galactopyranosyloleanolic (10)  Acid 3-O-β-D-galactopyranosyl-(1→4)-β-D-xylopyranosyloleanolic (11)  Acid 3-O-β-D-galactopyranosyl-(1→4)-α-L-arabinopyranosyloleanolic (12) 1.

Polyscias dichroostachya Baker. cùng cộng sự [25] đã cô lập được bốn hợp chất đều thuộc loại saponin có phần aglycon axit hederagenin là:  3–O–α–L–arabinopyranosylhederagenin (13)  3–O–α–L–rhamnopyranosyl-(1→2)–α–L–arabinopyranosylhederagenin (14)  3–O–β–D–glucopyranosyl-(1→2)–α–L–arabinopyranosylhederagenin (15)  3–O–α–L–rhamnopyranosyl-(1→2)–α–L–arabinopyranosylhederagenin– 28-O–β–D–glucopyranosid (16) 1. Polyscias filicifolia Balf. Năm 2007, Nguyễn Thúy Anh Thư cùng cộng sự [13] đã cô lập được các hợp chất:  Hợp chất steroid: stigmasterol (17); spinasterol (18); 3-O-β-D- glucopyranosylstigmasterol (19).

 Hợp chất phenolic: 3,5,7,3',4'-pentamethoxyflavone (20); 5,4'-dihydroxy-3,7-di-(O-α- L-rhamnopyranosyl)flavone (21).  Hợp chất saponin có aglycon là acid oleanolic : acid 3-O-β-D-glucopyranosyl-(1→4)- β-D-glucuronopyranosyloleanolic (5).  Hợp chất triterpenoid: acid oleanolic (2). Polyscias fulva (Hiern) Harms.

Năm 2001, Bedir cùng cộng sự [22] đã cô lập từ phần trên mặt đất các hợp chất:  Các hợp chất saponin có phần aglycon là hederagenin: 3-O-α-L-rhamnopyranosyl- (1→2)-α-L-arabinopyranosylhederagenin (14); 3-O-α-L-rhamnopyranosyl-(1→2)-α-L- arabinopyranosylhederagenin-28-O-α-L-rhamnopyranosyl-(1→4)-β-D-glucopyranosyl- (1→6)-β-D-glucopyranosyl ester (22).  Hợp chất phenolic: 5,7,3',4'-tetrahydroxy-3-O-β-D-glucopyranosylflavone (23)  Hợp chất saponin khác: 12-oxo-3β,16β-20(S)-trihydroxydammar-24-en-3-O-α-L- rhamnopyranosyl-(1→2)-β-D-glucopyranosid (24).  Hợp chất phenolic: lichexanthon (27).  Hợp chất triterpenoid: acid oleanolic (2); hederagenin (28).

 Các hợp chất saponin có phần aglycon là hederagenin: 3-O-α-L- arabinopyranosylhederagenin (13); 3–O–α–L–rhamnopyranosyl-(1→2) –α–L– arabinopyranosylhederagenin (14); 3-O-α-L-rhamnopyranosyl-(1→2)-α-L- arabinopyranosylhederagenin-28-O-α-L-rhamnopyranosyl-(1→4)-β-D-glucopyranosyl- (1→6)-β-D-glucopyranosyl ester (22)  Các hợp chất saponin có aglycon là acid oleanolic: acid 3-O-α-L-rhamnopyranosyl- (1→2)-α-L-arabinopyranosyloleanolic (29).  Các hợp chất saponin khác: 3-O-α-L-arabinopyranosylcollinsogenin (30); acid 3-O- α-L-rhamnopyranosyl-(1→2)-α-L-arabinopyranosylechynocystic (31).  Hợp chất ceramid và cerebrosid : (2S,3S,4R,8E)-2-[(2’R)-2’-hydroxypalmitoylamino]- 8-octadecen-1,3,4-triol (32); 1-O-β-D-glucopyranosyl-(2S,3S,4R,8E)-2-[(2’R)-2’- hydroxypalmitoylamino]-8-octadecen-1,3,4-triol (33) 1. Năm 1989, Nguyễn Khắc Viện [16] đã nghiên cứu và cho thấy trong rễ có 4% saccarose, một chất kết tinh A chưa xác định cấu trúc hóa học, có điểm sôi trong khoảng 158-161oC, tan nhiều trong clorofom và aceton.

Năm 1990, Nguyễn Thới Nhâm và cộng sự [12] đã công bố trong thành phần của rễ, thân và lá có các glycosid, alcaloid, tanin, vitamin B1 và khoảng 20 loại acid amin như arginin, alanin, asparagin, acid glutamic, leucin, lysin, phenylalanin, prolin, threonin, tyrosin, cystein, tryptophan, metionin…. và cộng sự [26] đã dùng phương pháp GC-MS để phân tích thành phần tinh dầu của lá cây mọc ở Fiji và Thái Lan. Kết quả cho thấy trong tinh dầu có khoảng 24 cấu tử, trong đó có 4 chất chính là: β-elemen (34); β-germacren-D (35); E- γ- bisabolen (36) và α-bergamoten (37). Năm 1991, Võ Xuân Minh cùng cộng sự [9] đã khảo sát hàm lượng saponin toàn phần trong các bộ phận của cây đinh lăng với kết quả: rễ (0,49%), vỏ rễ (1,00%), lõi rễ (0,11%) và lá (0,38%).

Năm 1992, trong nghiên cứu tiếp theo, Võ Xuân Minh [10] cho biết trong cây đinh lăng có các alcaloid, glucosid, saponin, các vitamin tan trong nước như B1, B2, B6, C. Nghiên cứu cũng cho thấy rễ cây đinh lăng có chứa tới 20 acid amin. Năm 1992, Lutomski và cộng sự [29] đã cô lập từ rễ 5 hợp chất thuộc loại hợp chất polyacetylen: (8E)-heptadeca-1,8-dien-4,6-diyn-3,10-diol (38); (8E)-heptadeca-1,8-dien-4,6- diyn-3-ol-10-on (39); (8Z)-heptadeca-1,8-dien-4,6-diyn-3-ol-10-on (40); falcarinol (41) và panaxydol (42). Cũng vào năm 1992, Nguyễn Thị Nguyệt và cộng sự [11] đã cô lập được acid oleanolic (2).

và cộng sự [17] đã cô lập từ lá một saponin triterpen là acid 3-O- β-D-galactopyranosyl-(1→2)-β-D-glucopyranosyloleanolic (43). và cộng sự [18] đã cô lập từ lá khô một saponin triterpen là acid 3-O-α-L-rhamnopyranosyl-(1→4)-β-D-glucopyranosyl - 28-O-β-D-glucopyranosyloleanolic (44). Năm 1998, Võ Duy Huấn cùng cộng sự [41] đã cô lập được 11 saponin triterpen gồm:  Acid 3-O-β-D-glucopyranosyl-(1→4)-β-D-glucuronopyranosyloleanolic (5)  Acid 3-O-β-D-glucopyranosyl-(1→2)-β-D-glucuronopyranosyloleanolic (45)  Acid 3-O-[β-D-glucopyranosyl-(1→2),β-D-glucopyranosyl-(1→4)]-β-D- glucuronopyranosyloleanolic (7)  Acid 3-O-[α-L-arabinopyranosyl-(1→2),β-D-glucopyranosyl(1→4)]-β-D- glucuronopyranosyloleanolic (46)  Acid 3-O-[β-D-galactopyranosyl-(1→2), β-D-glucopyranosyl-(1→3)]-β-D- glucuronopyranosyloleanolic (47)  3-O-[β-D-glucopyranosyl-(1→2),β-D-glucopyranosyl-(1→4)]-β-D- glucuronopyranosyloleanolic -28-O-β-D-glucopyranosyl ester (48)  3-O-[α-L-arabinopyranosyl-(1→2),β-D-glucopyranosyl-(1→4)]-β-D- glucuronopyranosyloleanolic -28-O-β -D-glucopyranosyl ester (49)  3-O-[β-D-galactopyranosyl-(1→2),β-D-glucopyranosyl-(1→3)]-β-D- glucuronopyranosyloleanolic-28-O-β -D-glucopyranosyl ester (50)  3-O-β-D-glucopyranosyl-(1→4)-β-D-glucuronopyranosyloleanolic-28-O-α-L- rhamnopyranosyl-(1→3)-β-D-glucopyranosyl ester (51)  3-O-[β-D-glucopyranosyl-(1→2),β-D-glucopyranosyl-(1→4)]-β-D- glucuronopyranosyloleanolic -28-O-α-L-rhamnopyranosyl-(1→3)-β-D glucopyranosyl ester (52) 1. Poyscias murrayi Harms.

Buchanan và cộng sự [30] đã cô lập từ cây Poyscias murrayi Harms. các chất thuộc loại hợp chất phenolic. Polyscias nodosa (Blume) Seem. Năm 1913, Vander Haar và cộng sự [40] đã cô lập được một hợp chất sapogenin có CTPT C 26 H 44 O 4 , chưa xác định được cấu trúc hóa học.

Polyscias scutellaria (Burm. Paphassarang và cộng sự [34] đã cô lập được hợp chất 3-O-β-D- glucopyranosyloleanan (59). Paphassarang cùng cộng sự [35,36] đã cô lập các saponin sau:  Acid 3-O-β-D-glucuronopyranosyloleanolic (3)  Acid 3-O-β-D-glucopyranosyl-(1→2)-β-D-glucuronopyranosyloleanolic (45)  Acid 3-O-β-D-glucopyranosyl-(1→3)-β-D-glucuronopyranosyloleanolic (4)  3-O-β-D-glucopyranosyl-(1→3)-β-D-glucuronopyranosyloleanolic-28-O-β-D -glucopyranosyl ester (60)  Acid 3-O-β-D-glucopyranosyl-(1→2)-β-D-glucopyranosyl-(1→4)-β-D- glucuronopyranosyloleanolic (7). Paphassarang cùng cộng sự [37] đã cô lập từ lá thêm hai hợp chất saponin là :  Acid 3-O-β-D-glucopyranosyl-(1→2)-β-D-glucuronopyranosyloleanolic (45)  3-O-β-D-glucopyranosyl-(1→4)-β-D-glucopyranosyl-(1→2)-β-D- glucuronopyranosyloleanolic-28-O-β-D-glucopyranosyl ester (48) Năm 2008, Nguyễn Thị Thúy Hằng [4] cũng cô lập từ cây này mọc ở Việt Nam các hợp chất:  Stigmasterol (17)  Spinasterol (18)  3-O-β-D-glucopyranosylstigmasterol (19)  Acid 3-O-β-D-glucopyranosyl-(1→4)-β-D-glucuronopyranosyloleanolic (5)  3-O-β-D-glucopyranosyl-(1→4)-β-D-glucuronopyranosyloleanolic-28-O-β-D -glucopyranosylester(8)  3-O-β-D-glucopyranosyl-(1→4)-β-D-glucuronopyranosyloleanolic-28-O- ethyl ester (61) 1.

Lussignol và cộng sự [28] đã cô lập được từ lá một hợp chất :  5,7,3',4'-tetrahydroxy-3-O-β-D-glucopyranosylflavone (27) 1. Polyscias balfouriana Bail. Năm 2007, Nguyễn Thị Ánh Tuyết, Nguyễn Ngọc Sương, Nguyễn Kim Phi Phụng [32] đã tách từ lá cây được 12 chất:  5-hydroxymethylfurfural (62)  Stigmasterol (17)  Spinasterol (18)  3-O-β-D-glucopyranosylstigmasterol (19)  3-O-β-D-glucopyranosylspinasterol (63)  Acid oleanolic (2)  Acid 3-O-β-D-glucopyranosyl-28-O-β-D-glucopyranosyloleanolic (64)  5,3'-dihydroxy-4'-methoxy-3,7-di-(O-α-L-rhamnopyranosyl)flavone (65)  Acid 3-O-β-D-glucopyranosyl (1→3)-6'-O-methyl-β-D- glucuronopyranosyloleanolic (66)  Acid 3-O-β-D-glucopyranosyl (1→4)-6'-O-methyl-β-D- glucuronopyranosyloleanolic (67)  Acid 3-O-β-D-glucopyranosyl (1→4)-β-D-glucuronopyranosyloleanolic (5)  3-O-β-D-glucopyranosyl (1→4)-β-D-glucuronopyranosyloleanolic-28-O-β-D- glucopyranosyl ester (8) Năm 2010, Nguyễn Thị Ánh Tuyết, Bạch Thanh Lụa, Nguyễn Ngọc Sương, Nguyễn Kim Phi Phụng [33] đã tách từ rễ cây được 3 hợp chất saponin:  Acid 3-O-β-D-glucopyranosyl (1→3)-β-D-glucuronopyranosyloleanolic (4)  Acid 3-O-[β-D-glucopyranosyl-(1→2),β-D-glucopyranosyl-(1→4)]-β-D- glucuronopyranosyloleanolic (7)  Acid 3-O-[β-D-glucopyranosyl-(1→2), β-D-glucopyranosyl-(1→3),β-D- glucopyranosyl-(1→4)]-β-D-glucuronopyranosyloleanolic (68). Polyscias guilfoylei var.

CÁC NGHIÊN CỨU VỀ DƯỢC TÍNH Theo bác sĩ Huỳnh Ngọc Tựng [15], các loài cây đinh lăng được trồng ở Việt Nam đều dùng làm thuốc được. Tuy nhiên, có một số loài cây đinh lăng vẫn chưa tìm thấy tài liệu nghiên cứu một cách cụ thể về dược tính. Theo các tài liệu tham khảo, chỉ tìm thấy một nghiên cứu về dược tính trên cây Polyscias guilfoylei Bail., đó là nghiên cứu trên lá tươi : dịch trích nước và dịch trích diclorometan của lá cây Polyscias guilfoylei Bail. có khả năng quyến rũ ruồi trái cây.

Chính vì cây Polyscias guilfoylei Bail. chưa được nghiên cứu nhiều nên chúng tôi xin trình bày thêm dược tính của một số cây khác cùng chi. Cây đinh lăng có tác dụng làm tăng sức chịu đựng của cơ thể đối với một số yếu tố như: kiệt sức, nóng,…[3] Các thí nghiệm trên chuột cho thấy cây Polyscias fruticosa có khả năng làm tăng tiết niệu gấp trên năm lần so với bình thường, làm tăng sức đề kháng của chuột đối với các bức xạ siêu cao tầng, kéo dài thời gian sống của chuột bị nhiễm ký sinh trùng sốt rét Plasmodium berghei, làm tăng tác dụng của thuốc chống sốt rét cloroquin [8,16]. Thực nghiệm trên người cho thấy, cây Polyscias fruticosa làm tăng khả năng chịu đựng của bộ đội, vận động viên thể thao [7], khác với nhân sâm, Polyscias fruticosa không làm tăng huyết áp [2, 16].

Năm 2001, Nguyễn Thị Thu Hương và cộng sự [5] đã dùng chuột nhắt trắng để thử nghiệm tác dụng chống trầm cảm và stress của Polyscias fruticosa. Kết quả cho thấy cao Polyscias fruticosa có tác dụng chống trầm cảm và phục hồi thời gian ngủ bị rút ngắn bởi stress, ở liều 45-180 mg/kg thể trọng, khoảng liều này cũng có tác dụng khác như tăng lực, kích thích hoạt động của não bộ và nội tiết, tăng sức đề kháng của cơ thể, chống viêm và xơ vữa động mạch. Theo dân gian, đinh lăng được dùng làm thuốc bổ, chữa cơ thể suy nhược, gầy yếu, mệt mỏi, tiêu hóa kém, ho, ho ra máu, đau tử cung, kiết lỵ, làm thuốc lợi tiểu và chống độc. Dưới đây là một số bài thuốc dân gian có đinh lăng [1,2,3].

Một số bài thuốc dân gian từ cây Polyscias fruticosa: Chữa mệt mỏi, biếng hoạt động: Rễ đinh lăng phơi khô thái mỏng, 0,50g thêm 100 ml nước, đun sôi trong 15 phút, chia 2-3 lần uống trong ngày. Chữa sốt lâu ngày, nhức đầu, háo khát, ho, đau tức ngực, nước tiểu vàng: Đinh lăng tươi (rễ, cành) 30g, lá hoặc vỏ chanh 10g, vỏ quýt 10g, lá tre tươi 20g, cam thảo đất 30g, rau má tươi 30g, me chua đất 20g. Các vị cắt nhỏ, đổ ngập nước, sắc đặc lấy 250ml, chia uống 3 lần trong ngày. Lợi sữa: Lá đinh lăng tươi 50 – 100g, bong bóng lợn 1 cái, băm nhỏ, trộn với gạo nếp, nấu cháo ăn.

Hoặc rễ Đinh lăng tươi 30 - 40g, thêm 500ml nước, sắc còn 250ml, uống nóng, ngày uống 1-2 lần, uống trong 2 – 3 ngày. Chữa đau tử cung: Cành và lá đinh lăng sao vàng, sắc uống như chè. Chữa mẫn ngứa do dị ứng: Lá đinh lăng 80g, sao vàng, sắc uống, dùng trong 2 -3 tháng. Lá đinh lăng phơi khô đem lót gối hoặc trải giường cho trẻ em nằm giúp phòng bệnh kinh giật.

Polyscias amplifolia (Baker) Harms.prakash và cộng sự [38] đã cho biết ba hợp chất từ quả là: acid 3-O-β-D- galactopyranosyloleanolic; acid 3-O-β-D- galactopyranosyl-(1→4)-β-D-galactopyranosyloleanolic và acid 3-O-β-D-galactopyranosyl- (1→4)-α-L-arabinopyranosyloleanolic có hoạt tính ức chế sự phát triển dòng tế bào ung thư buồng trứng A2780 ở người. Polyscias balfouriana Bail. Theo Phan Quốc Kinh [42], thực phẩm chức năng với tên thương mại là CERATO, có bán trên thị trường với thành phần chứa là cao tật lê, cao dâm dương hoắc và cao đinh lăng lá tròn (Polyscias balfouriana) có tác dụng giúp nam giới bồi bổ sức khỏe, nâng cao thể trạng, giảm đau mỏi lưng gối, ù tai, di tinh, mộng tinh. Sản phẩm này đã được công ty cổ phần dược vật tư y tế Thành Vinh nghiên cứu và sản xuất dựa vào công thức của Genix (sản phẩm được sử dụng rộng rãi ở Bắc Mỹ và Tây Âu), nhưng cải biến một thành phần của Genix để CERATO có hoạt tính cao hơn, mạnh hơn, đó là thay thế cao đinh lăng - Polyscias fruticosa bằng cao đinh Hình 2: Thực phẩm lăng lá tròn - Polyscias balfouriana.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Khảo sát thành phần hóa học của cây đinh lăng trổ Polyscias guilfoylei" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các hợp chất hóa học có trong cây đinh lăng, một loại cây có giá trị dinh dưỡng và dược liệu cao. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về thành phần hóa học của cây mà còn chỉ ra những lợi ích tiềm năng của nó trong y học và dinh dưỡng. Việc nắm bắt thông tin này có thể hỗ trợ các nhà nghiên cứu, sinh viên và những người quan tâm đến lĩnh vực dược liệu trong việc phát triển các sản phẩm từ thiên nhiên.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức của mình về các phương pháp phân tích hóa học, hãy tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ kỹ thuật hóa học phát triển phương pháp phân tích xác định đồng thời esomeprazole và naproxen trong thuốc bằng phương pháp hplcuv, nơi bạn có thể tìm hiểu về các kỹ thuật phân tích hiện đại. Ngoài ra, tài liệu Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu xây dựng quy trình định lượng mangiferin trong cây tri mẫu bằng phương pháp hplc sẽ cung cấp thêm thông tin về quy trình định lượng các hợp chất tự nhiên. Cuối cùng, tài liệu Phân tích hàm lượng cà phê và caffeine trong cà phê rang xay bằng phương pháp uv vis kết hợp phân tích dữ liệu đa biến cũng là một nguồn tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến phân tích hóa học trong thực phẩm. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và khám phá thêm nhiều khía cạnh thú vị trong lĩnh vực hóa học.