MỞ ĐẦU Hóa học các hợp chất thiên nhiên, một bộ phận của chuyên ngành hóa hữu cơ, đang có xu hƣớng phát triển mạnh mẽ. Từ ngàn đời nay, công dụng của cây bá bệnh từ lâu đã đƣợc biết đến và đƣợc lƣu truyền qua một số bài thuốc trong dân gian. Ở những vùng núi tại Quảng Nam, ngƣời Xê - Đăng, Ca –Tu ,Ca – Don. Từ lâu đã biết dùng rễ và lá cây ngâm rƣợu hoặc nấu nƣớc uống.
Cây bá bệnh cũng là một trong những thành phần trong thang thuốc tăng cƣờng sinh lực đàn ông nổi tiếng ở vùng đất Tây Nguyên. Với tác dụng giúp nam giới tăng cƣờng chức năng sinh l và sức khỏe tình dục, bổ sung năng lƣợng cho cơ thể, giúp giảm stress, tăng cƣờng miễn dịch ngăn ngừa khối u và phòng lão hóa, hoạt tính chống oxi hóa,. Vì vậy, việc sử dụng cây bá bệnh và các sản phẩm cây bá bệnh đƣợc khuyến h ch nhƣ một phƣơng pháp bảo vệ sức khỏe cộng đồng và bảo vệ hạnh phúc gia đình hiệu quả. Trong những năm gần đây, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc về cây bá bệnh đƣợc khẩn trƣơng thực hiện và bƣớc đầu đã thu đƣợc nhiều ết quả hả quan.
Các nghiên cứu trong nƣớc cũng nhƣ quốc tế ch r , thành phần ch nh trong cây là các hợp chất quassinoid, alkaloid. Chúng quyết định đến các hoạt t nh sinh học đáng qu trên. Xuất phát từ những ch lợi của cây bá bệnh, các hoạt t nh sinh học của nó mang lại cho con ngƣời, cũng nhƣ để hiểu sâu hơn về thành phần hóa học, những mặt còn hạn chế của các công trình nghiên cứu trƣớc đây, đã thúc đẩy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài 2 ƢƠNG TỔNG QUAN 1. Giới hiệ ệnh Cây bá bệnh hay c n gọi là bách bệnh, hậu phác, tho nan Lào , antongsar, antoung sar (campuchia , Tong at ali Mã Lai.
Tên hoa học là Eurycoma longifloria Jack (Crassula pinnata Lour , thuộc họ thanh thất Simaroubaceae. ả hự ậ Cây nhỏ có cành, lá p lông chim l gồm 10 đến 36 đôi lá ch t, hầu nhƣ hông có cuống, hình trứng dài, dày, nh n hoặc có lông ở mặt dƣới. Cây bá bệnh là loài đơn t nh hác gốc (dioecious) nên mỗi cây ch trổ hoa đực hoặc hoa cái. Hoa màu đỏ nâu mọc thành chùm, nở vào tháng 3 - 4.
Mỗi hoa có 5 - 6 cánh rất nhỏ. Cây kết quả vào tháng 5 - 6. Quả non màu xanh, hi ch n đổi sang màu đỏ sẫm , nh n, hơi thuôn dài, đầu tù và cong, mặt trong có lông thƣa và ngắn, dài từ 1 - 2 cm, ngang 0,5 – 1 cm. Một hạt có nhiều lông ngắn.
nh Cây bá bệnh Eurycoma longifolia) 3 1. h n h h i hế iến Cây mọc phổ biến ở hắp nƣớc ta nhƣng phổ biến nhất ở miền Trung, Tây Nguyên, Tây Ninh, đặc biệt quanh vùng Biên Hoà, Trảng Bom và Định Quán _Đồng Nai. C n thấy ở Malaixia, Inđônêsia. Ngƣời ta dùng quả, vỏ thân và vỏ rễ phơi hay sấy hô làm thuốc.
ng ng ệnh 1. T ng ƣ Theo Đông y, cây có vị đắng, tính ấm, dùng chữa nhiều bệnh nên có tên là bách bệnh nhƣ: ăn hông tiêu, tiêu chảy, nôn mửa, kiết l ,. Nƣớc sắc lá cây trị gh lở mụn nhọt. Các quassinoid từ rễ có tác dụng diệt ký sinh trùng sốt rét Plasmodium[8].
Sách những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của GS-TS Đỗ Tất Lợi[1] có ghi nhƣ sau: trong vỏ cây mật nhân có chứa một chất đắng gọi là quassin. Vỏ cây dùng chữa những trƣờng hợp ăn uống hông tiêu, đau mỏi lƣng. Quả của cây này dùng để chữa l. Theo từ điển cây thuốc Việt Nam của TS V Văn Chi[7], ngƣời ta dùng rễ cây mật nhân thái nhỏ, tẩm rƣợu sao để làm thuốc, có vị đắng, t nh mát.
Thƣờng dùng chữa h hƣ, huyết m, ăn uống không tiêu, tức ngực, gân xƣơng yếu, tay chân tê đau, tả l , nôn mửa. Còn dùng chữa tứ thời cảm mạo. Tại Việt Nam rễ, vỏ và quả cây đƣợc dùng sắc thuốc, vị rất đắng. Thuốc đƣợc dùng trị xổ giun, sốt rét, kiết l , ngộ độc, đầy bụng, và cả say rƣợu.
Khi dùng ngoài da thuốc có thể trị gh lở. Có lẽ vì đa dụng nên cây này đƣợc đặt tên là "mật nhân". Ngoài ra cây mật nhân có khả năng tăng ch thích tố tetosterone nên trong giới lực sĩ, cây dùng nhƣ vị thuốc bổ để thêm năng lực cơ thể giúp nam giới tăng cƣờng chức năng sinh l và sức kho tình dục, bổ sung năng lƣợng cho cơ thể, giúp giảm stress, mệt mỏi, tăng cƣờng miễn dịch, ngăn ngừa khối u và phòng chống lão hoá, giúp tăng năng lƣợng hoạt động và sức bền cơ thể[3]. inh nghiệ h ệnh ng ệnh Điều trị các triệu chứng về r i loạn iê ho , đƣờng ru , đ nhức xƣơng hớp, tê thấp[3],[7] Dùng 2 l t rƣợu với 0,2 kg rễ cây mật nhân.
Cây rửa sạch rồi ch nhỏ ra đủ kích cỡ lọt bình ngâm là đƣợc (b ng ngón tay , phơi hô, rƣợu ngâm sau 1 thời gian chuyển sang màu vàng tùy đậm đặc mà màu rƣợu vàng mức độ nào, tùy độ đặc mà ngƣời uống hi rót rƣợu từ bình ra khi uống có thể pha thêm rƣợu ở ngoài. Công thức trị đ g n, nƣớc da vàng, ngứa, suyễn Mật nhân tán cho nhuyễn, để bột uống hoặc làm hoàn, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 muỗng cà phê đầy.Trong chừng 1 - 2 tuần sẽ hết. Thành phần hoá học Qua ết quả thu nhận từ các công trình nghiên cứu đã đƣợc công bố, đã phân lập hơn 65 hợp chất các loại từ rễ cây bá bệnh [13], thành phần hoá học của cây bá bệnh vô cùng phong phú và đa dạng, bao gồm nhiều hợp chất nhƣ các diterpeniods, Triterpen với 3 hung sƣờn cơ bản nhƣ: quassinoid, squallan và tirucallan. Ngoài ra c n có các al aloid, steroid, flavoid.
Trong đó quassinoid, alkaloid đóng vai tr quan trọng nhất và hoạt lực chủ yếu của cây bá bệnh [16]. M t s công trình nghiên cứ rong nƣớc Hiện nay trong nƣớc chƣa có nhiều công trình nghiên cứu nhiều về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học cây bá bệnh. Năm 1968 từ cao ete dầu hỏa của vỏ và lá cây mật nhân, nhóm tác giả Nguyễn Ngọc Sƣơng[2], trƣờng ĐH hoa học Sài G n đã phân lập đƣợc 7 hợp chất là β-sistosterol (1), campesterol (2), 2,6-dimethoxybezoquinone (3), eurycomalacton (4), dihydroeurycomalacton A (5), laurylaton (6), laurylaton B (7). β-sistosterol Campesterol 2,6-dimethoxybezoquinone Eurycomalacton Dihydroeurycomalacton 6 Laurylaton A Laurylaton B Năm 2006, GS.TS Trần Quán Anh, trung tâm nam học của bệnh viện Việt Đức Hà Nội, đã nghiên cứu t nh hiệu quả và an toàn của sản phẩm Khang Dƣợc trong điều trị mãn dục nam.
Kết quả nghiên cứu trên 30 bệnh nhân sau thời gian sử dụng bƣớc đầu cho thấy: 100% nam giới bị mãn dục nam có sử dụng Mật Nhân đều tăng nồng độ testosterone trong máu sau 3 tháng sử dụng. Thuốc có tác dụng cải thiện sức khỏe toàn diện, nâng cao chất lƣợng đời sống tình dục một cách tự nhiên, gia tăng ham muốn, tăng trƣơng lực cơ, chống mệt mỏi, hồi phục nhanh sinh lực sau khi quan hệ tình dục. Đối với những ngƣời bị rối loạn cƣơng dƣơng, xuất tinh sớm, thuốc có tác dụng hỗ trợ điều trị cùng với nhóm thuốc đặc hiệu, làm tăng hoái cảm, tăng hả năng cƣơng cứng, kéo dài thời gian xuất tinh. Năm 2006 nhóm tác giả Phạm Thị Nhƣ Hồng[5], trƣờng Đại Học Khoa Học Tự Nhiên TP.
HCM đã phân lập 3 hợp chất triterpen là 25- O - methylpiscidinol A (8), tirucallan-7,24-diene-3-one (9) và epi-sapeline (10) cùng với hai hợp chất quassinoid là quassin (11) và 18-hydroxyquassin (12). 25- O - methylpiscidinol A Tirucallan-7,24-diene-3-one 7 Quassin Epi-sapeline 18-hydroxyquassin Năm 2007, nhóm tác giả Trần nh Tuấn, Trần Thị Thu Hƣơng, Trần Hồng Quang, Nguyễn Tiến Hùng, Phan Văn Kiệm, Châu Văn Minh [6], đã nghiên cứu thành phần hoá học cây bá bệnh và đã cô lập đƣợc 6 hợp chất là: 9-hydroxycanthin- 6-on (13), 13,18-dihydroeurycomanon (14), Kaempferol -3-0-α-rhamnpyrannoisid (15), eurycomanon (16), eurylen (17), 9-methoxylcanthin-6-on(18). eurylen 8 Eurycomanon 9-methoxylcanthin-6-on 9-hydroxycanthin-6-on 13,18-dihydroeurycomanon 1. M t s công trình nghiên cứ ngo i nƣớc[5] Năm 1982, nhóm nghiên cứu thuộc trƣờng đại học Y dƣợc Hiroshima, Nhật, từ rễ cây có nguồn gốc từ Indonesia đã cô lập đƣợc hai hợp chất quassinoid có số oxy hoá cao có tên là eurycomanon 19 và eurycomanol (20).
Eurycomanon Eurycomanol 9 Năm 1982, b ng phƣơng pháp sắc , phƣơng pháp nhiễu xạ tia X để xác định cấu trúc , Nguyễn Ngọc Sƣơng, S. Pascal đã cô lập đƣợc hai hợp chất thuộc nhóm quassinoid 20 Carbon, có tên gọi là laurylacton A (21) và laurylacton B (22). Laurylacton A Laurylacton B Năm 1986, nhóm tác giả gồm: K. Warhurst, từ cao eter dầu tr ch từ rễ cây , hông những tìm thấy những hợp chất mới thuộc nhóm quassinoid nhƣ 3,4 –dihydroeurycomalacton (23), 5,6- dehyroeurycomalacton (24), 6-hydroxy-5,6-dehydroeurycomalacton (25), mà c n phát hiện thêm sự hiện diện của các al aloid hác nhƣ 10-hydroxycantin-6-on (26), là tinh thể màu vàng.
Đồng thời từ cao cloroform tr ch ly từ rễ cây bá bệnh nhóm tác giả đã phân lập đƣợc một hợp chất coumarin có tên gọi là scopoletin (27). 3,4 –dihydroeurycomalacton 5,6 –dihydroeurycomalacton Scopoletin 10 6-hydroxy-5,6-dehydroeurycomalacton 10-hydroxycantin-6-on Năm 1989, nhóm tác giả K. Han, từ cao n-butanol tr ch từ rễ cây Bá Bệnh, nhóm tác giả đã cô lập đƣợc một quassinoid có tên gọi là eurycomanol-2-O-β-D-glucopyranosid (28). Eurycomanol-2-O-β-D-glucopyranosid Năm 1991, Nhóm tác giả H.
Shir, trong quá trình thử nghiệm hoạt t nh sinh học của cây pasakbumi bá bệnh , bên cạnh việc phân lập hợp chất paskbumin A (eurycomanon (29)) c n phân lập đƣợc hai hợp chất mới cũng có hung sƣờn quassinoid là pas bumin B 30 và paskbumin C (31) từ cao methanol tr ch từ rễ cây bá bệnh. Longilacton 13,21- dihydroeurycomanon 13β,21-dihydroxyeurycomanon 14,15β-dihydroklaineanon 12 Năm 1993, nhóm c n tiếp tục cô lập thêm 1 hợp chất quassinoid mới từ cao n-butanol có tên 1,2-seco-1-nor-6-(5-10)-abeo-picrasau-2,5-olide. Ngoài ra, hi tiến hành hảo sát dịch chiết từ lá cây bá bệnh b ng dung môi CH2Cl2 thu đƣợc hai hợp chất mới là 6-dehydrolongilacton (36) và 7α- hydroyeurycomalacton (37). 1,2-seco-1-nor-6-(5-10)-abeo-picrasau-2,5-olide 6-dehydrolongilacton 7α-hydroyeurycomalacton Năm 1991, nhóm nghiên cứu thuộc trƣờng đại học y dƣợc To yo-Nhật, trong quá trình nghiên cứu hoạt t nh sinh học của cây bá bệnh đã phân lập đƣợc hai hợp chất mới hung squallan.
Đây là hai đồng phân lập thể của nhau, gồm có eurylene 38 và teurylene (39), cả hai đều có dạng tinh thể hông màu, có chung công thức phân tử là C 34H58O8. Eurylene 13 Teurylene Ngoài ra, từ dịch tr ch từ rễ cây bá bệnh với ete dầu, K. San awa đã cô lập đƣợc hợp chất 13β,18- dihydroeurycomanol (40) b ng cách ết tinh trong methanol.