Chương 1. Tổng quan tài liệu Chương 2. Đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu Chương 3. Kết quả và bàn luận.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan tình hình phát triển nghề nuôi tôm thẻ chân trắng 1. Nghề nuôi tôm thẻ chân trắng trên thế giới Tôm thẻ chân trắng là đối tượng có giá trị kinh tế cao thị trường tiêu thụ rộng, thời gian sinh trưởng ngắn (3 – 3,5 tháng), nhu cầu protein trong khẩu phần ăn cho tôm TCT 20 - 30%, thấp hơn so với các loài tôm nuôi cùng họ khác. Khả năng chuyển hóa thức ăn của tôm rất cao, trong điều kiện nuôi thâm canh, hệ số chuyển hóa thức ăn dao động từ 1,1 – 1,3.
Tôm TCT lột xác vào ban đêm, thời gian giữa hai lần lột xác khoảng 1 – 3 tuần, tôm nhỏ (<3g) trung bình một tuần lột xác 1 lần, thời gian giữa hai lần lột xác tăng dần theo lứa tuổi tôm, đến giai đoạn lớn (15 - 20g), trung bình 2,5 tuần tôm lột xác một lần. Tôm TCT có tốc độ sinh trưởng nhanh, trong điều kiện nuôi, với môi trường sinh thái phù hợp, tôm có khả năng đạt 8 -10g trong 60-80 ngày, hay đạt 35-40g trong khoảng thời gian 180 ngày. Tôm tăng trưởng nhanh hơn trong 60 ngày nuôi đầu, sau đó tăng trọng giảm dần theo thời gian nuôi. Tôm TCT cho năng suất cao (trên 4 tấn/ha), thâm canh có thể đạt đến 20 tấn/ha, đồng thời có giá trị dinh dưỡng cao nên hiện nay tôm TCT đang được người tiêu dùng ở các thị trường lớn ưa chuộng.
Mỹ là thị trường tiêu thụ tôm chân trắng lớn nhất sau đó là châu Âu và Nhật Bản[15]. Tôm thẻ chân trắng là loài tôm được nuôi phổ biển nhất ở Tây bán cầu. Sản lượng của loài tôm này chiếm hơn 70% (1992) và có thời kỳ chiếm tới 90% (1998) các loài tôm he Nam Mỹ. Các nước có sản lượng cao trên thế giới như là Equado, Mêhicô, Panama … Nghề nuôi tôm thẻ chân trắng ở các nước này ngày càng phát triển, sản lượng cũng tăng lên nhanh chóng, chỉ tính riêng Equado, là nước đứng đầu về sản lượng trên thế giới thì từ năm 1991 đã đạt 103 nghìn tấn, năm 1998 là 120 nghìn tấn chiếm 70% sản lượng châu Mỹ, năm 1999 đạt 130 nghìn tấn[3].
Tuy nhiên, những thành công của các chương trình nghiên cứu tạo đàn tôm giống sạch bệnh và cải thiện chất lượng di truyền ở châu Mỹ như Hawaii e 4 đã mở ra hy vọng cho việc duy trì và phát triển nghề nuôi tôm thẻ chân trắng nói riêng và nghề nuôi tôm biển nói chung ở tất cả các vùng sinh thái trên thế giới [3]. Ngoài các nước Nam Mỹ, tôm thẻ chân trắng cũng được nuôi ở Đông Á và Đông Nam Á như Trung Quốc, Philippin, Inđônêxia, Malayxia, Thái Lan… và cũng mang lại hiệu quả kinh tế cao. Năm 2004, Trung Quốc đạt sản lượng 700.000 tấn, Thái Lan 400.000 tấn và Indônêxia là 300. Nghề nuôi tôm thẻ chân trắng tại Việt Nam Tôm thẻ chân trắng là một đối tượng nuôi rất mới ở Việt Nam.
Tôm thẻ chân trắng nhập lần đầu tiên vào nước ta được nuôi thử ở công ty Duyên Hải – Bạc Liêu từ tháng 1 năm 2001. Tuy nhiên, do đây là đối tượng nuôi mới và trước những diễn biến dịch bệnh tôm thẻ chân trắng trên thế giới nên việc nuôi đối tượng này chỉ mang tính chất thử nghiệm ở một số địa phương như Bạc Liêu (Công ty Duyên Hải – Bạc Liêu – 4/2001), Khánh Hòa (Công ty trách nhiệm hữu hạn Long Sinh – 3/2001), Phú Yên (Công ty TNHH quốc tế Asia Hawai ) Năm 2006 do lo ngại về dịch bệnh của tôm thẻ chân trắng như hội chứng taura có thể lây nhiễm sang tôm sú và các loài tôm khác, ảnh hưởng tới nghề nuôi tôm sú như ở các nước Thái Lan, Trung Quốc đã gặp phải nên để đảm bảo tính phát triển bền vững của nghề nuôi tôm sú, Bộ Thuỷ sản đã ra công văn số 475/TS-NTTS ngày 6/3/2006 không cho các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh được sản xuất và nuôi tôm thẻ chân trắng nhưng để sử dụng hợp lý và có hiệu quả môi trường vùng nước nuôi tôm, góp phần đa dạng hoá tôm nuôi nước lợ đồng thời đảm bảo an ninh sinh thái, bền vững môi trường nên các tỉnh từ Quảng Ninh đến Bình Thuận có thể đưa tôm thẻ chân trắng vào nuôi bổ sung dưới sự quản lý chặt chẽ. Năm 2008, trước tình hình tôm thẻ chân trắng đã và đang phát triển theo hướng tốt, nhu cầu thị trường tăng cao đồng thời do tôm sú đang gặp khó khăn về vấn đề dịch bệnh và xuất khẩu, ngày 25/01/2008 Bộ Thủy sản đã ra e 5 chỉ thị cho phép các tỉnh Nam Bộ được nuôi tôm thẻ chân trắng theo hình thức thâm canh và theo quy hoạch. Theo thống kê của Tổng cục thủy sản thì sản lượng tôm thẻ chân trắng cũng tăng nhanh qua các năm: năm 2002 là 10.000 tấn, năm 2004 đạt sản lượng 50.000 tấn, năm 2011 sản lượng 139.
Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng ở tỉnh Bình Định Tại Bình Định tôm TCT được đưa vào nuôi đầu tiên vào năm 2003 ở vùng nuôi trên cát xã Mỹ An, Mỹ Thắng huyện Phù Mỹ với diện tích 30 ha. Vào những năm sau đó diện tích và sản lượng nuôi đối tượng này tăng nhanh chóng. Tính đến nay người dân đã chuyển đổi hoàn toàn diện tích nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh của tôm sú sang nuôi tôm thẻ chân trắng. Vào năm 2006 diện tích tôm chân trắng là 134 ha (chiếm 5,4% tổng diện tích) , năm 2010: 489 ha (19,8 %) đến năm 2011 là 561 ha chiếm 23% diện tích nuôi trồng thủy sản nước lợ toàn tỉnh[22].
Năng suất trung bình 5-10 tấn/ha/vụ của tôm thẻ chân trắng cao hơn nhiều so với tôm sú, cá biệt có ao lên đến 18-20 tấn/ha/vụ. Sản lượng tôm nuôi cũng tăng nhanh qua các năm, năm 2006: 1.829,5 tấn, sản lượng chủ yếu tập trung vào vụ chính từ tháng 2 đến tháng 5 dương lịch. Sản lượng tôm sú nuôi ngày càng giảm dần, nhưng ngược lại sản lượng tôm thẻ chân trắng ngày càng tăng cao và là nguồn chủ lực của sản lượng tôm nuôi trong tỉnh. Vào năm 2007 diện tích tôm chân trắng là 287,4 ha chiếm 11,60%, nhưng đến năm 2011 là 984,3 ha chiếm 39,98% diện tích nuôi trồng thủy sản nước lợ toàn tỉnh.
Hiện nay người nuôi tự lấn chiếm đất xây dựng ao nuôi ồ ạt, không theo quy hoạch, thải vô tội vạ làm ô nhiễm môi trường vùng nuôi. Tuy nhiên có một số bộ phận người nuôi vẫn chưa tuân thủ. Một số hộ vì muốn có tôm thu hoạch sớm, bán giá cao mà chấp nhận rủi ro, thả giống nuôi sớm trước khung thời gian của LTV khi điều kiện thời tiết chưa phù hợp. Việc này gây mối nguy hiểm tiềm tàng cho cả vùng nuôi, vì một khi có dịch bệnh bùng phát thì dễ lây lan nhanh ra cả vùng.
Thời gian thả sớm hơn lịch e 6 thời vụ từ 1-1,5 tháng. Các huyện thường có diện tích thả sớm nhiều là Hoài Nhơn, Phù Mỹ. Theo số liệu của Phòng nông nghiệp và Trạm Chăn nuôi Thú y huyện Phù Mỹ năm 2011, diện tích thả nuôi ngoài lịch thời vụ là 69,1/573,7 ha, chiếm 12,04% diện tích có của vùng và chỉ nằm ở vùng nuôi tôm trên cát. Ở huyện Hoài Nhơn diện tích thả nuôi ngoài lịch thời vụ nằm rải rác ở vùng đầm và vùng nuôi tôm trên cát với diện tích 43,32/212,2 ha, chiếm 20,42% diện tích cả vùng.
Từ năm 2003, ngành Thủy sản đã chỉ đạo Trung tâm Khuyến ngư và Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật thủy sản Bình Định phối hợp với địa phương của các huyện, thành phố ven biển tiến hành khảo sát, xác định địa điểm, qui mô diện tích, tổng số hộ tham gia theo từng chi hội, tổ dựa trên đặc thù từng khu vực cụ thể. Đồng thời tổ chức họp các hộ nuôi, tuyên truyền, tổ chức các lớp tập huấn hội thảo, vận động các hộ nuôi tham gia thành lập các Chi hội, tổ nuôi tôm theo hình thức quản lý cộng đồng. Kết quả đã hình thành được 30 Chi hội, tổ cộng đồng, với số hộ tham gia 844, diện tích 654,6 ha. Sau một thời gian hoạt động do nhiều nguyên nhân khác nhau, đến nay chỉ còn 20 Chi hội, tổ hoạt động, trong đó có 07/20 chi hội, tổ cộng đồng còn duy trì họat động nhưng ít hiệu quả, chủ yếu là giải quyết các bức xúc về đất đai, điện, đường, 13 chi hội hoạt động không hiệu quả.
Còn 10 Chi hội, tổ đã tự giải thể[21]. Ðặc điểm sinh học tôm thẻ chân trắng 1. Hệ thống phân loại Ngành: Arthropoda Lớp: Crustacea Bộ: Decapoda Họ: Penaeidea Giống: Penaeus e 7 Loài: Penaeus vannamei Boone, 1931. Tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei) Tên tiếng Anh: White Leg shrimp Tên tiếng việt: Tôm thẻ chân trắng, tôm chân trắng 1.
Đặc điểm của tôm thẻ chân trắng 1. Hình thái Tôm TCT vỏ mỏng có màu trắng đục nên có tên là tôm Bạc, bình thường có màu xanh lam, chân bò có màu trắng ngà nên gọi tôm chân trắng. Chùy tôm gồm có 2 - 4 răng cưa ở dưới, 8 - 9 răng cưa ở phía trên. Vỏ đầu ngực có những gai gân và gai râu rất rõ, không có gai mắt và gai đuôi (gai telssm), không có rãnh sau mắt, đường gờ sau chuỳ khá dài đôi khi từ mép sau vỏ đầu ngực.
Gờ bên chùy ngắn, chỉ kéo dài tới gai thượng vị. Có 6 đốt bụng, ở đốt mang trứng, rãnh bụng rất hẹp hoặc không có. Telson (gai đuôi) không phân nhánh. Râu không có gai phụ và chiều dài râu ngắn hơn nhiều so với vỏ giáp.
Xúc biện của hàm dưới thứ nhất thon dài và thường có 3 - 4 hàng, phần cuối của xúc biện có hình roi. Gai gốc (basial) và gai ischial nằm ở đốt thứ nhất chân ngực 5. Sinh sản Tôm TCT thành thục sớm, con cái có khối lượng từ 30 - 45 g/con là có thể tham gia sinh sản. Ở khu vực tự nhiên có tôm TCT phân bố thì quanh năm đều bắt được tôm chân trắng.
Song mùa sinh sản của tôm chân trắng ở vùng e 8 biển lại có sự khác nhau ví dụ: ở ven biển phía Bắc Equađo tôm đẻ từ tháng 12 đến tháng 4. Lượng trứng của mỗi vụ đẻ phụ thuộc vào cỡ tôm mẹ: Nếu tôm mẹ từ 30 - 45 g thì lượng trứng từ 100.000 trứng, đường kính trứng 0. Sau mỗi lần đẻ hết trứng, buồng trứng tôm lại phát triển tiếp. Thời gian giữa 2 lần đẻ cách nhau 2 - 3 ngày.
Con đẻ nhiều nhất tới 10 lần/năm.