Luận văn khảo sát lỗi dùng từ trong bài viết văn miêu tả của học sinh lớp 4 ở trường tiểu học thực hành sư phạm thành phố cao lãnh đồng tháp

Luận văn khảo sát lỗi dùng từ trong bài viết văn miêu tả của học sinh lớp 4 tại trường tiểu học thực hành sư phạm Cao Lãnh, Đồng Tháp.

Trường đại học

Trường Đại Học Đồng Tháp

Chuyên ngành

Giáo Dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

báo cáo tổng kết

2019

80
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Lịch sử nghiên cứu

0.3. Tình hình nghiên cứu về phân môn Tập làm văn

0.4. Tình hình nghiên cứu về lỗi dùng từ

0.5. Đối tượng nghiên cứu

0.6. Phương pháp nghiên cứu

0.7. Cái mới của đề tài

0.8. Cấu trúc đề tài

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài

1.1.1. Khái niệm về từ

1.1.2. Lỗi dùng từ trong tiếng Việt

1.1.3. Một số vấn đề về lỗi ngôn ngữ

1.1.3.1. Khái niệm Lỗi ngôn ngữ
1.1.3.2. Quan điểm về phân tích lỗi

1.1.4. Yêu cầu chung của việc dùng từ trong tiếng Việt

1.1.5. Chương trình phân môn Tập làm văn và văn miêu tả lớp 4

1.1.6. Tâm sinh lí của học sinh tiểu học

1.1.6.1. Tâm lí của học sinh tiểu học
1.1.6.2. Khả năng nhận thức của học sinh lớp 4

1.1.7. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: CÁC LOẠI LỖI DÙNG TỪ, BIỆN PHÁP SỬA LỖI DÙNG TỪ TRONG BÀI VIẾT VĂN MIÊU TẢ CỦA HỌC SINH LỚP 4 Ở TRƯỜNG THỰC HÀNH SƯ PHẠM, THÀNH PHỐ CAO LÃNH, ĐỒNG THÁP

2.1. Mục đích, nội dung, địa điểm, phương pháp khảo sát

2.1.1. Mục đích khảo sát

2.1.2. Thời gian, địa điểm khảo sát

2.1.3. Phương pháp khảo sát

2.1.4. Giới thiệu về Trường Thực hành sư phạm, thành phố Cao Lãnh

2.2. Kết quả khảo sát

2.2.1. Lỗi dùng từ không đúng âm thanh và hình thức cấu tạo

2.2.2. Lỗi dùng từ không đúng nghĩa

2.2.3. Lỗi dùng từ không đúng về quan hệ kết hợp

2.2.4. Lỗi dùng từ không đúng về phong cách văn bản

2.2.5. Lỗi lặp từ, thừa từ

2.3. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: NGUYÊN NHÂN VÀ ĐỀ XUẤT CẢI THIỆN THỰC TRANG LỖI DÙNG TỪ CHO HỌC SINH LỚP 4 Ở TRƯỜNG THỰC HÀNH SƯ PHẠM, THÀNH PHỐ CAO LÃNH, ĐỒNG THÁP

3.1. Nguyên nhân mắc lỗi

3.1.1. Nguyên nhân khách quan

3.1.2. Nguyên nhân chủ quan

3.2. Một số đề xuất cải thiện thực trạng lỗi dùng từ trong các bài văn miêu tả

3.2.1. Một số đề xuất nâng cao hiệu quả dùng từ của học sinh

3.2.2. Một số bài tập củng cố và chữa lỗi dùng từ của học sinh

3.3. Tiểu kết chương 3

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Lỗi Dùng Từ Lớp 4 Trong Văn Miêu Tả

Dạy và học từ ngữ là nhiệm vụ quan trọng trong giáo dục phổ thông, đặc biệt là môn Ngữ văn. Tuy nhiên, hiệu quả dạy và học từ ngữ chưa đáp ứng yêu cầu. Vấn đề lỗi dùng từ của học sinh trong nhà trường vẫn tồn tại. Từ ngữ có vai trò quan trọng trong giao tiếp, đặc biệt với học sinh tiểu học. Học sinh lớp 4 có vốn từ phát triển, nhưng do trình độ ngôn ngữ còn hạn chế, vốn tiếng mẹ đẻ chưa phong phú, các em mắc nhiều lỗi về dùng từ. Cần tìm ra giải pháp khắc phục lỗi dùng từ sai và biện pháp phòng ngừa. Theo tài liệu gốc, việc dạy và học từ ngữ đóng vai trò then chốt trong việc phát triển khả năng ngôn ngữ của học sinh.

1.1. Tầm Quan Trọng Của Từ Ngữ Miêu Tả Lớp 4

Văn miêu tả có vai trò quan trọng với học sinh tiểu học. Viết văn miêu tả giúp học sinh quan sát, phát hiện điều mới mẻ, thú vị về thế giới xung quanh; truyền rung cảm vào đối tượng miêu tả; sử dụng từ ngữ có giá trị biểu cảm, câu văn sáng rõ về nội dung, chân thực về tình cảm. Văn miêu tả là bức tranh về sự vật bằng ngôn từ. Để viết tốt, học sinh cần vận dụng kiến thức tổng hợp và vốn sống thực tế. Điều này bồi dưỡng tình yêu quê hương đất nước, vốn sống, vốn ngôn ngữ và khả năng giao tiếp.

1.2. Thực Trạng Lỗi Diễn Đạt Trong Văn Của Học Sinh

Nhiều học sinh tiểu học, nhất là lớp 4, không hiểu hết nghĩa của từ. Không phải ai cũng có thể hiểu và sử dụng từ tối ưu khi nói và viết, đặc biệt là học sinh tiểu học. Do trình độ ngôn ngữ hạn chế, vốn tiếng mẹ đẻ chưa phong phú, các em gặp khó khăn trong viết văn bản nói chung và văn miêu tả nói riêng. Bài viết của các em sẽ kém hấp dẫn và thuyết phục. Vì vậy, cần khảo sát lỗi dùng từ để giúp các em dùng từ đúng hơn, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và bản sắc văn hóa dân tộc.

II. Nghiên Cứu Về Lỗi Dùng Từ Trong Văn Miêu Tả Lớp 4

Phân môn Tập làm văn được chia thành nhiều kiểu bài, mỗi kiểu bài có vị trí và vai trò nhất định. Văn miêu tả có vị trí đặc biệt quan trọng. Nhiều nhà nghiên cứu đã nghiên cứu đề tài liên quan đến bài văn miêu tả của học sinh tiểu học. Các nghiên cứu tập trung vào khái quát về văn miêu tả, đặc điểm văn miêu tả; làm thế nào để các em viết văn hay hơn, trau chuốt hơn? Đề xuất một số biện pháp, một số hệ thống bài tập để giúp học sinh luyện viết văn hay hơn. Theo tài liệu, các nghiên cứu trước đây đã đặt nền móng cho việc hiểu rõ hơn về lỗi chính tảlỗi ngữ pháp trong văn viết của học sinh.

2.1. Tổng Hợp Các Nghiên Cứu Về Kỹ Năng Viết Văn Miêu Tả

Năm 2000, tác giả Nguyễn Trí nêu những nhận xét khái quát về văn miêu tả trong cuốn Dạy tập làm văn ở trường Tiểu học. Tác giả đưa ra phương pháp dạy văn miêu tả và một số kinh nghiệm bài tập làm văn cho tốt. Năm 2007, tác giả Nguyễn Thị Thư nghiên cứu về Chữa lỗi dùng từ, đặt câu cho học sinh tiểu học lớp 4,5 qua các bài tập làm văn. Năm 2008, tác giả Đặng Thị Nghiêm nghiên cứu về Biện pháp khắc phục lỗi dùng từ sai văn cảnh của học sinh tiểu học.

2.2. Phân Tích Các Nghiên Cứu Về Lỗi Dùng Từ Của Học Sinh

Năm 2012, Tác giả Hồng Thị Nga nghiên cứu về Tìm hiểu những lỗi thường gặp trong các bài văn miêu tả của học sinh tiểu học. Tác giả phân loại được 4 lỗi: lỗi về chữ viết, lỗi về dùng từ ngữ, lỗi câu, lỗi về tổ chức văn bản, đoạn văn bản. Cũng trong năm 2012, tác giả Nguyễn Thị Hồng Liên nghiên cứu về Xây dựng hệ thống bài tập luyện viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4,5. Năm 2013, tác giả Đinh Thị Yến có công trình nghiên cứu về Một sô biện pháp rèn luyện kỹ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4,5 trường tiểu học Tường Hạ huyện Phú Yên tỉnh Sơn La.

III. Cách Xác Định Các Loại Lỗi Dùng Từ Thường Gặp

Trong quá trình phát triển tư duy, khả năng cảm thụ và sử dụng từ của học sinh tiểu học giữ vai trò quan trọng. Vốn từ càng phong phú thì khả năng diễn đạt càng đa dạng. Nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này. Các tác giả nêu lên một số kiểu lỗi như: lỗi do lặp từ, lỗi dùng từ không đúng nghĩa, lỗi dùng từ không hợp phong cách. Bên cạnh đó, các tác giả còn đưa ra một số bài tập để phân tích từng loại lỗi. Theo tài liệu, việc xác định và phân loại lỗi dùng từ là bước quan trọng để có thể đưa ra các biện pháp khắc phục hiệu quả.

3.1. Phương Pháp Phân Loại Lỗi Về Âm Thanh Và Cấu Tạo Từ

Năm 1998, nhóm tác giả Bùi Minh Toán – Lê A – Đỗ Việt Hùng trong giáo trình Tiếng Việt thực hành, đã nêu lên một số kiểu lỗi về dùng từ trong văn bản và cách sửa chữa như: Lỗi về âm thanh và hình thức cấu tạo từ. Theo các tác giả thì “từ” là một đơn vị có nhiều bình diện trong đó không thể thiếu mặt âm thanh và hình thức cấu tạo. Âm thanh và hình thức cấu tạo là mặt vật chất, là cái biểu đạt của từ. Khi viết văn bản cần ghi lại đúng âm thanh và hình thức cấu tạo của từ được sử dụng.

3.2. Nhận Diện Lỗi Sai Nghĩa Từ Và Lỗi Kết Hợp Từ

Lỗi về nghĩa của từ - từ được dùng phải phù hợp với nội dung định thể hiện, phù hợp với đối tượng được nói đến trong câu; dùng từ cần đạt các yêu cầu: đúng nghĩa biểu vật, biểu niệm, biểu thái. Đôi khi do không phân biệt nghĩa đen, nghĩa bóng cũng dẫn đến việc dùng từ sai nghĩa. Lỗi về kết hợp từ - là các từ kết hợp nhau không đúng bản chất ngữ pháp, không đúng quan hệ ngữ nghĩa, dùng từ thiếu hụt từ, thừa các quan hệ từ, không đúng đặc điểm kết hợp.

IV. Bí Quyết Cải Thiện Lỗi Dùng Từ Cho Học Sinh Lớp 4

Năm 2002, các tác giả Hồ Lê (chủ biên) – Trần Thị Ngọc Lang – Tô Đình Nghĩa trong Lỗi dùng từ và cách khắc phục đã chỉ ra lỗi từ vựng thường gặp và cách khắc phục bao gồm: Lỗi viết sai âm gây ra những lẫn lộn về nghĩa; Lỗi do hiểu sai nghĩa từ trong đó có các từ bị hiểu sai nghĩa hoàn toàn hoặc sai một phần; Lỗi do sự phối hợp nghĩa một số từ không khớp hoặc bị trùng lặp. Các tác giả đã đưa ra các ví dụ cụ thể về từng loại lỗi và phân tích cái sai của từng ví dụ, đưa ra cách khắc phục. Theo tài liệu, việc xây dựng các bài tập thực hành và tạo môi trường học tập tích cực là yếu tố quan trọng để cải thiện vốn từ vựng của học sinh lớp 4.

4.1. Xây Dựng Bài Tập Sửa Lỗi Dùng Từ Sai Nghĩa

Cần xây dựng các bài tập nhằm sửa chữa, khắc phục lỗi dùng từ sai về nghĩa. Các bài tập này nên tập trung vào việc giúp học sinh hiểu rõ nghĩa của từ, phân biệt các từ đồng nghĩa, trái nghĩa, và sử dụng từ đúng ngữ cảnh. Ví dụ, bài tập điền từ vào chỗ trống, bài tập chọn từ đúng, bài tập giải thích nghĩa của từ.

4.2. Luyện Tập Sử Dụng Từ Ngữ Chính Xác Trong Văn Cảnh

Cần xây dựng các bài tập nhằm sửa chữa, khắc phục lỗi dùng từ không đúng quan hệ kết hợpdùng từ không đúng phong cách. Các bài tập này nên tập trung vào việc giúp học sinh hiểu rõ quy tắc kết hợp từ, sử dụng từ phù hợp với phong cách ngôn ngữ của văn bản. Ví dụ, bài tập sắp xếp từ thành câu, bài tập sửa lỗi dùng từ trong câu, bài tập viết lại câu văn cho hay hơn.

V. Ứng Dụng Thực Tế Khảo Sát Lỗi Dùng Từ Tại Đồng Tháp

Các công trình nghiên cứu trên đã có những tác động nhất định đối với việc giáo dục cho học sinh, nhưng chưa có công trình nào quan tâm một cách toàn diện về việc chữa lỗi dùng từ trong văn miêu tả của học sinh tiểu học tại trường thực hành sư phạm thành phố Cao Lãnh. Do đó, tìm hiểu về thực trạng về lỗi dùng từ trong bài viết văn miêu tả của học sinh tiểu học tại trường Thực hành sư phạm thành phố Cao Lãnh là một yêu cầu khách quan và cần thiết. Theo tài liệu, việc đánh giá văn miêu tả học sinh tại trường Thực hành Sư phạm Đồng Tháp sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng sử dụng ngôn ngữ của học sinh.

5.1. Mục Tiêu Của Khảo Sát Lỗi Chính Tả Tại Trường Học

Mục tiêu của khảo sát là giới thiệu được những cơ sở lí luận liên quan đến đề tài. Khảo sát được các loại lỗi dùng từ trong bài viết văn miêu tả của học sinh lớp 4 ở Trường Thực hành sư phạm, thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp. Xác định nguyên nhân mắc lỗi và đề xuất cải thiện thực trạng lỗi dùng từ cho học sinh lớp 4 ở Trường Thực hành sư phạm, thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp.

5.2. Phương Pháp Dạy Văn Miêu Tả Hiệu Quả Cho Học Sinh

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là lỗi dùng từ trong bài viết văn miêu tả của học sinh lớp 4 ở trường Thực Hành sư phạm Thành phố Cao Lãnh Đồng Tháp. Sử dụng phương pháp nghiên cứu lí luận, phương pháp điều tra, phương pháp thống kê. Cái mới của đề tài là lần đầu tiên nội dung khảo sát lỗi dung từ của học sinh Tiểu học trên địa bàn trường Thực hành sư phạm thành phố Cao lãnh được tìm hiểu, khảo sát, phân tích, miêu tả: nguyên nhân và những biện pháp giải pháp ngôn ngữ học nhằm hạn chế lỗi dung từ được đề xuất.

VI. Kết Luận Tầm Quan Trọng Của Từ Ngữ Trong Văn Miêu Tả

Việc nghiên cứu và khắc phục lỗi dùng từ trong văn miêu tả của học sinh lớp 4 là vô cùng quan trọng. Điều này không chỉ giúp các em viết văn hay hơn, mà còn góp phần bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và khả năng giao tiếp hiệu quả. Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các phương pháp dạy học sáng tạo để giúp học sinh sử dụng từ ngữ một cách chính xác và linh hoạt. Theo tài liệu, việc nâng cao tầm quan trọng của từ ngữ trong văn miêu tả sẽ giúp học sinh phát triển toàn diện khả năng ngôn ngữ.

6.1. Đề Xuất Giải Pháp Nâng Cao Vốn Từ Vựng Của Học Sinh

Cần có những đề xuất cụ thể để nâng cao hiệu quả dùng từ của học sinh. Ví dụ, tăng cường các hoạt động đọc sách, kể chuyện, trò chơi ngôn ngữ, và khuyến khích học sinh sử dụng từ điển. Đồng thời, cần tạo môi trường học tập thân thiện, khuyến khích học sinh tự tin sử dụng ngôn ngữ.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Tương Lai Về Lỗi Lặp Từ Trong Văn

Cần tiếp tục nghiên cứu về các loại lỗi dùng từ khác nhau, đặc biệt là các lỗi liên quan đến lỗi lặp từ trong văn, lỗi sai nghĩa từ, và lỗi không phù hợp ngữ cảnh. Đồng thời, cần nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng từ ngữ của học sinh, như môi trường gia đình, phương pháp dạy học, và chương trình sách giáo khoa.

05/06/2025
Luận văn khảo sát lỗi dùng từ trong bài viết văn miêu tả của học sinh lớp 4 ở trường tiểu học thực hành sư phạm thành phố cao lãnh đồng tháp

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Khái niệm về từ Trong cuộc sống hàng ngày, hoạt động giao tiếp của con người cần phải sử dụng từ ngữ để tạo lập văn bản (nói, viết), để phục vụ những nhu cầu cần thiết của mình. Thế nhưng con người vẫn chưa biết chính xác thế nào là từ.

Cho đến thời điểm hiện tại, đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này. Nhưng đa số chỉ đưa ra một số đặc điểm của từ, chưa có một khái niệm hay định nghĩa chung hoàn chỉnh. Từ là một số các đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, có cấu tạo ổn định, mang nghĩa hoàn chỉnh được dùng để cấu tạo nên câu. Từ có thể làm tên gọi của sự vật (danh từ), chỉ các hoạt động (động từ), trạng thái, tính chất (tính từ).

Từ là công cụ biểu thị khái niệm của con người đối với hiện thực. Trong ngôn ngữ học, từ là đối tượng nghiên cứu của nhiều cấp độ khác nhau, như cấu tạo từ, hình thái học, ngữ âm học, phong các học, cú pháp học… Từ là ngôn ngữ đã có sẵn, thuộc kho từ vựng của ngôn ngữ và tồn tại trong tiềm năng ngôn ngữ của mỗi người. Nó là tài sản chung của xã hội. Khi giao tiếp mỗi người huy động vốn tài sản đó để tạo ra lời nói hoặc văn bản.

Mỗi người có thể có phong cách ngôn ngữ cá nhân, có thể có đóng góp và sáng tạo trong việc dùng từ. Tuy thế trong giao tiếp cũng như tạo lập văn bản là một hoạt động xã hội, muốn biểu lộ được chính xác ý tưởng của mình và muốn người khác lĩnh hội được chính xác ý tưởng đó thì mỗi người phải biết dùng từ đúng – dùng từ theo những yêu cầu chung. Việc hiểu từ và sử dụng từ đúng sẽ mang lại hiệu quả cao trong giao tiếp cũng như tạo lập văn bản. Các nhà ngôn ngữ học đều thừa nhận sự tồn tại hiển nhiên của từ, thừa nhận tính chất cơ bản trung tâm của từ trong ngôn ngữ nhưng từ đó đi đến 12 một định nghĩa thỏa đáng về từ thì đa số đều cảm thấy rất khó.

Cái khó trong việc định nghĩa từ một phần do từ trong các ngôn ngữ khác nhau về loại hình, khác nhau về nguồn gốc, có những đặc trưng rất khác biệt nhau. Cho nên, không phải ngẫu nhiên mà có nhiều nhà ngôn ngữ học chủ trương rằng không thể tìm được một định nghĩa về từ có tính chất phổ quát cho các ngôn ngữ khác nhau về loại hình, thậm chí các ngôn ngữ cùng một nhóm. Vì vậy, phương châm đúng đắn nhất trong việc xác định từ, trong việc đi tìm một định nghĩa về từ là một mặt phải chú ý tới những điểm đồng nhất, chú ý tới tính phổ quát của từ nói chung, mặt khác phải chú ý tới những đặc điểm riêng của từ trong mỗi ngôn ngữ. Cho đến hiện nay, chúng ta có thể nhận thấy tồn tại nhiều khái niệm về từ tiếng Việt.

Chúng tôi xin điểm qua một số khái niệm. Dưới đây, chúng tôi xin nêu ba định nghĩa về từ tiếng Việt: - Theo tác giả Đỗ Hữu Châu quan niệm: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [8; tr. Ở định nghĩa này, tác giả đã cho ta thấy được từ là một số âm tiết cố định, không thay đổi đặc điểm ngữ pháp, kết cấu nhất định, kết hợp lại để tạo thành câu. Tác giả đã nói lên được cấu tạo và đặc điểm ngữ pháp của nó.

- Theo Nguyễn Thiện Giáp: “Từ của tiếng Việt là một chỉnh thế nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để tạo câu nói: nó có hình thức của một âm tiết, một “chữ” viết rời [4; tr. Đối với Nguyễn Thiện Giáp, ông đã có một định nghĩa ngắn gọn và súc tích hơn, từ là một chỉnh thể nhỏ, một âm tiết, một chữ được viết rời. Ở đây tác giả đã tác giả đã có một cách nhìn tổng quát về hình thức của từ. - Theo tác giả Nguyễn Kim Thản: “Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thể tách khỏi các ngôn ngữ khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa và chức năng ngữ pháp” [dẫn 13 theo 12; tr.

Với định nghĩa này, chúng ta có thể thấy được từ có tính độc lập, không phụ thuộc, mộ mình nó đã là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa, chức năng. Chúng ta có thể thấy hiện nay tồn tại rất nhiều cách hiểu, cách định nghĩa về từ nói nói chung, cũng như từ Tiếng Việt nói riêng. Những cách hiểu đó, xuất phát từ những góc nhìn, những quan điểm khác nhau. Nhưng tựu trung lại, qua các định nghĩa trên, có thể thấy được từ tiếng Việt có những đặc điểm cơ bản sau: - Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ (tiếng Việt).

- Từ có hình thức ngữ âm cố định, bất biến và có ý nghĩa. - Từ có đặc điểm về cấu tạo và ngữ pháp. - Từ có chức năng tạo câu. Như vậy, để thuận tiện cho việc nghiên cứu, chúng tôi thống nhất cách hiểu về từ theo định nghĩa của tác giả Đỗ Hữu Châu: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu”.

Đây là định nghĩa đang được nhiều người quan tâm và sử dụng nhiều nhất. Đặc điểm của từ Tiếng Việt 1. Đặc điểm về ngữ âm Hình thức âm thanh của từ tiếng Việt cố định, bất biến ở mọi vị trí, mọi quan hệ và chức năng trong câu. Tính cố định, bất biến có mối quan hệ mật thiết với tính độc lập tương đối cao của từ tiếng Việt đối với câu, với ngôn cảnh.

Có thể nói ở các ngôn ngữ biến hình, với những mức độ khác nhau, chỉ có các “từ - cú pháp” mà không có các từ “phi cú pháp”. Các từ tiếng Việt khác hẳn. Chúng ta có từ sách nói chung, từ sách không mang trong lòng mình bất cứ một dấu vết nào của các quan hệ, các chức năng cú pháp. 14 Thuật ngữ ngôn cảnh được hiểu là hoàn cảnh ngôn ngữ trực tiếp của từ như lời nói miệng, bài, đoạn, câu và các từ ngữ khác chung quanh nó.

Cần phân biệt với ngữ cảnh là hoàn cảnh tổng quát của một hành vi giao tiếp. Trong tiếng Việt cũng như trong tất cả các ngôn ngữ khác - và có thể trong tiếng Việt thì nhiều hơn - có không ít những từ mà hình thức âm thanh gợi tả cái mà nó biểu thị: đó là các từ tượng thanh, những từ mà hình thức âm thanh của nó mô phỏng âm thanh của tự nhiên. Không kể những từ như ầm ầm, ào ào, vù vù, vi vu, róc rách, líu lo. là từ tượng thanh chân chính trực tiếp miêu tả âm thanh, các từ như (con) bò, (con) mèo, (con) chút chít (đồ chơi của trẻ em có miệng sáo); cạch (bắn súng cối: “cẩn thận không chúng nó cạch cho vài quả cối bây giờ!”) cũng là tượng thanh, mặc dù chúng chỉ toàn bộ một sự vật, hoạt động chứ không chỉ miêu tả riêng âm thanh do các sự vật, hoạt động đó phát ra.

Những từ này là “tượng thanh” được là vì thể chất vật chất của ngôn ngữ (tức thể chất âm học - thính giác) trùng làm một với toàn bộ hoặc một bộ phận thể chất vật chất của cái được biểu thị thể chất (âm thanh tự nhiên). Nói như thế cũng tức là nói: điều kiện để cho một từ có thể “gợi tả”, mô phỏng sự vật, hiện tượng là thể chất vật chất của từ phải trùng hợp với thể chất vật chất (toàn bộ hay bộ phận) của sự vật, hiện tượng. Đặc điểm về ngữ pháp Đặc điểm ngữ pháp của từ tiếng Việt không được thể hiện ở hình thức ngữ âm của từ mà chỉ biểu lộ trong cụm từ, trong câu khi từ kết hợp với các từ khác ở trước và sau nó. Ví dụ từ cây khi đứng một mình thì không có dấu hiệu nào biêu hiện đặc điểm ngữ pháp của nó.

Khi tham gia vào việc tạo câu, từ cây cũng không biến đổi hình thức ngữ âm để thể hiện các đặc điểm từ loại. Chỉ có thể biết được đăc điểm ngữ pháp của nó khi có sự kết hợp với các từ khác. Chẳng hạn trong câu Chẳng mấy chốc, mà ông đã cày xong thửa ruộng. Từ cày kết hợp với phụ từ đã ở trước chứng tỏ nó mang đặc điểm ngữ pháp 15 của động từ.

Tuy nhiên trong các tổ hợp lưỡi cày, cày chia vôi thì từ cày lại mang đặc điểm ngữ pháp của danh từ. Cùng với đặc điểm ý nghĩa, đặc điểm ngữ pháp có vai trò quyết định trong sự kết hợp từ thành cụm từ, thành câu. Nếu sự kết hợp không tương ứng với đặc điểm ngữ pháp của từ thì sẽ mắc cả lỗi dùng từ và lỗi về đặt câu. Ví dụ: Hằng ngày cô đến trường bằng bộ quần áo giản dị.

Ở câu này từ bằng dùng không đúng với đặc điểm ngữ pháp. Bằng là quan hệ thường được dùng trước danh từ biểu thị một phương tiện hay cách thức hoạt động do động từ biểu thị. Ở đây bộ quần áo không phải là phương tiện hay cách thức hoạt động đến trường mà nó được nêu ra để nói về phong cách, đức đọ của cô giáo. Do đó, dùng từ bằng là sai, phải thay bằng từ với mới phù hợp.

Có thể chữa Hằng ngày cô đến trường với bộ quần áo giản dị. Đặc điểm về cấu tạo Do trong tiếng Việt, hình vị, từ, cụm từ và câu…về mặt ngữ âm đều là những âm tiết tổ hợp âm tiết, cho nên việc nhận thức một âm tiết hoặc một tổ hợp âm tiết nào đó có phải là từ hay không có ý nghĩa cực kì quan trọng đối với việc sử dụng từ và lĩnh hội ý nghĩa của câu nói. Ví dụ: Câu sau đây: “Cái xe đạp nhẹ lắm!”. Có thể hiểu 2 cách: thứ nhất câu này vừa nhận xét đánh giá về trọng lượng của cái xe đạp, thứ hai câu này vừa nhận xét vừa đánh giá về đặc điểm vận hành của một cái xe đạp nào đấy.

Theo nghĩa thứ nhất chúng ta hiểu là cái xe đạp nặng tầm 5, 6kg trở lại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Khảo Sát Lỗi Dùng Từ Trong Văn Miêu Tả Của Học Sinh Lớp 4 Tại Trường Thực Hành Sư Phạm Đồng Tháp" cung cấp cái nhìn sâu sắc về những sai sót trong việc sử dụng từ ngữ của học sinh lớp 4 trong các bài văn miêu tả. Nghiên cứu này không chỉ giúp giáo viên nhận diện các lỗi phổ biến mà còn đưa ra những phương pháp cải thiện kỹ năng viết cho học sinh. Qua đó, tài liệu mang lại lợi ích cho cả giáo viên và học sinh trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp giảng dạy và học tập, bạn có thể tham khảo tài liệu Nhận thức của giáo viên về học tập hợp tác, nơi khám phá cách thức học tập hợp tác có thể được áp dụng trong giảng dạy kỹ năng đọc hiểu. Bên cạnh đó, tài liệu Vận dụng các phương pháp tích cực trong dạy học tập đọc sẽ cung cấp thêm thông tin về các phương pháp dạy học tích cực có thể áp dụng cho học sinh tiểu học. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ giáo dục học rèn luyện kỹ năng giao tiếp sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về việc phát triển kỹ năng giao tiếp cho học sinh qua các hoạt động trải nghiệm. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá để bạn khám phá sâu hơn về các phương pháp giảng dạy hiệu quả.