Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Khái niệm về từ Trong cuộc sống hàng ngày, hoạt động giao tiếp của con người cần phải sử dụng từ ngữ để tạo lập văn bản (nói, viết), để phục vụ những nhu cầu cần thiết của mình. Thế nhưng con người vẫn chưa biết chính xác thế nào là từ.
Cho đến thời điểm hiện tại, đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này. Nhưng đa số chỉ đưa ra một số đặc điểm của từ, chưa có một khái niệm hay định nghĩa chung hoàn chỉnh. Từ là một số các đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, có cấu tạo ổn định, mang nghĩa hoàn chỉnh được dùng để cấu tạo nên câu. Từ có thể làm tên gọi của sự vật (danh từ), chỉ các hoạt động (động từ), trạng thái, tính chất (tính từ).
Từ là công cụ biểu thị khái niệm của con người đối với hiện thực. Trong ngôn ngữ học, từ là đối tượng nghiên cứu của nhiều cấp độ khác nhau, như cấu tạo từ, hình thái học, ngữ âm học, phong các học, cú pháp học… Từ là ngôn ngữ đã có sẵn, thuộc kho từ vựng của ngôn ngữ và tồn tại trong tiềm năng ngôn ngữ của mỗi người. Nó là tài sản chung của xã hội. Khi giao tiếp mỗi người huy động vốn tài sản đó để tạo ra lời nói hoặc văn bản.
Mỗi người có thể có phong cách ngôn ngữ cá nhân, có thể có đóng góp và sáng tạo trong việc dùng từ. Tuy thế trong giao tiếp cũng như tạo lập văn bản là một hoạt động xã hội, muốn biểu lộ được chính xác ý tưởng của mình và muốn người khác lĩnh hội được chính xác ý tưởng đó thì mỗi người phải biết dùng từ đúng – dùng từ theo những yêu cầu chung. Việc hiểu từ và sử dụng từ đúng sẽ mang lại hiệu quả cao trong giao tiếp cũng như tạo lập văn bản. Các nhà ngôn ngữ học đều thừa nhận sự tồn tại hiển nhiên của từ, thừa nhận tính chất cơ bản trung tâm của từ trong ngôn ngữ nhưng từ đó đi đến 12 một định nghĩa thỏa đáng về từ thì đa số đều cảm thấy rất khó.
Cái khó trong việc định nghĩa từ một phần do từ trong các ngôn ngữ khác nhau về loại hình, khác nhau về nguồn gốc, có những đặc trưng rất khác biệt nhau. Cho nên, không phải ngẫu nhiên mà có nhiều nhà ngôn ngữ học chủ trương rằng không thể tìm được một định nghĩa về từ có tính chất phổ quát cho các ngôn ngữ khác nhau về loại hình, thậm chí các ngôn ngữ cùng một nhóm. Vì vậy, phương châm đúng đắn nhất trong việc xác định từ, trong việc đi tìm một định nghĩa về từ là một mặt phải chú ý tới những điểm đồng nhất, chú ý tới tính phổ quát của từ nói chung, mặt khác phải chú ý tới những đặc điểm riêng của từ trong mỗi ngôn ngữ. Cho đến hiện nay, chúng ta có thể nhận thấy tồn tại nhiều khái niệm về từ tiếng Việt.
Chúng tôi xin điểm qua một số khái niệm. Dưới đây, chúng tôi xin nêu ba định nghĩa về từ tiếng Việt: - Theo tác giả Đỗ Hữu Châu quan niệm: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [8; tr. Ở định nghĩa này, tác giả đã cho ta thấy được từ là một số âm tiết cố định, không thay đổi đặc điểm ngữ pháp, kết cấu nhất định, kết hợp lại để tạo thành câu. Tác giả đã nói lên được cấu tạo và đặc điểm ngữ pháp của nó.
- Theo Nguyễn Thiện Giáp: “Từ của tiếng Việt là một chỉnh thế nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để tạo câu nói: nó có hình thức của một âm tiết, một “chữ” viết rời [4; tr. Đối với Nguyễn Thiện Giáp, ông đã có một định nghĩa ngắn gọn và súc tích hơn, từ là một chỉnh thể nhỏ, một âm tiết, một chữ được viết rời. Ở đây tác giả đã tác giả đã có một cách nhìn tổng quát về hình thức của từ. - Theo tác giả Nguyễn Kim Thản: “Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thể tách khỏi các ngôn ngữ khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa và chức năng ngữ pháp” [dẫn 13 theo 12; tr.
Với định nghĩa này, chúng ta có thể thấy được từ có tính độc lập, không phụ thuộc, mộ mình nó đã là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa, chức năng. Chúng ta có thể thấy hiện nay tồn tại rất nhiều cách hiểu, cách định nghĩa về từ nói nói chung, cũng như từ Tiếng Việt nói riêng. Những cách hiểu đó, xuất phát từ những góc nhìn, những quan điểm khác nhau. Nhưng tựu trung lại, qua các định nghĩa trên, có thể thấy được từ tiếng Việt có những đặc điểm cơ bản sau: - Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ (tiếng Việt).
- Từ có hình thức ngữ âm cố định, bất biến và có ý nghĩa. - Từ có đặc điểm về cấu tạo và ngữ pháp. - Từ có chức năng tạo câu. Như vậy, để thuận tiện cho việc nghiên cứu, chúng tôi thống nhất cách hiểu về từ theo định nghĩa của tác giả Đỗ Hữu Châu: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu”.
Đây là định nghĩa đang được nhiều người quan tâm và sử dụng nhiều nhất. Đặc điểm của từ Tiếng Việt 1. Đặc điểm về ngữ âm Hình thức âm thanh của từ tiếng Việt cố định, bất biến ở mọi vị trí, mọi quan hệ và chức năng trong câu. Tính cố định, bất biến có mối quan hệ mật thiết với tính độc lập tương đối cao của từ tiếng Việt đối với câu, với ngôn cảnh.
Có thể nói ở các ngôn ngữ biến hình, với những mức độ khác nhau, chỉ có các “từ - cú pháp” mà không có các từ “phi cú pháp”. Các từ tiếng Việt khác hẳn. Chúng ta có từ sách nói chung, từ sách không mang trong lòng mình bất cứ một dấu vết nào của các quan hệ, các chức năng cú pháp. 14 Thuật ngữ ngôn cảnh được hiểu là hoàn cảnh ngôn ngữ trực tiếp của từ như lời nói miệng, bài, đoạn, câu và các từ ngữ khác chung quanh nó.
Cần phân biệt với ngữ cảnh là hoàn cảnh tổng quát của một hành vi giao tiếp. Trong tiếng Việt cũng như trong tất cả các ngôn ngữ khác - và có thể trong tiếng Việt thì nhiều hơn - có không ít những từ mà hình thức âm thanh gợi tả cái mà nó biểu thị: đó là các từ tượng thanh, những từ mà hình thức âm thanh của nó mô phỏng âm thanh của tự nhiên. Không kể những từ như ầm ầm, ào ào, vù vù, vi vu, róc rách, líu lo. là từ tượng thanh chân chính trực tiếp miêu tả âm thanh, các từ như (con) bò, (con) mèo, (con) chút chít (đồ chơi của trẻ em có miệng sáo); cạch (bắn súng cối: “cẩn thận không chúng nó cạch cho vài quả cối bây giờ!”) cũng là tượng thanh, mặc dù chúng chỉ toàn bộ một sự vật, hoạt động chứ không chỉ miêu tả riêng âm thanh do các sự vật, hoạt động đó phát ra.
Những từ này là “tượng thanh” được là vì thể chất vật chất của ngôn ngữ (tức thể chất âm học - thính giác) trùng làm một với toàn bộ hoặc một bộ phận thể chất vật chất của cái được biểu thị thể chất (âm thanh tự nhiên). Nói như thế cũng tức là nói: điều kiện để cho một từ có thể “gợi tả”, mô phỏng sự vật, hiện tượng là thể chất vật chất của từ phải trùng hợp với thể chất vật chất (toàn bộ hay bộ phận) của sự vật, hiện tượng. Đặc điểm về ngữ pháp Đặc điểm ngữ pháp của từ tiếng Việt không được thể hiện ở hình thức ngữ âm của từ mà chỉ biểu lộ trong cụm từ, trong câu khi từ kết hợp với các từ khác ở trước và sau nó. Ví dụ từ cây khi đứng một mình thì không có dấu hiệu nào biêu hiện đặc điểm ngữ pháp của nó.
Khi tham gia vào việc tạo câu, từ cây cũng không biến đổi hình thức ngữ âm để thể hiện các đặc điểm từ loại. Chỉ có thể biết được đăc điểm ngữ pháp của nó khi có sự kết hợp với các từ khác. Chẳng hạn trong câu Chẳng mấy chốc, mà ông đã cày xong thửa ruộng. Từ cày kết hợp với phụ từ đã ở trước chứng tỏ nó mang đặc điểm ngữ pháp 15 của động từ.
Tuy nhiên trong các tổ hợp lưỡi cày, cày chia vôi thì từ cày lại mang đặc điểm ngữ pháp của danh từ. Cùng với đặc điểm ý nghĩa, đặc điểm ngữ pháp có vai trò quyết định trong sự kết hợp từ thành cụm từ, thành câu. Nếu sự kết hợp không tương ứng với đặc điểm ngữ pháp của từ thì sẽ mắc cả lỗi dùng từ và lỗi về đặt câu. Ví dụ: Hằng ngày cô đến trường bằng bộ quần áo giản dị.
Ở câu này từ bằng dùng không đúng với đặc điểm ngữ pháp. Bằng là quan hệ thường được dùng trước danh từ biểu thị một phương tiện hay cách thức hoạt động do động từ biểu thị. Ở đây bộ quần áo không phải là phương tiện hay cách thức hoạt động đến trường mà nó được nêu ra để nói về phong cách, đức đọ của cô giáo. Do đó, dùng từ bằng là sai, phải thay bằng từ với mới phù hợp.
Có thể chữa Hằng ngày cô đến trường với bộ quần áo giản dị. Đặc điểm về cấu tạo Do trong tiếng Việt, hình vị, từ, cụm từ và câu…về mặt ngữ âm đều là những âm tiết tổ hợp âm tiết, cho nên việc nhận thức một âm tiết hoặc một tổ hợp âm tiết nào đó có phải là từ hay không có ý nghĩa cực kì quan trọng đối với việc sử dụng từ và lĩnh hội ý nghĩa của câu nói. Ví dụ: Câu sau đây: “Cái xe đạp nhẹ lắm!”. Có thể hiểu 2 cách: thứ nhất câu này vừa nhận xét đánh giá về trọng lượng của cái xe đạp, thứ hai câu này vừa nhận xét vừa đánh giá về đặc điểm vận hành của một cái xe đạp nào đấy.
Theo nghĩa thứ nhất chúng ta hiểu là cái xe đạp nặng tầm 5, 6kg trở lại.