Chương I: Cơ sở lí luận Chương II: Phương pháp nghiên cứu Chương III: Kết quả khảo sắt Chương IV: Kết luận - Phần ba: Phụ lục SVTH: TRẤN QUỐC BẢO CHAU 6 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: Th. S HOÀNG THỊ TUYẾT e & 8 4° 06 4 4 4 A &@ A ĐA S CC 4 RÐ 4 4 Ã 4 6&§ HS k ke C6 Ẩ & & ` * " v ¥ 2*.Yb1*VtwvT%® ¥ + Yt* LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S HOÀNG THỊ TUYẾT 1.1 Kĩnăng là gì? Quan điểm về "kĩ năng” cho tới nay còn có những ý kiến khác nhau song về cơ bản đã thống nhất cho rằng kĩ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để thực hiện hành động phù hợp với những mục tiêu và những điều kiện thực tế đã cho. Kĩ năng ngôn ngữ là gì? Kĩ năng ngôn ngữ là những kĩ năng nghe, nói, đọc, viết ngôn ngữ. Trong đó, kĩ năng nghe và kĩ năng đọc là những kĩ năng tiếp nhận ngôn ngữ, kĩ năng viết và kĩ năng nói là những kĩ năng tạo lập ngôn ngữ.
Mỗi kĩ năng ngôn ngữ bao gồm năng lực tổ chức và năng lực ngữ dụng. Năng lực tổ chức gém kiến thức ngữ pháp, kiến thức văn bản (Bachman,!999). Kiến thức ngữ pháp gồm những hiểu biết vé từ vựng, ngữ âm, ngữ pháp. Kiến thức văn bản là những hiểu biết ngôn ngữ ở cấp độ ngôn bản trong đó có hiểu biết vé tính tổ chức của văn bản theo những phong cách ngôn ngữ khác nhau, hiểu biết vé nghỉ thức, quy tắc kết nối các phát ngôn thành ngôn bản hoặc văn bản sao => SVTH: TRAN QUỐC BẢO CHAU 8 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S HOÀNG THỊ TUYẾT F—.
SG eS See ST ca ni cho tính mạch lạc của văn bản được thể hiện, các hiểu biết về tính tổ chức của văn bản theo các phong cách ngôn ngữ thông dụng như kể chuyện, tự sự, mô tả, khoa học, nhật dụng. Chúng ta hình thành cho học sinh các quy tắc tổ chức văn bản một cách chính thức thông qua các giờ học viết bằng cách giúp các em biết cách sắp xếp trật tự thông tin trong đoạn: câu chủ dé, câu chi tiết hoá chủ dé, kết luận, câu chuyển ý. Những quy tắc khác không được dạy chính thức trong giờ dạy viết hoặc vì chúng không được hiểu day đủ, hoặc đơn giản vì chúng phức tạp quá đến nỗi khó dạy được. Chúng ta hình thành cho học sinh kĩ năng liên kết văn bản sao cho chặt chẽ, mạch lạc bằng một số biện pháp làm tường minh những mỗi quan hệ ngữ nghĩa trong ngôn bản như là phương pháp quy chiếu, thay thế, tỉnh lược, dùng liên từ, liên kết dựa trên ngữ nghĩa cũng như những quy tắc chi phối việc sắn xếp trật tự của thông tin cũ và mới trong ngôn bản.
Năng lực ngữ dụng thuộc vé quá trình tổ chức các kí hiệu ngôn ngữ được dùng trong giao tiếp và cách thức dùng những kí hiệu này để chỉ người, vật, để thể hiện ý tưởng và cảm xúc. Có nghĩa là những khả năng ngữ dụng liên quan đến mối liên hệ giữa các kí hiệu ngôn ngữ và các yếu tố tham chiếu. Trong việc sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp, ở mặt này là những mối quan hệ giữa các kí hiệu và các tham chiếu, ở mặt còn lại là những mối quan hệ giữa người sử dụng ngôn ngữ và ngữ cảnh giao tiếp. Cả hai mặt có tim quan trọng như nhau, những mối quan hệ sau tạo nên lĩnh vực ngữ dung học (Bachman,1999), SVTH: TRẤN QUỐC BẢO CHAU 9 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S HOANG THỊ TUYẾT _.
Kĩnăng viết là gì? Viết là một kĩ năng lời nói phức tạp. Đó là hoạt động sản sinh khi người ta ghi lại lời nói để truyền đạt cho người khác. Sản phẩm của hoạt động này là văn bản viết.Lê-ôn-chép thì bất cứ hoạt động nào của con người cũng đều có ba giai đoạn: ® Giai đoạn |: Hình thành động cơ. ® Giai đoạn 2: Khảo sắt định hướng.
® Giai đoạn 3: Thực hiện. Văn viết ở giai đoạn một - giai đoạn hình thành động cơ - nằm trong mối tương quan qua lại phức tạp giữa nhu cầu của người viết và chủ để của để tài. Người ta thường cẩm bút khi có một động lực nào đó thúc đẩy, Giai đoạn này trong văn viết được gọi là sự hoà hợp giữa động lực và ý đổ giao tiếp, trong đó, động lực sẽ xác định tính chất của hoạt động viết, còn ý dé giao tiếp thể hiện mục đích giao tiếp mà người viết đặt ra. Ở giai đoạn này người viết mới chỉ phác thảo ý đỗ chung, mục tiêu chung.
Giai đoạn hai của hoạt động viết là trù tính việc lựa chọn và tổ chức các phương tiện thực hiện hoạt động viết. Để thực hiện hoạt động viết ở giai đoạn này, người viết tiến hành việc lựa chọn các phương tiện và phương thức hình thành, diễn đạt ý tưởng của chính mình hoặc của người khác. Chính ở giai đoạn này, phát ngôn được hình thành. Những ý nghĩ mà người viết hoạch định sẵn ở giai đoạn một được thể hiện ra bằng phương tiện ngôn ngữ ở giai đoạn hai này.
Coenen SVTH: TRAN QUOC BAO CHAU 10 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S HOANG THỊ TUYẾT SS a a A Giai đoạn này được chia thành hai bước: bước một hình thành ý nghĩ, và bước hai diễn đạt ý nghĩ. Bước một tạo dựng và phát triển ý đổ chung của người viết, hình thành bộ khung vé ý và lô gích của phát ngôn. Bước này thể hiện toàn bộ kinh nghiệm, kiến thức, sự nhạy cảm ngôn ngữ của người viết. Bước hai tiếp theo là bước trình bày bố cục phát ngôn trên phương diện ngữ pháp.
Giai đoạn ba của hoạt động viết là giai đoạn thực hiện. Văn viết bao giờ cũng là một quá trình sản sinh lời nói bằng những phương tiện ngôn ngữ được thể hiện ra bên ngoài. Khi giai đoạn ba kết thúc, chúng ta bao giờ cũng có được một sản phẩm cụ thể - đó là một văn bản viết. Vậy là, văn viết như một dạng của hoạt động lời nói được bắt đầu từ ý đồ, ý đổ này được xác định bởi nhu cầu giao tiếp.
Ý 44 chính là thiết kế sơ bộ ban đầu của toàn bộ phát ngôn, toàn bộ văn bản. Thoạt đầu thì ý 46 được giới hạn bởi một ý tưởng nhất định, sau này nó được tổ chức thành câu, từ câu phân định ra các từ cần phải viết ra. Ở cấp độ này, người viết chỉ biết ở cấp độ chung. Sau đó, người viết phải thể hiện ý tưởng của mình bằng phương tiện ngôn ngữ, phải xác định được cái gì đã được viết và cái gì cần phải viết.
Không có cái đó thì mỗi lần dừng lại trong khi viết sẽ phá vỡ toàn bộ tính logic của văn bản, phá vỡ ý dé chính của tác giả. Trên cơ sở những phác hoạ về cấu trúc của hoạt động viết, chúng ta có thể đưa ra một sơ dé sản sinh lời nói trong văn viết. Đó SVTH: TRẤN QUỐC BẢO CHÂU rT LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S HOÀNG THỊ TUYET —— là: mô tip > ý chủ đạo > dàný > triển khai từ vựng, ngữ pháp> thực hiện viết > sản phẩm. Sơ đổ này tương ứng với mô hình day viết.
Trong sơ đổ này hội tụ toàn bộ hoạt động của cơ chế lời nói phức tạp, nghĩa là tổ chức ting bậc, các giai đoạn sản sinh lời nói. Diéu đó rất quan trọng cho việc dạy viết. Nó cho phép chúng ta có cơ sở để tổ chức tốt và có hiệu quả quy trình dạy viết, tránh được tình trạng phổ biến xưa nay chúng ta vẫn làm mỗi khi day kĩ năng này là yêu câu học viên viết lại bài sau hai, ba lần nghe hoặc đưa ra một chủ để bất kỳ nào đó và để học viên tự xử lý, muốn viết gì thì viết và muốn viết thế nào thì viết. Trong nhà trường, kĩ năng viết của học sinh thể hiện ở khả năng viết thành văn bản với các để tài tập làm văn theo nhiều thể loại khác nhau như miêu tả, kể chuyện, tường thuật, viết đơn từ.
Kĩ năng viết văn là một trong bốn kĩ năng sử dụng ngôn ngữ cần rèn luyện cho học sinh trong môn Tiếng Việt ở tiểu học. Kĩ năng viết văn bao gồm nhiều mặt, nhiều khía cạnh. Đó là các kĩ năng viết chữ, kĩ năng viết chính tả, kĩ năng dùng từ, kĩ năng đặt câu, kĩ năng tạo lập văn bản. Xét tương quan giữa các kĩ năng này, chúng ta thấy kĩ năng viết chữ, viết chính tả, dùng từ, đặt câu là kĩ năng bộ phận, là công cụ của kĩ năng tạo lập văn bản.
Kĩ năng viết văn thiên về kĩ năng trí tuệ, đòi hỏi khả năng vận dụng ngôn ngữ để diễn đạt tư tưởng. Làm văn mang tính tổng hợp và sáng tạo. Vì khi làm văn, ta cần tận dụng các kiến thức về cách viết chữ, cách dùng từ, cách đặt câu, cách xác định chủ dé, cách xây dựng bố cục, cách tìm ý, cách diễn đạt ý, đồng thời —mmmmmmmmmmmmmmmmammmmmmmmmmmmmmmmmmaann SVTH: TRẤN QUỐC BẢO CHÂU 12 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S HOÀNG THỊ TUYẾT góp phần rèn luyện và phát triển thêm các kiến thức đó. Ở tiểu học, kĩ năng viết văn được gọi là kĩ năng tập làm văn.
Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi xin dùng thuật ngữ thống nhất là kĩ năng viết văn, chứ không gọi là kĩ năng làm văn. Kĩnăng viết văn miêu tả là gì? Theo Dao Duy Anh trong Hán Việt tự điển, miêu tả là “ lấy nét vẽ hoặc câu văn để biểu hiện cái chân tướng của sự vật ra”. Phạm Hổ, một nhà văn có tài miêu tả, đã giải thích: " Miêu tả giỏi là khi đọc những gì chúng ta viết, người đọc như thấy những cái đó hiện ra trước mắt mình: một con người, một cảnh vật, một dòng sông. người đọc có thể nghe thấy được tiếng nói, tiếng kêu, tiếng nước chảy.
Thậm chí còn ngửi được mùi mổ hôi, mùi sữa, mùi hương hoa hay mùi rêu. Nhưng đó mới chỉ là miêu tả bên ngoài. Còn sự miêu tả bên trong nữa, nghĩa là miêu tả về tâm trạng vui, buồn, yêu.ghét của con người, cỏ cây. Tại sao viết là một kĩ năng khó? Theo Don Byme, 1998, viết văn là một kĩ năng khó rèn luyện, khó trở nên thành thạo đối với người học ngôn ngữ vì một số lí do sau đây: e Khác với khi nói, cuộc giao tiếp diễn ra trong một ngữ cảnh sẵn có; khi viết, người viết phải hình dung ra ngữ cảnh.