Đặt vấn đề Chăn nuôi gia cầm là ngành có truyền thống lâu đời ở nước ta. Chăn nuôi gia cầm không chỉ cung cấp nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, mà còn được đánh giá là ngành đem lại nguồn thu nhập cao, ổn định cho nhiều hộ nông dân. Ở Việt Nam hiện nay, chăn nuôi gà thịt ngày càng được đẩy mạnh và phát triển rộng khắp trong phạm vi cả nước từ thành phố, tỉnh, huyện đến các hộ nông dân. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng về sản phẩm thịt gà như: Thịt chắc, thơm ngon, không có thuốc kháng sinh.v mặt khác các giống gà thịt đó phải phát huy tốt tiềm năng về chăn nuôi trong điều kiện chăn thả, bán chăn thả với quy mô vừa và nhỏ ở nông hộ Việt Nam, thì chúng ta phải đặc biệt chú trọng tới công tác giống.
Năm 1996,Việt Nam đã nhập một số giống gà lông màu thả vườn có năng suất khá cao, chất lượng thịt tốt, hợp thị hiếu của người tiêu dùng và thích hợp với điều kiện chăn nuôi bán công nghiệp như gà Kabir của Isarel, gà Tam Hoàng, gà Lương Phượng của Trung Quốc. Trong đó có giống gà lông màu ISA Brown do hãng Sasso của Pháp tạo ra. Qua gần 30 năm nghiên cứu chọn lọc, nhân giống và lai tạo, hiện nay gà ISA Brown được rất nhiều quốc gia trên khắp năm châu ưa chuộng. Nước ta đã nhập giống gà ISA Brown có những đặc tính quý như có khả năng thích nghi cao với điều kiện nóng ẩm, sức đề kháng tốt, chất lượng thịt thơm ngon phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, thích hợp với nhiều phương thức chăn nuôi như: Nuôi nhốt, bán chăn thả, chăn thả.
Xuất phát từ thực tiễn trên, được sự nhất trí của Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y và tập thể thầy cô hướng dẫn, tôi tiến hành thực hiện đề tài: 2 “Khảo sát khả năng sinh sản của gà ISA Brown nuôi tại trang trại thuộc thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội”. Mục đích nghiên cứu - Đánh giá khả năng sinh sản của giống gà ISA Brown nuôi trong trang trại tại thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá khả năng sản xuất của gà mái giai đoạn đẻ trứng thương phẩm ISA Brown. - Xác định hiệu quả chăn nuôi gà đẻ trứng thương phẩm ISA Brown trong điều kiện chăn nuôi tại thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
Ý nghĩa khoa học - Nghiên cứu đánh giá về một số đặc điểm sinh trưởng, phát triển và khả năng sản xuất của gà trứng giống thương phẩm ISA Brown nuôi tại Việt Nam, làm tài liệu phục vụ cho công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học. - Cung cấp thêm thông tin cho các cơ sở sản xuất, các nhà chăn nuôi trong việc định hướng lựa chọn sản xuất. Ý nghĩa trong thực tiễn - Góp phần xây dựng quy trình chăn nuôi thích hợp cho gà trứng thương phẩm ISA Brown trong thực tế sản xuất. 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học 2. Khả năng sinh sản của gia cầm và các yếu tố ảnh hưởng 2. Khả năng sinh sản của gia cầm Để duy trì sự phát triển của đàn gia cầm thì khả năng sinh sản là yếu tố cơ bản quyết định đến quy mô, năng suất và hiệu quả sản xuất đối với gia cầm. Sản phẩm chủ yếu là thịt và trứng, trong đó sản phẩm trứng được coi là hướng sản xuất chính của gà hướng trứng.
Còn gà hướng thịt (cũng như gà hướng trứng) khả năng sinh sản hay khả năng đẻ trứng quyết định đến sự phân đàn di truyền giống mở rộng quy mô đàn gia cầm. Sinh sản là chỉ tiêu cần được quan tâm trong công tác giống của gia cầm. Ở các loại gia cầm khác nhau thì đặc điểm sinh sản cũng khác nhau rõ rệt. Trứng là sản phẩm quan trọng của gia cầm, đánh giá khả năng sản xuất của gia cầm người ta không thể không chú ý đến sức đẻ trứng của gia cầm.
Theo Brandsch và Bilchel (1978) [9] thì sức đẻ trứng chịu ảnh hưởng của 5 yếu tố chính. Tuổi đẻ đầu hay tuổi thành thục. Chu kỳ đẻ trứng hay cường độ đẻ trứng. Tần số thể hiện bản năng đòi ấp.
Thời gian nghỉ đẻ, đặc biệt là nghỉ đẻ mùa đông. Thời gian đẻ kéo dài hay chu kỳ đẻ (hay tính ổn định sức đẻ). Các yếu tố trên có sự điều khiển bởi kiểu gen di truyền của từng giống gia cầm. Để đánh giá khả năng sinh sản của đàn gà hay của một dòng gà nào đó thì người ta dựa vào những chỉ tiêu sau: Tuổi đẻ đầu Tuổi đẻ quả trứng đầu là thời điểm đàn gà đã thành thục về tính.
Tuổi 4 đẻ đầu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như loài, giống, hướng sản xuất, kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng, các yếu tố môi trường đặc biệt là thời gian chiếu sáng. Thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc đẩy gia cầm đẻ sớm. Sự thành thục về tính sớm hay muộn còn liên quan chặt chẽ đến khối lượng cơ thể, cũng như sự hoàn thiện các cơ quan bộ phận của cơ thể. Những giống gia cầm có tầm vóc nhỏ thường có tuổi thành thục sớm hơn những giống gia cầm có tầm vóc lớn.
Trong cùng một giống, cơ thể nào được nuôi dưỡng, chăm sóc tốt, điều kiện thời tiết khí hậu và độ dài ngày chiếu sáng phù hợp sẽ có tuổi thành thục sinh dục sớm hơn. Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh tuổi thành thục sinh dục sớm là trội so với tuổi thành thục sinh dục muộn. Đối với một đàn gà cùng lứa tuổi thì tuổi đẻ quả trứng đầu tiên là thời điểm tại đó đàn gà đạt tỷ lệ đẻ 5 %. Tuổi đẻ quả trứng đầu rất quan trọng vì nó có thể quyết định đến sản lượng trứng sau này của đàn gà.
Theo Hays (dẫn theo Brandsch và Bilchel, 1978) [9] thì những gà có tuổi đẻ quả trứng đầu lớn hơn 245 ngày cho sản lượng trứng thấp hơn những gà có tuổi đẻ quả trứng đầu nhỏ hơn 215 ngày là 6,9 quả. Sản lượng trứng Sản lượng trứng của một gia cầm mái là tổng số trứng đẻ ra trên một đơn vị thời gian. Đối với gia cầm thì đây là chỉ tiêu quan trọng, nó phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt động của hệ sinh dục. Sản lượng trứng là một tính trạng số lượng nên nó phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh.
Sản lượng trứng được đánh giá qua cường độ đẻ và thời gian kéo dài sự đẻ. + Tỷ lệ đẻ đây là chỉ tiêu đánh giá sức đẻ trứng của đàn gia cầm. Đỉnh cao của tỷ lệ đẻ có mối tương quan với năng suất trứng. Giống gia cầm nào có tỷ lệ đẻ cao và kéo dài trong thời kỳ sinh sản, chứng tỏ là giống tốt, nếu chế độ dinh dưỡng đảm bảo thì năng suất sinh sản sẽ cao.
+ Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trong một thời gian nhất định. Cường độ này được xác định theo khoảng thời gian 30 ngày hoặc 60 ngày hoặc 100 ngày trong giai đoạn đẻ. 5 Theo Card (1977) [12] thì quần thể gà mái cao sản đẻ theo quy luật. Cường độ đẻ trứng cao nhất vào các tháng thứ 2, thứ 3, sau đó giảm dần cho đến hết năm đẻ.
Theo Mack (1991) (dẫn theo Nguyễn Thị Thanh Bình, 1998) [1]: Đối với gà cao sản đồ thị đẻ trứng tăng nhanh từ khi bắt đầu đẻ đến tuần 24. Đạt 50 % và đỉnh cao từ tuần 27 - 28, đến 35 tuần đạt > 90 %, sau đó giảm dần và giữ được 60 - 65 % ở tuần thứ 76. Khi cường độ đẻ giảm nhiều gà thường hay biểu hiện bản năng đòi ấp. Sự xuất hiện bản năng đòi ấp phụ thuộc nhiều vào yếu tố di truyền vì ở các giống khác nhau có bản năng ấp khác nhau.
Điều này chịu ảnh hưởng nhiều bởi yếu tố như: Nhiệt độ, ánh sáng, dinh dưỡng. Theo Brandsch và Bilchel 1978 [9] thì nhiệt độ cao và bóng tối kích thích sự ham ấp, đồng thời yếu tố gen chịu tác động phối hợp giữa các gen thường và gen liên kết giới tính. + Thời gian kéo dài sự đẻ có liên quan đến chu kỳ đẻ trứng. Chu kỳ đẻ kéo dài hay ngắn phụ thuộc vào cường độ và thời gian chiếu sáng.
Đây là cơ sở để áp dụng chiếu sáng nhân tạo trong chăn nuôi gà đẻ. Thời gian nghỉ đẻ ngắn hay dài có ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng trứng cả năm. Gà thường hay nghỉ đẻ mùa đông do nguyên nhân giảm dần về cường độ và thời gian chiếu sáng tự nhiên. Ngoài ra sự nghỉ đẻ này còn do khí hậu, sự thay đổi thức ăn, chu chuyển đàn.
Là một tính trạng số lượng có hệ số di truyền cao, do đó người ta có thể cải thiện di truyền bằng cách chọn lọc giống. Trong chọn lọc cần chú ý tới chỉ số trung bình chung. Theo Levie và Tailor (1943) (dẫn theo Phạm Minh Thu, 1996) [7] cho rằng: Thời gian kéo dài đẻ trứng là yếu tố quyết định đến sản lượng trứng. Tuy nhiên, mốc xác định thời gian đẻ để tính sản lượng trứng còn nhiều ý kiến và nó phụ thuộc vào nhiều nước khác nhau.
6 Khối lượng trứng Khối lượng trứng là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng trứng giống, tỷ lệ nở, chất lượng và sức sống của gà con. Ngoài ra khối lượng trứng còn phụ thuộc vào giống, khối lượng cơ thể, tuổi đẻ và chế độ dinh dưỡng. Trứng gia cầm khi bắt đầu đẻ nhỏ hơn trứng gia cầm lúc trưởng thành (dẫn theo Trần Huê Viên, 2001) [8]. Theo Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân (1998) [3] trong cùng một độ tuổi thì khối lượng trứng tăng lên chủ yếu do khối lượng lòng trắng lớn hơn nên giá trị năng lượng giảm dần.
Khối lượng gà con khi nở thường bằng 62 % - 78 % khối lượng trứng ban đầu. Khối lượng trứng của các loại giống khác nhau thì khác nhau. Ranch (1971) (dẫn theo Nguyễn Thị Thanh Bình, 1998) [1] cho rằng: Khối lượng trứng tăng dần đến cuối chu kỳ đẻ, khối lượng trứng và sản lượng trứng thường có hệ số tương quan âm. Theo JanVa (1967) (dẫn theo Nguyễn Thị Thanh Bình,1998) [1], xác định hệ số này là - 0,11.
Khối lượng trứng cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở. Theo OrLov (1974) [16] thì trong số trứng của cùng một gà mẹ đẻ ra, những trứng có khối lượng trung bình cho tỷ lệ nở cao hơn những trứng có khối lượng quá lớn hoặc quá nhỏ.